Xem bản đầy đủ : Truyện phật giáo tổng hợp!
Quảng Nghiêm
06-02-2009, 12:28
Thuận Nghịch
Trích trong tập truyện Phật Giáo: Vô Minh Từ Ðâu Ra? - Như Thủy
Cu Bi là con trai của một ông Cả. Ông rất cưng chìu nên suốt ngày nó chỉ biết ăn chơi và khóc nhè.
Một hôm, rong bờ ruổi bụi thế nào mà Cu Bi lọt phải vào một bụi tre gai. Bi la khóc ầm ĩ, chó Vá chạy quanh và tìm cách cứu bạn nhưng vô ích.
Vá đành về nhà báo tin cho ông Cả hay. Ðược tin ông Cả tức tốc đi ngay đến bụi tre. Nhưng ông cũng đành bó tay vì hễ động đậy mấy cành tre là Cu Bi khóc in ỏi.
Ông Cả chỉ còn nước xách cà mèn ngày ba bữa đến bụi tre nuôi Cu Bi.
Thời may, hôm ấy có chú Tư ở Sài Gòn về thăm nhà. Chú liền đi với ông Cả đến thăm Cu Bi. Gặp nó, chú Tư liền nghĩ ra một kế. Chú Tư bảo ông Cả về trước, còn chú ở lại để kể chuyện cho Cu Bi nghe, vì nó rất khoái mục nầy.
Chuyện rằng:
"Có một con ma cà rồng mắt đỏ, lưỡi xanh, nanh dài, chuyên môn ăn thịt con nít. Mỗi khi bắt được đứa nào, nó liền bỏ ba hột muối lên đầu đứa bé và nhai rào rạo ..."
Chú Tư còn kể thêm:
"Nghe đâu nó mới xuất hiện và nhai hơn một chục đứa ở xóm trên."
Kể xong, chú Tư bỏ về, mặc cho Cu Bi ré khóc in ỏi. Vừa đi được vài bước, chú Tư đã nghe tiếng chân Cu Bi rượt theo.
Hai chú cháu cùng về nhà, chó Vá vui mừng vô kể.
Lời bàn
Bạn thân mến,
Chúng ta đã hiện diện trên cõi đời này chẳng khác nào Cu Bi lọt phải bụi tre gai.
Ông Cả, con chó Vá, và ngăn cà men tốt bụng quả là những thuận cảnh rất cần thiết cho bọn mình, nhưng những nghịch cảnh như chú Tư, và con ma cà rồng cũng không hẵn là vô ích.
Vậy thì bọn mình có nên vòng tay cám ơn tất cả những điều trái tai, gai mắt, rối trí, khổ lòng mà cuộc đời không ngớt dồn dập trao tặng hay không?
HẾT
Quảng Nghiêm
06-02-2009, 12:30
Một Vị Phật Khai Sinh
Huỳnh Trung Chánh:
Lê lết từng bước, gánh đôi nước thứ mười trong ngày về đến chuồng heo bên hông nhà, thì sức lực bé Liên cùng đã rã rời. Em thở hổn hển lấy sức, khỏa nước rửa mặt, đoạn vốc một bụm đưa lên miệng uống ừng ực. Ngụm nước giếng mát lạnh lên vào tạng phủ, như một chất thuốc bổ kỳ diệu, phục hồi cho em phần nào sinh lực. Em đã phải gánh nước liên tục để làm tròn công việc tắm rửa heo và quét dọn chuồng sạch sẽ mà mẹ đã giao phó. Ðoạn đường lấy nước giếng không xa, nhưng bé mới 12 tuổi, thể chất gầy gò, chân tay ngắn ngủn yếu ớt, mà phải chịu đựng chiếc đòn gánh dài thòng, đong đưa cặp thùng nước nặng trĩu, trên lối đi trơn trợt quả là một cực hình. Gánh nước về, bé lại phải kỳ cọ tắm rửa cả bầy heo sáu con mập ú, rồi lại phải quét dọn chuồng sạch sẽ, gom hốt hết mớ cặn bã hôi thúi mang đổ ra cái hố sau nhà. Sau mấy giờ chật vật, bé mới có thể nhàn nhã đứng tựa vào cột chuồng heo ngắm nhìn công trình của mình, vừa thò tay vào túi lấy củ khoai luộc, bóc vỏ nhai ngon lành.
Thình lình, có tiếng la thé:
- Con quỉ làm biếng! dọn chuồng không lo, đứng đực ra đó làm gì?
Liên nuốt vội mẩu khoai cuối cùng, chùi mép, rồi lên tiếng:
- Thưa má! con đã làm xong rồi!
Bà mẹ liếc nhanh về hướng chuồng heo kiểm soát, rồi mới xoay qua con, gầm gừ:
-Mầy nhai giống gì đó? ăn cắp ở đâu vậy?http://www.vietnamphatquoctu.net/Backup/Web/Lumbini_Unicode/i/s.gif
-Dạ! dạ! Con đâu dám ăn cắp. Củ khoai nầy chị Hồng cho con! tự ý chỉ cho chứ con không có xin xỏ gì hết má ạ!http://www.vietnamphatquoctu.net/Backup/Web/Lumbini_Unicode/i/s.gif
- Bốp! bốp!
Liên bị mẹ tán cho hai tát tay, đập đầu vào cột xi măng xiểng niểng, mà chỉ dám rưng rưng nước mắt, chứ không dám nứt nở thành tiếng. Kinh nghiệm dạy bé Liên rằng khóc to thì mẹ sẽ điên tiết, đòn bộng gia tăng gấp bội. Em chỉ thút thít vang lơn:
- Con xin lỗi má! con không dám như vậy nữa!
Bà mẹ gằng từng tiếng:
-Nè tao đã dặn: 'Ở nhà có thì ăn, không có thì nhịn! cấm tuyệt không được không được ăn chực, ăn xin', mà tại sao mày lại đi xin ăn làm xấu hổ tao vậy hả?
Liên chỉ biết co rút người lại, tiếp tục điệp khúc van lơn:
-Con lạy má! con lỡ dại! con xin lỗi má!...
Bà mẹ chụp lấy cái đòn gánh, tưởng chừng sẽ phang con bé vài hèo nữa, nhưng có lẽ hài lòng với cái chuồng heo sạch sẽ, nên hồi tâm, chỉ nhịp đòn gánh lên đầu con mấy cái, rồi lên tiếng:
-Bỏ tật đó nghe không? Chuyện mầy ăn chực mà đến tai tao lần nữa, thì tao đập nát thây đó nhe!...
Ðang hùng hồ la con, bỗng dưng nhớ đến chuyện gì, bà dịu nét mặt, lên tiếng:
-Nè! mầy chạy lại nhà bà Huế, hỏi cái ni cô Công Tằng xem bả mời tao dự lễ Phật Ðản ngày nào? tao quên mất rồi!
Không ngờ cái vụ Phật Ðản lại cứu mạng mình, bé Liên mừng rỡ 'ba giò bốn cẳng' chạy một mạch đến nhà bà Huế. Nhìn cánh cửa khép im lìm, lại nghe tiếng thì thầm là lạ trong nhà, ngó quanh bốn bề vắng vẻ, Liên bỗng cảm thấy ớn lạnh, nên đứng sựng lại. Bà Huế mới chết chừng ba tháng nay, tiếng thì thầm là tiếng người hay ma, Liên muốn lên tiếng kêu cửa mà sợ hãi hai hàm răng cắn chặt, không mở thành lời được.
Bà Hai Huế tên thật là gì không mấy ai biết rõ! Bà lưu lạc đến Khánh Hậu lâu đời, khi cô con gái nhỏ xíu mà lại có tên dài sọc là Công Tằng Tôn Nữ Thị Phương Khanh, chưa tròn tuổi thôi nôi. Khi tiếp xúc với bà, dân địa phương chợt nghe cái giọng trọ trẹ nặng chình chịch, kèm với những tiếng bí hiểm 'mô, tê, răng, rứa' điếc đặc cả tai, tưởng bà là người ngoại quốc. Ðến chừng biết bà chánh gốc là dân cố đô Huế, họ ùa nhau gọi bí danh bà là Huế cho 'tiện bề sổ sách'. Thân gái cô đơn sứ người, vậy mà chỉ trong một thời gian ngắn, với nồi bún bò cai thấu trời mây chinh phục dễ dàng khẩu vị người dân địa phương, bà Huế bắt đầu tạo dựng được nếp sống vững vàng tại chốn này. Bà tậu được ngôi nhà xin xắn tại xóm lăng Nguyễn Huỳnh Ðức, và thừa sức lo cho cô con gái ăn học tại Sàigòn. Bà Huế hãnh diện về cô con gái học hành xuất sắc cấp đại học không được bao lâu, bỗng choáng váng điên đầu khi cô con trở chứng đòi cạo đầu đi tu. Dĩ nhiên, lúc đầu bà Huế cũng lồng lộng chống đối cản ngăn, vậy mà, cuối cùng thấy con tha thiết quá, bà cũng phải xiêu lòng. Có một dạo, bà Huế háo hức tuyên bố với bà con xóm giềng rằng bà đã chiêm nghiệm được lý vô thường và chán ngán cuộc đời tạm bợ vô nghĩa nầy, nên 'dọa' sẽ bỏ tất cả để cùng cô con tầm sư học đạo. Lời dọa nầy ngay dân nghiền búng bò cũng chẳng ai sợ tí nào, nhứt là khi mụ sáu Lé, ngụ sát vách nhà bà, te rẹt khắp làng trên xóm dưới, cười ngắt nghẻo tố cáo:
-Dì Hai hả! Bả mà dám đi tu thì tui cùi sức móng cho bà con coi! Nè! mỗi năm dì long trọng tuyên bố ăn chay có ngày mùng một, vậy mà vừa mớichạng vạng đã thấy bà lục đục bắt gà nấu cháo! Tu theo bả là 'tu hú' đó mà!
Không tu được, bà Hai Huế đành sống thui thủi một mình cho đến ngày, đang mạnh cùi cụi, bỗng ngã bệnh liệt giường. Sư cô Công Tằng - đúng ra pháp danh cô là Quảng Hạnh, mà dân quê lại cứ mang máng nhớ thành 'hoảng hồn, hoảng hốt' gì đó, lộn xộn quá chừng, bèn cứ gọi sư cô là Công Tằng, cái tên quen thuộc từ thuở cô còn bé tí ngày xưa cho dễ - vội vã về nhà chăm sóc cho mẹ. Hai tháng sau thì bà Hai qua đời. Tang ma mẹ xong, sư cô xin bổn sư cho ở lại nhà một năm để tiện tụng niệm vãng sanh và chăm nôm săn sóc mộ phần mẹ. Sư cô cũng nhân dịp nầy tạo duyên Phật Pháp cho bà con lối xóm: tạm biến ngôi nhà thành một niệm Phật đường nhỏ, mời cô bác đến tụng kinh, lễ Phật để tùy duyên hướng dẫn họ vài giáo lý căn bản Phật giáo.
Trưa hôm đó, sư cô vừa mới chấm dứt thời kinh, nhìn qua khe cửa thấy dáng bé Liên lấp ló, vội bước ra nắm tay em đưa vào nhà. Bé Liên lấp vấp lên tiếng:
- Sư cô à! Má con dặn con hỏi sư cô mời Phật Ðản ngày nào, con phải về trả lời liền kẻo má trông!http://www.vietnamphatquoctu.net/Backup/Web/Lumbini_Unicode/i/s.gif
- Phật Ðản tổ chức vào ngày mai con à! Ơ! khoan về đã! con hãy vào nhà chờ cô một chút, cô cùng đi với con, có cô con đừng lo!
Sư cô xót xa nhìn mặt mũi thê thảm của con bé. Cô nhúng khăn ướt lau mặt, thoa dầu lên vết sưng mười ngón tay còn in trên gò má, đắp nước muối lên cục u trên đầu, rồi như một bà mẹ hiền, sư cô lại ân cần đem bánh trái ép em ăn.
Sư cô dịu dàng dễ thương quá, bé Liên cảm động đón nhận tình thương của sư cô, rồi bỗng rụt rè lên tiếng:
- Tại sao sư cô lại đi tu vậy?http://www.vietnamphatquoctu.net/Backup/Web/Lumbini_Unicode/i/s.gif
- Cả đời má sư cô phải cam chịu biết bao nhiêu điều khổ sở, sư cô thương quá muốn đi tu để tìm đường thoát khổ và cũng để độ má sư cô thoát khổ nữa!http://www.vietnamphatquoctu.net/Backup/Web/Lumbini_Unicode/i/s.gif
- Sư cô à! con cùng muốn đi tu như sư cô vậy đó!http://www.vietnamphatquoctu.net/Backup/Web/Lumbini_Unicode/i/s.gif
- Con muốn đi tu để làm gì?http://www.vietnamphatquoctu.net/Backup/Web/Lumbini_Unicode/i/s.gif
-Cả đời má con cũng khổ sở quá chừng hà! con muốn đi tu để độ má con hết khổ cũng giống như sư cô vậy!
Sư cô ngạc nhiên không ngờ con bé bị mẹ hành hạ tàn nhẫn, mà vẫn thương mẹ không chút oán hờn. Mà hành vi độc ác của mụ Tám bánh tầm bì thì đâu có vừa gì! Cả xã Khánh Hậu nầy ai chẳng kêu rêu bất mãn. Họ lên án, oán trách mụ Tám đã bắt bé Liên nghĩ học từ năm lớp bốn, để ở nhà lãnh hết mọi công việc nặng nhẹ trong ngoài, từ việc nấu cơm, gánh nước, giặt giũ, cho đến những công tác dơ dáy ở chuồng gà, chuồng heo. Ba giờ sáng con bé đã bị dựng dậy để se bánh tầm cho kịp giờ bán điểm tâm, tối mịt em vẫn còn phải lốc cốc xách thùng đi khắp xóm sớt cơm thiu, canh cặn về bổ dưỡng thêm cho bầy heo háu ăn. Hành con bé làm việc bù đầu suốt ngày vẫn chưa hả nư, mụ Tám bỏ bê con bé đói rách xác xơ, chửi mắng thô tục nặng nề và đánh đập nó tàn nhẫn như đối với kẻ tử thù. Ðiều làm kẻ bàng quan bất mãn hơn nữa, là chị bé Liên tên Thảo, lại được mụ Tám cưng yêu chìu chuộng tột bực, ăn ngon, mặc đẹp đi học, không phải động móng tay, vì chỉ cần ọ ẻ thì đã có đứa em nai lưng ra phục dịch rồi. Sư cô thầm nguyện tìm phương kế giải tai ách cho bé Liên nên đã đích thân lân la đến thăm mụ Tám ba lần, cố gắng gieo hạt giống thương yêu hiểu biết vào tâm mụ, hai người luận bàn vui vẻ đủ mọi đề tài đạo và đời, nhưng mấy lần ấp úng đắng đo, sư cô vẫn chưa dám khơi vụ bé Liên ra nói được. Mụ Tám có tính quái đản là mỗi khi nghe ai lưu tâm đến bé Liên hay khuyên lơn cản ngăn mụ thì mụ lại đập con bé dữ tợn hơn nữa. Chị ruột của mụ, thương hại cháu, ngõ lời xin cháu làm con nuôi, chẳng những mụ Tám phản đối, mà bé Liên bị đòn nát bét mông đít và bị đay nghiến, bỏ đói cả ngày. Lần này, đi theo bé Liên để gặp mụ Tám, sư cô quyết tâm sẽ đề cập thẳng vào điều muốn nói, vậy mà, sư cô nghĩ ngợi rối cả ruột cũng chưa biết phải bắt đầu làm sao cho ổn...
Sư cô đi khoan thai quá khiến bé Liên bồn chồn lo lắng. Khi còn cánh nhà chừng năm mươi thước, con bé sốt ruột vuột tay sư cô chạy một mạch về trước, hổn hển báo cáo: 'Má ơi! sư cô nói ngày mai'.
Sư cô bỗng nghe tiếng hét:
- Ðồ quỉ cái! Sao ân hoàn dịch lệ' không vật mầy chết cho tao nhờ! Từ đây đến nhà bà Hai Huế gần xịt, mà mầy 'chết liệt' đi đâu mất không chịu về liền!
Nghĩ đến an nguy của bé Liên, sư cô không thể đủng đỉnh giữ 'oai nghi' của người tu sĩ nửa. Sư cô chạy vội đến nhà mụ Tám, hấp tấp lên tiếng:
- Cái vụ nầy, vụ về trễ nầy do lỗi của tôi đó chị Tám! Tôi giữ cháu lại để cùng đi đường cho có bạn, chị ạ!
Mụ Tám đon đả:
-Chào sư cô! Mời sư cô vào nhà chơi!
Rồi xoay qua con mụ hất hàm ra lịnh:
-Ra sau xắt chuối cho heo ăn đi mầy!
Mụ Tám vốn bị xóm giềng tẩy chay, nay được sư cô viếng thăm nói chuyện, nên dễ sanh cảm tình, mặc dù, thật ra mụ chẳng mấy ưa các câu chuyện đạo lý ngán ngẩm của sư cô. Có lẽ, hơi sượng sùng về lời chửi mắng con quá ư thô lỗ của mình, vừa hướng dẫn sư cô vào nhà, mụ Tám vừa phân bua:
- Cái con bé nầy coi vậy mà ương ngạnh lắm sư cô ạ! Tôi mà lơ mơ thì nó 'quậy' nát tan cái nhà nầy như chơi hà!http://www.vietnamphatquoctu.net/Backup/Web/Lumbini_Unicode/i/s.gif
-Bé Liên mặt mũi trông hiền mà, chắc không đến nỗi khó dạy đâu chị Tám! Ðôi khi, mà... ơ... ơ..., trong đám con thế nào cũng có đứa hạp, có đứa không hạp... nên đứa thì mình thấy dễ dạy, đứa khó dạy... phải không chị!http://www.vietnamphatquoctu.net/Backup/Web/Lumbini_Unicode/i/s.gif
- Ðúng đó sư cô! cái con dịch vật nầy quả không hạp tôi tí nào. Thật ra phải nói nó là thứ oan gia phá nhà hại cửa thì mới đúng! Ông thầy tử vi Nhãn Thần đã giải thích như vậy đó! Ông nói chồng tôi tuổi dần, nó tuổi thân, mà 'dần thân tị hợi là tứ hành xung', nên sanh nó ra đời thì chồng tôi tử trận chết, và tôi thì phải lâm cảnh nghèo khổ tàn mạt từ đó cho đến ngày nay.http://www.vietnamphatquoctu.net/Backup/Web/Lumbini_Unicode/i/s.gif
- Tôi nói điều nầy mà nếu thấy sai xin chị đừng giận nghen! Trên thế gian nầy có biết bao đứa bé kyĩ tuổi cha mẹ mà cha mẹ vẫn sống, cũng có đứa hạp tuổi lại lâm cảnh mồ côi! Người ta nói 'bói ra ma, quét nhà ra rác', thầy bói họ vẽ vời ra vụ kyĩ vụ hạp, bàn ngang tán rộng nhắm thăm dò tâm lý kẻ nhẹ dạ để khai thác trục lợi,... tin tưởng làm sao được chị Tám!http://www.vietnamphatquoctu.net/Backup/Web/Lumbini_Unicode/i/s.gif
- Ðáng tin lắm chớ sư cô! cái anh Toàn bạn cùng khóa với chồng tôi, anh cũng tuổi dần, sanh đứa con tuổi ngọ, mà 'dần, ngọ, tuất là tam hạp'. Từ đó binh nghiệp ảnh lên như diều, vỏn vẹn trong vòng bốn năm mà ảnh lên được ba 'lon', bây giờ ảnh đã mang cấp bật đại tá, uy quyền một cõi rồi. Cái con ba Khòm, vợ của ảnh, đen thui xấu ỉn, vậy mà bây giờ cũng làm bà nầy bà nọ, đỏng đa đỏng đảnh, thấy ghép dễ sợ! Chỉ vì phận tôi hẩm hiu, nơi mới sanh nhầm thứ con báo đời, để phải khốn khổ như thế nầy!http://www.vietnamphatquoctu.net/Backup/Web/Lumbini_Unicode/i/s.gif
- Chị Tám ạ! Hôm trước chị em mình có thảo luận về lý nghiệp báo và nhân duyên, theo đó, mỗi người tự mình chủ động trong việc tạo nghiệp cho mình, mình đã gieo nhân thiện hay ác gì, thì mình phải gánh chịu cái quả phát sanh từ các nhân đó, không sai chạy đi đâu cả! chị Tám chắc vẫn còn nhớ điều đó?http://www.vietnamphatquoctu.net/Backup/Web/Lumbini_Unicode/i/s.gif
- Ừa, 'chiện' gì tôi không ý kiến chớ cái 'chiện' gieo nhân nào gặt quả nấy thì tôi chịu lắm!http://www.vietnamphatquoctu.net/Backup/Web/Lumbini_Unicode/i/s.gif
-Như vậy đó chị Tám, nghiệp của mình do mình tạo ra, lành dữ tự mình gieo nhân, như vậy thì không có ai dù là thần thánh cũng không thể ban phước hay gây họa cho mình được, thành thử ra, một đứa con sanh ra cũng không làm thay đổi nghiệp của mình, không gây ra chuyện hên sui gì cả, phải không chị Tám?http://www.vietnamphatquoctu.net/Backup/Web/Lumbini_Unicode/i/s.gif
- Không phải vậy đâu sư cô! đành rằng có luật nhân quả, nhưng chuyện đứa con tạo hên sui cho mình có thiệt mà sư cô. Nè! kinh nghiệm của tôi về vụ sanh con Liên quá rõ, vụ anh đại tá Toàn cũng vậy, và còn biết bao vụ khác nữa..., không tin làm sao được a sư cô!http://www.vietnamphatquoctu.net/Backup/Web/Lumbini_Unicode/i/s.gif
-Về việc này thì tôi xin góp ý kiến như vầy đây, chị Tám. Hành vi tạo nhân thiện hay ác ở quá khứ của một con người, có thể đã được đóng góp ít nhiều bởi một vài người khác, liên hệ đó đã tạo cho họ một nghiệp chung, Phật giáo gọi là cộng nghiệp. Khi nhân chuyển biến thành quả, thì những người đã có giây liên hệ từ trước, do cộng nghiệp lôi kéo, sẽ hiện diện bên cạnh người chủ động để cùng nhận lãnh cái nghiệp tương cận với nhau. Nhìn bề ngoài, mình có thể nhận định rằng sự hiện hữu của một người thân đã ảnh hưởng đến thịnh suy của mình, nhưng xét kỹ, thì không ai ảnh hưởng đến số phận của ai hết, mỗi người lãnh cái phần nghiệp của mình trong cái nghiệp chung mà thôi. Tôi trình bày như vậy, chị Tám có đồng ý không ạ!http://www.vietnamphatquoctu.net/Backup/Web/Lumbini_Unicode/i/s.gif
-Sư cô nói vậy thì tôi hay vậy, chớ tôi vẫn thấy con cái nó cũng gây ra chuyện hên xui cho mình nhiều lắm!
Sư cô nghĩ mớ tà kiến nầy đã bám rễ lâu đời trong tâm thức mụ Tám nhất thời sư cô khó mà gột rửa ngay được. Sư cô sẽ trở lại gặp mụ Tám thảo luận đề tài nầy nhiều lần nữa để giải tỏa từ từ, còn bây giờ, chuyện cấp bách là an nguy của bé Liên thì tạm thời sư cô sẽ tìm phương cách khơi dậy tình thương con nơi quả tim khô cằn của mụ cũng được. Sư cô ngần ngừ một lúc, rồi ra chiều thân mật, lên tiếng:
-Chị Tám ạ! Chắc chị không thể nào ngờ là ngày tôi sanh ra đời, chính là ngày má tôi đau khổ cùng cực. Ðây là một việc mà bà đã bưng kín miệng bình, không thổ lộ cho một ai ở xã Khánh Hậu nầy biết!http://www.vietnamphatquoctu.net/Backup/Web/Lumbini_Unicode/i/s.gif
- Ô! Thật vậy sao sư cô! Sư cô kể rõ tôi nghe đi! Tôi kín miệng mà!, mụ Tám lộ vẻ hào hứng khi sắp được nghe một câu chuyện bí mật.http://www.vietnamphatquoctu.net/Backup/Web/Lumbini_Unicode/i/s.gif
- Cha tôi là con trai duy nhất của một gia đình hoàn tộc giàu sang tại cố đô Huế. Bà nội tôi đã chọn mẹ tôi, một cô gái nghèo thuộc gia đình đông con, về làm dâu vì hy vọng sẽ sớm có cháu trai nối dõi tông đường. Mẹ tôi lại sanh liên tục hai gái, khiến nội thất vọng, nội cằn nhằn giận dỗi vu vơ, rồi gán cho mẹ tôi cái tội thiếu đức nên không sanh được con trai. Mẹ tôi cấn thai lần nữa, nội hy vọng tràn trề nên vừa ngọt ngào với con dâu, vừa công khai tỏ ý sẽ bắt con trai cưới vợ khác nếu lần sanh nầy vẫn là gái. Lo âu thái quá, sức khỏe mẹ tôi suy yếu rõ rệt, đó là lý do chính đáng để ngoại tôi , xin với nội được đem con gái về nhà chăm sóc khi sanh nở. Sanh con ra, mệt đứt hơi mẹ tôi vẫn ráng thều thào tìm hiểu đứa nhỏ là trai hay gái. Thật là bất hạnh cho bà, đứa bé đó chính là tôi, là gái. Bà nhìn con sững sờ rồi ngất xỉu. Khi bà tỉnh dậy, ngoại vừa an ủi con vừa đề nghị một giải pháp mà ngoại đã tính toán và thu xếp chu đáo, là đánh tráo tôi với đứa con trai chị bếp, đứa bé nầy đã chào đời trước tôi hai ngày. Mẹ tôi phản đối quyết liệt. Bà ôm cứng tôi, không cho ngoại và cậu thi hành ý định. Bà nói thà bà chịu khổ chung với con, chớ không vì việc cũng cố địa vị, vì tham lam phú quý, mà bỏ con lăn lóc với người dưng nước lã. Ðúng như ngoại tôi tiên liệu, nội tôi chẳng nhìn nhõi gì đến đứa cháu vô phước, cha tôi thì chỉ viếng thăm một lần, rồi biệt dạng luôn, chẳng hề đề cập đến việc rước vợ con về nhà. Sau mấy tháng đớn đau tuyệt vọng, mẹ tôi bồng tôi vào Nam lập nghiệp, thề trọn đời chẳng trở lại đất thần kinh. Chị Tám thấy không? Chỉ vì tôi mang thân gái, mà mẹ tôi phải đau khổ suốt cả cuộc đời. Thế mà bà chẳng hề ghét bỏ tôi.
Bà thương yêu chăm sóc tôi từng ly từng tí, không dám ăn, không dám mặc để nhường tất cả cho con. Tôi mà ấm đầu hay tay chân bị trầy trụa chút đỉnh thì bà xót xa như đứt từng khúc ruột. Ôi! tình thương của bà đối với tôi như bao la biển rộng, tôi dẫu có tan xương nát thịt cũng chưa đền đáp nổi thâm ân!...
Sư cô mang tâm sự đời mình thố lộ cho mụ Tám mong mụ cảm động , rồi tình thương bé Liên sẽ nhen nhúm trong lò mụ. Ngờ đâu, khi sư cô dứt lời, mặt mày mụ Tám đang tươi rói bỗng dưng biến sắc, mụ hậm hực 'hứ' một cái, nhổ bãi nước bọt cái phẹt, rồi ngoảnh mặt hướng khác, không thèm tiếp chuyện với sư cô nữa. Sư cô bàng hoàng ngớ ngẩn không hiểu việc gì đã xảy ra. Chừng mười giây sau, sư cô mới khám phá rằng lời ca tụng bà mẹ dịu hiền vô tình khiến người mẹ hung dữ nhột nhạt nghi sư cô kể chuyện với thâm ý chê bai châm chọc.
Sư cô bối rối tự trách mình đa sự, đạo đức hèn kém đã không cảm hóa nổi mụ Tám, mà còn đổ dầu trên lửa, gây tai họa thêm cho bé Liên. Sư cô đứng dậy, dợm thối lui rồi lại rụt rè muốn mở lời giả lả, nhưng thấy quyết định nào cũng không ổn cả.
Thình lình mụ Tám quay người lại, châm bẩm nhìn sư cô gằng từng tiếng:
-Nè! tôi nghe nói Phật Ðản nhằm ngày rằm, mà sau sư cô lại nói ngày mùng tám, như vậy nghĩa là sao? Mấy người tu hành mà sao ăn nói bất nhất quá vậy?
Sư cô thở phào nhẹ nhõm, lời lẽ mụ Tám tuy xỉa xói gắt gao, nhưng mụ còn chịu đối thoại thì còn hy vọng, 'còn nước còn tát', sư cô dịu dàng đáp:
-Thưa chị! Theo truyền thống Phật giáo Trung Hoa thì Phật Ðản nhằm ngày mùng tám tháng tư âm lịch. Phật giáo Việt Nam vốn chịu ảnh hưởng Trung Hoa nên cũng tổ chức vào ngày nầy. Theo truyền thống Phật giáo Nam Tông, thì Phật Ðản nhằm ngày trăng tròn tháng tư. Vấn đề sai khác nầy được đặt ra trong một phiên họp của Phật Giáo Thế Giới; sau khi thảo luận, Ðại Hội đã đồng thanh quyết định thống nhất ngày Phật Ðản là ngày rằm tháng tư. Do đó Phật giáo Việt Nam hiện đang tổ chức ngày Phật Ðản ngày rằm, tuy vậy có nhiều chùa vẫn cố gắng giữ chút lệ xưa, nên tổ chức thêm ngày mùng tám. Tôi tính rủ chị em mình làm cái lễ nhỏ nhỏ trong xóm ngày mùng tám, vì đến ngày rằm thì tôi phải về lại Sàigòn làm lễ chánh thức tại tu viện. Tôi đã không trình bày rành mạch với chị em vấn đề này, điều đó quả thật có lỗi.
Thái độ bình tĩnh và mềm mỏng của sư cô khiến mụ Tám nguôi ngoai cơn giận phần nào, sư cô mừng rỡ tiếp lời:
-Thật ra, tổ chức lễ chỉ là một hình thức, thì ngày nào cũng như nhau có khác chi đâu phải không chị Tám! Vấn đề quan trọng là mình biết vận dụng được ý nghĩa của ngày đó để tưởng nhớ công ơn Phật và noi gương Ngài dõng mãnh tu sửa thân tâm sao cho xứng đáng là một người con Phật. Chị Tám biết không? theo niềm tin riêng của tôi, thì ngày Phật thực sự khai sinh không phải ngày mùng tám hay ngày rằm, mà là một ngày xa xôi mù mịt vô số kiếp về trước khi đức Phật còn phải chịu hình phạt ở chốn địa ngục vô gián lận kìa...http://www.vietnamphatquoctu.net/Backup/Web/Lumbini_Unicode/i/s.gif
-Ủa! Sao có cái ngày gì lạ quá vậy ha?, mụ Tám mỉa mai.http://www.vietnamphatquoctu.net/Backup/Web/Lumbini_Unicode/i/s.gif
-Ðây là chuyện tiền kiếp của Phật. Vào những a tăng kỳ kiếp cực kỳ xa xôi, thuở đức Phật chưa biết tu tập, nên có khi thì tạo nhân lành khi gây nhân ác hỗn tạp với nhau, do đó, cứ bị lăn lộn lên xuống trong lục đạo luân hồi. Cho đến một kiếp nọ, đức Phật là một đứa con bất nhân, bất hiếu, đã tàn nhẫn chửi mắng đánh đập mẹ ruột của mình nên khi chết bị đọa vào địa ngục vô gián. Tội nhân trong ngục bị vòng lửa bám trên đầu thiêu đốt đau đớn, chết lên chết xuống, khổ sở không thể kể xiết. Ðức Phật thăm hỏi ngục tốt đến chừng nào mình mới thoát khỏi nơi nầy thì được bảo rằng, bao giờ trên thế gian có tên nào bất hiếu, bằng hay hơn ngươi chết xuống đây thay thế chỗ ngươi, ngươi mới thoát nạn. Ðức Phật móng niệm ước mong thế gian có càng nhiều càng tốt nhừng kẻ ác nhân bất hiếu, để sớm có kẻ thế mình. Niệm xấu vừa khởi, tức thời vòng lửa xiết chặt hơn, lửa thiêu đốt dữ dằn hơn, khiến Phật lăn ra, chết ngất lên ngất xuống. Trong giây phút cực kỳ đau đớn đó, bỗng nhiên Phật nghĩ chốn nầy khổ sở quá chừng chừng, thật cảm thương cho ai đã lọt đến chốn nầy, mong thế gian không còn ai bất hiếu để họ khỏi rơi vào đây, còn phần mình nếu không ai thay thế thì đành cam chịu khổ sở hoài vậy. Niệm lành vừa sanh, tức thời Phật thoát khỏi chốn địa ngục sanh trên cõi Trời, và kể từ kiếp đó, Ðức Phật luôn luôn tinh tiến tu hành cho đến ngày thành Phật cách nay hơn hai ngàn năm trăm năm. Giây phút phát khởi niệm lành 'chịu khổ thay thế chúng sanh' quả là thời điểm đặt biệt! Tôi tin tưởng rằng mầm mống một vị Phật đã thực sự khai sinh từ đó, chị đồng ý với tôi không chị Tám?
Câu chuyện tiền thân có lẽ hấp dẫn mụ Tám nên mụ theo dõi chăm chỉ và góp ý vui vẻ:
-Ðúng đa! Giây phút đó quả là khúc quanh lớn, đã biến đổi một kẻ ác thành vị Phật. Ừa! nói rằng Phật đã thật sự khai sanh từ lúc đó cũng có lý lắm chớ!http://www.vietnamphatquoctu.net/Backup/Web/Lumbini_Unicode/i/s.gif
- Chị Tám ạ! tôi xin kể chị nghe tiếp chuyện nầy, khó tin mà có thật, mới xảy ra ràng ràng tại xóm mình nè! Hồi nãy đây, tôi đích thân chứng kiến một vị Phật khai sinh đó chị!http://www.vietnamphatquoctu.net/Backup/Web/Lumbini_Unicode/i/s.gif
http://www.vietnamphatquoctu.net/Backup/Web/Lumbini_Unicode/i/s.gif
- Chuyện thật trăm phần trăm mà! Thì mới hồi nãy đây cháu Liên có thỏ thẻ với tôi là cháu muốn đi tu. Tôi hỏi lý do thì cháu chân thành đáp: 'Thưa cô! Con thấy cả đời má con phải chịu khổ sở quá chừng hà! Con muốn đi tu để độ cho má con hết khổ.' Chứng kiến thái độ thành khẩn của cháu, tôi xúc động cảm nhận rõ ràng rằng một vị Phật đã vừa khai sanh trong tâm em. Tôi tin tưởng nguyện vọng của em sẽ thành. Em sẽ thành Phật và em sẽ độ được mẹ em!
Mụ Tám vụt chạy ra nhà sau và sư cô cũng lo lắng phóng theo bén gót. Sư cô thấy mụ Tám bước nhanh tới chỗ con gái đang xắt chuối heo, lặng lẽ nhìn con bé, gương mặt bậm trợn đanh đá thường ngày bỗng mềm dịu hẳn ra, rồi mụ lên tiếng:
-Liên à! bộ con nói với sư cô con muốn đi tu để độ má con hả con?
Bé Liên không biết chuyện gì sẽ xảy ra, mặt mày em tái mét, em rụt rè đáp nho nhỏ:
-Dạ! Con thấy má khổ sở quá chừng hà! Con thương má! Con muốn bắt chước sư cô, đi tu để độ cho má hết khổ! má à!
Hai hàng nước mắt của mụ Tám bỗng nhiên ràn rụa, mụ ôm con bé vào lòng..., lúng túng chẳng ra lời: Âi! thương quá! Tội nghiệp con tôi quá!'
' Một vị Phật lại vừa được khai sanh!', sư cô cảm nhận điều đó trong niềm vui mênh mang. Ý thức sự hiện diện của mình đã trở thành thừa thãi, sư cô lặng lẽ rút lui; bước ra ngoài nhìn vạn vật mọi loài, sư cô cảm thấy tất cả dường như đã bừng dậy, để hân hoan chia sẽ niềm vui với sư cô.
Tháng 04.1995
HẾT
Quảng Nghiêm
06-02-2009, 12:34
Khẩu Phật Tâm Xà
Huỳnh Trung ChánhÐời vô thường vô ngã
Người khẩu Phật tâm xà
Nhất Hạnh
Thím Bảy đảo qua lại bên quầy hàng bán mắm tôm chua mấy lượt mới cầm một hủ lên xăm xoi, rồi lại để xuống, lắc đầu than nho nhỏ: "Có mấy con tôm nhỏ híu, mà mắc quá hè!". Tiếng than vô tình lọt tai bác Tám Cà-Mau, ông già gân gan ruột để ngoài da ồn ồn lên tiếng:
- Hứ! Cái thứ tép riu, tép bạc nhỏ nhít này mà thiên hạ đại ngôn gọi là mắm tôm, thiệt là khoác lác.
Ðang đi chợ buổi chiều, khách cũng le hoe mà nghe nhắc đến con tép bạc, thím Bảy chợt nhớ đến câu hát ru em ngày xưa "Phiên chợ đông, con cá hồng anh chê lạt. Buổi chợ chiều con tép bạc anh khen ngon" nên vui miệng đáp theo điệu ấy:
- "Ở Việt Nam, con tôm càng chê lạt. Ðến sứ người, con tép bạc cũng khen ngon" mà bác.
- Cái gì xứ người thiếu thốn quí cho phải, chớ tép thì ở xứ Houseton nầy quá nhiều mà!
- Thưa bác! Tôm Houston thịt bở lắm không làm mắm tôm được đâu. Cháu đã thử mấy lần đều thất bại. Tôm đỏ hấp dẫn, mà bã ra như bột vậy đó.
- Người ta làm mắm tép cầu kỳ như thế nào tôi không rõ, nhưng "nhận mắm tép" theo phương pháp quê mùa xứ Năm-Căn, Cà-Mau thì chắc như bắp, trăm lần không sai một.
Thím Bảy mừng rú lên:
- Bác Tám còn có nghề làm mắm, vậy mà con chưa biết?
- Xứ Năm-Căn tui, cá tôm lủ khủ ăn không hết thì phải làm mắm. Cá lóc, cá sặc, còng hay tép cũng mang ra nhận mắm ráo nạo hết. Trẻ nít còn biết làm mắm, làm khô, huống chi là tui!
- Vậy bác Tám dạy con nghen! Nhà con thích mắm lắm!
- Ơ! Nè lại nhà bác lấy mấy hủ về ăn thử. Thích thì bác truyền nghề cho. Dễ ợt hà cháu!
Phương thức làm mắm tôm Năm-Căn giản dị đến nổi thím Bảy tưởng mình nghe lầm. Tuân theo lời chỉ dẫn của bác Tám. Thím gò gẫm nhận thử hai hủ, rồi cứ ngay ngáy trong ngóng chờ đến ngày ăn thử. Thím nếm con tép, tự biết đã thành công nhưng thím vẫn chưa tin được khẩu vị của mình. Thế là thím thấp thỏm chờ đợi chú Bảy đi làm về, phải nghe được tiếng nói của ông xã thì mới chắc ăn. Thật ra chú Bảy là tay nịnh vợ có hạn, vợ nấu nướng món gì, ngon dở, cũng khen tùm lum hết. Biết rõ ruột gan ông chồng, nhưng thím Bảy vẫn vui sướng nghe mãi điệp khúc ngọt ngào đó.
Sống ở xứ người mà chú Bảy chỉ tương tư những thức ăn thuần túy Việt Nam. Thấy mắm mắt chú sáng lên. Chú chăm chỉ gắp một đũa mắm tôm, kèm với đu đủ bào, rau thơm, giá sống..., nhai chầm chậm. Con tôm chắc thịt, vị đậm đà, phản phất trọn vẹn chất mắm nguyên thủy, chớ không nhão nhẹt, chua òm, biến chất như các loại mua ở chợ. Chú chồm dậy nói lớn:
- Ðúng rồi! Phải rồi! Ðây chính là mắm Cổ-Chiên, Trà-Vinh thuở nhỏ tôi đã ăn đó mà!
Chú nhai con mắm mà mắt cay cay, cảm giác như có cả mùi chuối chát, khế, đọt xoài, đọt lụa..., hương vị quê hương gần gũi mà cũng xa xôi diệu vợi biết là dường nào. Thấu rõ ruột gan ông chồng, thím Bảy phóng vù ra chợ, xách về mấy bao tôm, rồi ì ạch chuẩn bị "kỹ nghệ mắm tôm". Thế là bao nhiêu chai lọ trong nhà, thím tuông ra để nhận mắm hết. Rồi thím lại đem lọ, hủ lớn nhỏ ra phơi đầy cả sân trước. Mùi mắm có thoang thoảng qua hàng xóm Hoa Kỳ thì họ ráng mà ngửi đỡ vậy. Phơi được vài nắng, những con tôm đã đỏ ao hấp dẫn. Thím Bảy bắt đầu lục lọi địa chỉ đám bạn bè thân cư ngụ ở vùng thiếu thốn thực phẩm Á Ðông để nâng niu gói món quà đượm tình quê hương mặn nồng, biếu họ.
Thông điệp "mắm" gởi đi một tuần lễ, thì thím Bảy lu bù nhận điện thoại khắp nơi. Trừ một thiểu số hội nhập trung thành với hamburger, hotdog xứ người lợt lạt, phần lớn đón nhận gói quà quý giá như đón nhận tình quê hương ruột thịt đậm đà. Có người xúc động cảm tạ thím Bảy đã khơi mở cho họ nhìn lại khung trời quê hương nhớ nhung thắm thiết. Tuy nhiên, "cú" điện thoại thím Bảy mong đợi từ Texarkana, tiểu bang Arkansas vẫn im hơi lặng tiếng. Lo lắng cho số phận hũ mắm gởi cho vợ chồng Mai và Ly bị thất lạc, thím Bảy bồn chồn liên lạc hỏi thăm. Vừa nghe tiếng "A lô" của Ly bên kia đầu giây, thím Bảy mừng rỡ tíu tít:
- A lô! Bích Ly đó hả! Ta nhớ bồ quá đi. Nè! Mùa lễ Tạ Ơn xắp tới, tụi này đi Hot Springs chơi, ghé rước bồ cùng đi nhe!
- Ơ! Thích lắm nhưng không biết anh Mai có bận gì không?
- Bồ có nhận được hũ mắm tôm chua mình gởi chưa?
Bích Ly chưa kịp trả lời, thì bỗng có tiếng Mai, trong đường dây điện thoại bắt song song, ào ào lên tiếng lấn át giọng vợ:
- A lô! Chào chị Bảy. Hủ mắm tôn tới rồi. Cám ơn chị nhe! Nhưng rất tiếc tụi này ăn chay trường rồi, chẳng dám phạm giới đâu?
Ðang hí hửng với thành quả mắm tôm, yên chí cô bạn thân mê tít rồi năn nỉ mình truyền nghề, bất ngờ bị ông bạn nhắc nhở giới luật, khiến thím Bảy ngỡ ngàng "xìu" như bong bóng xì hơi, cụt hứng lúng búng cáo biệt.
Ông Mả Thành Mai là một đại nhân tại thị xã Texakana. Sang Hoa Kỳ năm 1975, nhờ thông minh tài trí hơn người, khởi đầu từ một chân thợ kinh nghiệm yếu kém, chỉ mấy năm đã nghiễm nhiên được đề bạt thành quản lý tại công ty máy cày hiệu con ngựa bay. Ðịa vị vững vàng, lương bổng hậu, Mai tạo nhà, rồi sang một cửa tiệm hàng thực dụng tại một địa điểm đông khách giao cho vợ trông nom. Cơ hội liên hệ với giới địa óc hé mở cho Mai thấy được viễn ảnh huy hoàng của dịch vụ buôn bán nhà cửa, nên Mai liền hành thêm nghề tay trái nầy. Ðúng là Việt kiều đỗ xô về định cư tại Hoa Kỳ, rồi họ lại tranh đua nhau tạo hoạt động xã hội, đóng góp cho cộng đồng người Việt tại xứ người. Mai thành lập vận động Hội người Việt rồi chễm chệ giữ chức vụ chủ tịch. Tiến xa hơn nữa, Mai hô hào đồng bào Phật tử đóng góp công của để xây dựng chùa, dĩ nhiên địa vị Hội Trưởng do Mai gánh vác. Thành thật mà nói, Mai đã hy sinh rất nhiều. Ðóng góp công của cho Hội khá rộng rãi. Tuy vậy, cũng có kẻ ganh tị xuyên tạc rằng Mai hoạt động xã hội có hậu ý. Mai lợi dụng địa vị để quảng cáo hữu hiệu cho nghề dịch vụ địa ốc, lại vừa có môi trường lý tưởng mà khoa trương đạo đức, biểu diễn tu hành để lòe đời. Nhờ tài tháo vát của Mai, Hội tậu được một ngôi giáo đường cũ kỹ bỏ hoang với giá rẻ mạt, để cải biến thành chùa. Rồi Mai cũng đích thân dò la những vị chân tu, thỉnh về trụ trì. Vị trụ trì đầu tiên chỉ lưu lại hơn sáu tháng rồi âm thầm ra đi. Những vị kế tiếp cũng lâm vào trạng huống tương tợ: trọng vọng triệu thỉnh rồi cũng cuống gói ra đi không kèn không trống. Ðiều "tréo cẳng ngỗng" là thoạt mới đến, Tăng sĩ nào cũng được đích thân ông Hội Trưởng ca ngợi tôn sùng, mà chỉ mới mấy tháng sau, đã bị ông nặng lời chỉ trích là hạng dốt nát, vụng về, đạo hạnh cạn cợt... Họ tự ý rời chùa cũng là diều hay, tránh cho ông Hội Trưởng khỏi phải nhọc lòng xua đuổi. Mai thường thở than rằng đã đến thời mạt pháp nên đạo đức xuy đồi, bậc chân tu thiếu vắng. Trên đời nầy, ngoài vị Hòa Thượng hiện vẫn mở đạo tràng phát huy thiền tông tại Việt Nam, không tu sĩ nào đáng để Mai kính phục cả. Ðúng ra, có lẽ Mai chưa thật sự gần gũi Hòa Thượng, nếu không e rằng Mai cũng đổi thay nhận định mà thôi. Chẳng qua Mai vốn là người "quá ưu tư" cho đạo đức kẻ khác, lúc nào Mai cũng lo lắng soi bói hành vi thiên hạ để chỉ trích hay nhắc nhở họ tu hành. Ðối với tu sĩ thì dĩ nhiên Mai còn phải canh chừng họ nghiêm ngặt hơn nữa. Mai thấp thỏm lo quý thầy bị quyến rũ hư hỏng, nên Mai phải kiểm soát rình rập từng li, từng tí không khác gì mẹ chồng soi bói nàng dâu, để mà sửa sai và nhắc nhở chuyên cần tu tập. Mai cũng quan tâm đến sự giao thiệp của thầy. Ðễ ngăn chận những thành phần mà Mai gán là khả nghi, nguy hiểm lung lạc thầy, Mai tự nhận có trách nhiệm kiểm soát cả việc đi đứng, điện đàm nữa. Mai cũng sắp xếp quán xuyến mọi việc trong ngoài, nhất là việc tài chánh: thu xuất, thùng phước sương..., hầu dành trọn vẹn thời giờ cho thầy chuyên tâm tu tập. Thâm tâm của Mai bất quá là chỉ mong cầu một vị chân tu theo nghĩa là một ông từ giữ chùa, chỉ biết tụng kinh gõ mõ, biết vâng lời và dành trọn quyền cho ông Hội Trưởng tự tung, tự tác thao túng mọi việc. Ôi! Ông Hội Trưởng suốt đời cứ quay quần bận rộn nói chuyện tu, lo lắng dặn dò người khác tu, đến nỗi phần mình không còn chút thời giờ thực sự tu tập, lòng hy sinh của người quá ư cao cả.
Không có sư trụ trì thì ông Hội Trưởng đành đảm trách việc lãnh đạo tinh thần cho đồng bào Phật tử vậy. Ông cũng long trọng chủ lễ và đăng đường thuyết pháp mỗi tháng một lần. Ông soạn bài pháp nội dung đầy dẫy giáo lý thượng thừa siêu đẳng. Ông cũng hùng biện và giỏi đóng kịch, nên điệu bộ khá hấp dẫn và nhờ vậy buổi thuyết pháp có mòi thành công.
Tháng trước, Mai diễn giải đề tài "Lợi ích của sự ăn chay". Ðề tài tầm thường và khô khan, nhưng Mai đã khéo léo trình bày vấn đề từ khoa dinh dưỡng, rồi mới sang lãnh vực tôn giáo. Dựa vào giới cấm sát sanh, thuyết quả báo luân hồi, Mai đã vạch rõ được ăn chay là bước căn bản tu tập của người Phật tử biết nuôi dưỡng hạt giống từ bi và bình đẳng. Cuối cùng dùng duy thức học, Mai nhấn mạnh rằng cộng nghiệp sát sanh đã đưa thế giới lâmvào cảnh chiến tranh tương tàn. Nếu chúng sanh bỏ được nghiệp sát, đương nhiên thế giới hòa bình, nhân dân an lạc. Diễn giả chấm dứt bằng mấy vầng thơ:
Chúng sanh không nghiệp sát
Thế giới hết chiến chinh
Dân gian đồng tu niệm
Lo chi chẳng hòa bình?
Bài thuyết giảng thành công vượt bực, khiến ông Hội Trưởng hừng chí "thừa thắng xông lên", khuyên mọi người thực hành ăn chay, rồi tuyên bố, vợ chồng ông đã cương quyết an chay trường để làm gương cho hội viên.
Sự kiện ông bà Hội Trưởng ăn chay trường là một biến cố trọng đại, đáng lẽ ai cũng phải biết. Thế mà thím Bảy Houston lại "ù ù cạc cạc" gởi biếu mắm tôm thật là quá tệ. Ông Hội Trưởng giận "quạt" cho mấy câu "tịt ngòi" là phải lắm rồi. Lái xe đưa vợ con đi chùa, mà lòng ông phơi phới nhủ thầm: "Phen nầy nhờ cái miệng phát thanh ồn ào của mụ Bảy rồi đây cả thành phố Houston sẽ đón nhận tin mình ăn chay trường để mà cuối đầu khâm phục".
Hôm nay, ông Hội Trưởng lại đăng đường thuyết pháp đề tài " Ðạo Phật trong đời sống gia đình". Mở đầu bài thuyết giảng ông Hội Trưởng trình bày rằng đạo Phật không phải là một mớ giáo lý cứng ngắc để tính đồ đọc tụng như con vẹt, mà bao gồm những giáo lý sống động hầu người Phật tử thực hành, ban vui cứu khổ muôn loài nói chung, và tạo hạnh phúc gia đình nói riêng. Kế đó trong phần nội dung, ông Hội Trưởng đã sưu tầm tỉ mỉ Phật ngôn trong tam tạng kinh điển liên hệ đến tình nghĩa, bổn phận vợ chồng, để đúc kết thành một Phật tử hoàn mỹ. Và sau cùng ông Hội Trưởng hùng hồn kết luận:
- Ðể chấm dứt, tôi xin trao truyền quý vị một kinh nghiệm bản thân như một cẩm nang quý giá trong việc tạo dựng hạnh phúc gia đình. Người Phật tử chỉ cần thực thi giáo lý "chúng sanh là Phật sẽ thành", ý thức rằng vợ chồng mình là vị Phật tương lai là đủ. Tâm tâm niệm niệm được điều đó thì vợ chồng chắc chắn phải tương kính nhau, thương yêu nhau hơn bao giờ hết. Bởi lẽ, có ai mà lại có thể càu nhàu, gây gỗ, nặng lời chưởi bới, hay đánh đập một Ðức Phật vị lai bao giờ. Chiều nay, đi về nhà, quý vị hãy triều mến chiêm ngưỡng dung nhan của nhau thật lâu để ý thức rõ rệt rằng đây chính là vị Phật mà ta đã có diễm phúc kề cận, chia ngọt xẻ bùi..., nhưng ta lại hồ đồ lãng quên điều đó. Rồi quí vị cứ để tự nhiên cho hạnh phúc tràn ngập lòng mình.
Bích Ly ngồi ở hàng thính giả mê say nghiền ngẫm từng lời châu ngọc của lang quân. Chồng bà tài ba quá! Hùng biện quá! Bích Ly khâm phục biết là dường nào. Ngắm nhìn đám thính giả lắng nghe rồi vỗ tay đôm đốp, Bích Ly vui sướng hả hê. Ðúng lúc đó, ông Lê Hà, ngồi cạnh lại cất lời khen ngợi:
- Ông nhà thuyết giảng hấp dẫn vô cùng!
Bích Ly khoái chí cười toe toe toét, hãnh diện đáp:
- Dạ! Anh ấy Phật Pháp cao siêu lắm đó!
- À! Tiệm thực dụng của ông bà buôn bán có khá không ạ?
- Dạ! Tương đối khá, nhưng cũng cực lắm!
- Tôi cũng có ý sang tiệm. Có thể nào bà cho phép tôi đến tiệm quan sát học nghề được không ạ?
- Ồ! Có trở ngại chi đâu! Xin mời ông tùy tiện ghé chơi lúc nào mà chẳng được.
Bích Ly tiếp tục ôm ấp niềm hạnh phúc tuyệt vời về nhà. Nàng chiêm ngưỡng chồng con, những vị Phật quý báo của nàng, để thầm nhủ rằng những sự hy sinh khổ lụy cho chồng con thật là xứng đáng.
Lu bu với tiệm thực dụng mỗi ngày 12 giờ, đầu tắt mặt tối suốt tuần, Bích Ly chỉ có thể dành ngày Chúa Nhật cho chồng con, vì thế thời gian trong ngày vô cùng quý giá. Bích Ly vội vã phóng ngay ra chợ, chuẩn bị cho hai bữa ăn mặn duy nhất hợp mặt cả gia đình trong tuần. Sau khi quyết định ăn chay trường mấy ngày, thương đám con ăn uống thất thường, Mai hy sinh chọn ngày Chúa Nhật ăn uống vui vẻ với con. Bích Ly lăng xăng chọn lựa thức ăn. Nàng thoạt nghĩ đến món mắm tôm chua giản dị nhanh chóng cho bữa ăn trưa, nhưng nhớ đến vẽ mặt kém vui của chồng khi trả lời chị Bảy, nên đành nhịn thèm đổi ra món thịt quay. Sau đó, nàng mua đầy đủ thức ăn lẩm cẩm dành cho nồi bún bò Huế thịnh soạn buổi chiều. Tính tiền xong, Bích Ly lật đật chạy rút về nhà, tất cả soạn ngay mâm cơm trưa, rồi hối thúc con thưa thỉnh lang quân dùng bữa. Chễm chệ ngồi vào bàn, Mai trố mắt nhìn dĩa thịt heo quay, thức ăn mà chàng mới dùng tại tiệm cơm Tàu ngày hôm qua đã ngán ngẫm, nên lời lẽ cộc lốc kém vui:
- Sao hủ mắm tôm lại không ăn? Bày vẽ mua món thịt heo quay chi cho tốn kém?
- Dạ! Tại mấy đứa nhỏ thích heo quay, vả lại, em cũng nghĩ rằng anh sợ phạm giới nên tránh món mắm tôm.
- Ờ! Thì nói như vậy để chị Bảy ngưng sát sanh, chớ hủ mắm này bề nào cũng làm rồi, nếu bỏ đi thì lại phụ lòng chỉ.
- Vậy thì tốt quá! Mình ăn đỡ mắm tôm với thịt heo quay tạm vậy nhé!
- Ừa!
Thế là hủ mắm tôm được dọn ra tức khắc. Tuy nhiên, ăn mắm tôm mà thiếu thịt ba chỉ luộc, rau thơm..., thì mất hết năm mươi phần trăm khẩu vị, nên suốt bữa ăn Mai cằn nhằn lãi nhải mãi:
- Thứ đàn bà gì hư quá sức! Mắm tôm dọn chung với thịt quay, ăn chẳng ra trò trống gì hết!
Cơm nước vừa xong, con cái vào phòng. Vừa lui cui ủi đồ chồng, vừa trông chừng nồi nước lèo trên bếp, mà Bích Ly vẫn không ngừng lưu tâm đến Mai, vẻ mặt vẫn còn cau có không vui. Nàng rụt rè giả lả:
- Anh uống cà phê phin nhé! Em pha nghen anh?
- Không!
- Anh còn giận hờn sao? Bỏ qua đi mà!
- Hứ! Thứ đàn bà gì chỉ có mấy món ăn cho chồng mà cũng không nên thân!
Không biết có phải vì bệnh hoạn mệt mõi, vì những lời cằn nhằn nhức óc suốt bữa ăn, hay vì hiểu không đúng đường lối về bí quyết tương kính thương yêu do đức lang quân vừa thuyết giảng, mà Bích Ly bỗng bực mình, mạnh dạn đối đáp chứ không mềm mỏng nữa:
- Anh nói anh tu cao! Ăn không cầu ngon, mà sao anh lại cằn nhằn thức ăn ngon dỡ hoài vậy?
- Tôi bực là bực lối ăn không đúng phép kìa. Mắm tôm thì phải đi đôi với thịt luộc. Chớ việc ngon hay dỡ thì tâm tôi đâu có phân biệt làm gì?
- Thôi ông ơi! Nghe mãi tôi mệt lắm rồi. Ông nói thì lúc nào chả hay, chả đúng. Ông tuyên bố ăn chay trường, mà mới bốn ngày đã viện lẽ chức vụ cao, đem cơm theo ăn bọn Mỹ cười, để tà tà vô tiệm Tàu ăn mặn dài dài. Chiều thì ông rủ rê, ép uổng bè bạn dẫn nhau ra tiệm thù lạc thỏa thích vơi chiêu bài "vì chiều đãi chúng sanh phải dùng tạm đồ mặn như chay". Ông còn lại ngày nào chay lạt đâu? Ông ăn uống tưng bừng hùng hổ hơn trước để phục thù cho mấy ngày chay lạt mà!
Bích Ly vốn hiền lành nhẫn nhục chồng. Sự kiện nàng quật khởi phanh phui trách cứ chồng, là diễn tiến ngoài sự tiên liệu của Mai, khiến hắn ta sững sờ, phản ứng có phần chậm chạp. Hắn hơ hãi nhìn quanh quất như sợ có kẻ thứ ba nghe được sự thực. Rồi hắn mới bắt đầu nổi giận, cơn giận bùng nổ như điên khùng. Hắn bỗng hốt hoảng nghĩ rằng uy danh đạo đức mà hắn dày công xây dựng bấy lâu, có thể tiêu thành mây khói, nếu như Bích Ly thóc mách những điều bí mật nầy. "Vậy thì mình khóa miệng con này ngay mới được", Mai thầm nhủ. Mai vốn là võ sinh huyền đai thái cực đạo, tuy chưa thượng đài nhưng đã xử dụng nhiều lần trị vợ thắng lợi, nên đã quen trận mạc. Do đó, hắn ra tay nhanh, gọn và tàn độc. Trong chớp mắt, thoát đứng dậy thì quả đấm của hắn đã ập vào mắt trái tiếp liền là ngọn cước đá thốc vào bụng vợ. Bích Ly ngã lăn quay, tạm thời mất thở, mắt trợn trừng mà không rên rỉ nổi. Hạ đo ván con vợ tức khắc, cơn giận cũng nguôi ngoai, Mai lấy lại bình tĩnh rồi chợt nghĩ, đánh vợ vì hủ mắm tôm rủi ro lộ ra ngoài thì kỳ cục quá, phải tìm một lý do hợp lý nào khác cho đỡ trơ trẽn mới được.
Bà vợ vừa lấy được hơi thở cất tiếng rên la, thì ông Hội Trưởng liền hùng hổ điểm mặt vợ la lớn:
- Ðồ đàn bà hư! Ðàn bà ngoại tình! Tao đánh mầy cho bỏ cái thói lăng loàn.
Bích Ly vốn thực thà đâu hiểu bụng dạ tròng tréo của chồng, bị đánh đập chưa kịp than vãn trách móc, thì lại bị chụp cho cái mũ ngoại tình nên hoảng hốt phủ nhận:
- Em đâu có vậy! Em làm việc tối ngày mà!
- Mầy và thằng Hà. Tụi bây có gì tao biết hết!
- Em có làm gì bậy bạ đâu? Em chỉ biết ông Hà tại chùa thôi mà!
- Hừ! Hồi sáng tụi bây hò hẹn với nhau những gì cười cợt ra vẽ đắt ý như vậy?
Nguyên Bích Ly thật thà chơn chất, nghe người tâng bốc hồng một câu là đã sung sướng hả hê, chỉ nhớ nghĩ đến điều đó, còn những câu hỏi của Lê Hà để học nghề nàng chẳng lưu tâm nên đã quên tuốt luốt. Do đó, nàng chỉ có thể ú ớ đáp:
- Ổng chỉ khen anh thuyết Pháp hay quá mà thôi!
- Hừ! Láo khoét! Khen có một câu mà nói nói cười cười vui vẻ quá ha?
Tuy chụp mũ vợ để tạo chính nghĩa đánh đập, mà nhắc tới con vợ nó cười với Hà, Mai cũng cảm thấy nóng mặt, thoi vợ thêm mấy cái thì mới dịu cơn.
Sáng hôm sau, Bích Ly nằm liệt giường. Thế nên Mai phải ra tiệm tạm trong nôm trong khi chờ đợi gọi được người thay thế. Trước khi rời nhà, Mai cẩn thận gom hết chìa khóa xe, cắt đường giây điện thoại như là một cách hữu hiệu giam lỏng Bích Ly.
Tiệm thực dụng buổi sáng khách lai rai chán phèo. Ðang bực bội cằn nhằn lải nhải một mình thì Mai bỗng thấy Lê Hà lừng khừng bước vào. Giờ thì Mai mới nổi cơn ghen thực sự, hắn than thầm: "Trời ơi! Mình chỉ tố giác giỡn chơi mà sau ra trúng vậy kìa? Nhà thằng dịch vật nầy cách xa hàng mươi dặm, nếu tụi nó không tình ý gì thì sao nó đến đây giờ nầy?" Mai gắt gỏng hỏi:
- Ông đến đây làm gì giờ nầy?
Lê Hà chẳng qua chỉ mong tìm hiểu việc mua bán tại tiệm thực dụng. Hà biết Mai điếm đàng khó khai thác nên tìm cách ngồi gần Bích Ly, khen nịnh ông chồng để bà vợ thật thà chỉ dẫn nghề nghiệp. Ðể dễ học nghề, Hà chọn giờ vắng khách đến tiệm, bất ngờ lại thấy bộ mặt hãm tài của Mai chầm dầm cho một đống. Lỡ bộ không thể rút lui được, Hà tản lờ như vô tình, nhưng tin thần đã sẳn sàng ứng phó. Do đó, Mai gắt gỏng thì Hà cũng sừng sộ:
- Tiệm mở cửa thì ai cũng vào được. Sao ông lại hỏi câu quái gỡ vậy? Còn tôi đi đâu giờ nào thì mặc xác tôi chớ. Ông lấy quyền gì để điều tra?
Ðoạn Hà lừng khừng chọn một chay nước ngọt, trả tiền rồi cười ruồi bỏ đi. Mai tức giận ứa gan mà không làm chi được. Hắn phải bức rức chờ đợi người làm công đến thay thế, mới lái xe phóng về nhà, lôi vợ ra dần cho một trận tơi bời, để hỏi cho ra lẽ chuyện hò hẹn nầy. Ðánh đập đã nư rồi, Mai mới sửa soạn đi làm, mà còn hăm dọa sẽ đánh đập dài dài, chừng nào thú nhận hết tội lỗi mới thôi.
Các con đã đi học từ sớm, nằm rũ riệt một mình, thân thể đớn đau khôn tả, mà Bích Ly chi mong mõi diễn biến hai ngày qua chi là giấc mộng. Nhưng dấu vết nguyên vẹn trên thân thể bầm dập nhắc nhở sự thực phủ phàng mà nàng đã gánh chịu biết bao năm trời. Hồi lại thời con gái được bao người săn đón, nhưng lòng nàng chỉ yêu thương Mai, có lẽ nhờ Mai khéo tán tỉnh và giỏi chiều chuộng. Do đó, dù Mẹ khuyên ngăn, cho rằng Mai kém chân thật, nhưng nàng vẫn cương, quyết chết sống vì tình khiến bà phải xiêu lòng. Thế nhưng chỉ thành hôn với nhau chừng ba tháng, từ một điểm bất đồng nhỏ nhoi, Mai đã nổi cơn hành hung vợ rồi. Giận dỗi nàng xách va li về Cai-Lậy với Mẹ để lo thủ tục ly dị. Mẹ vừa gặp mặt con thì mừng rú lên, nhưng có lẽ thoáng thấy nàng kém vui, mà cũng không thấy mặt rể, nên ngẫn ngơ một chút, rồi hỏi con dồn dập: "Ủủa thằng Mai đâu mà để con đi một mình vậy?". Ðang vui bỗng bà buồn lo biến sắc. Lòng Mẹ bao la không bờ bến, một đời tận tụy hy sinh, thương con quấn quít chẳng rời mà phải ép lòng gả con. Con đã lấy chồng, lòng Mẹ vẫn chưa yên, đêm ngày thấp thỏm mong cầu con hạnh phúc, nên chi thấy con cô đơn về nhà đã lo sợ thất thần như vậy. Bích Ly vội ấp úng: "Nhớ má quá con về thăm, mà anh Mai căn dặn con phải trở lên liền, kẻo ảnh nhớ con lắm!" Ôi Mẹ thương con như vàng như ngọc, không lời nặng nhẹ, không cái đánh khẽ. Con đau yếu, trầy trụa sơ sài đã cuống quít lăng xăng, ngồi đứng không yên. Nay nếu bà khám phá được rằng đứa con mà bà nâng niu quí giá đó đã bị người ta hành hạ chửi mắng... như một con vật thì bà sẽ đau khổ biết là dường nào. Thế là nàng đành phải nói láo, phải đóng kịch hạnh phúc cho bà được yên lòng. Mai thấy vợ chỉ xa chồng có một ngày rồi quay về, nắm được nhược điểm nên ngày càng lấn lướt áp đảo vợ. Nhẫn nhịn mãi cũng quen, nàng bản chất sẵn hiền lành dễ dãi, chóng quên..., nên dù bị hành hạ thế nào rồi cũng thứ tha, thương yêu chồng như cũ. Bích Ly thổn thức một mình:
- Sao anh không hiểu lòng em? Sao anh lại muốn giết em vậy anh Mai?
"Nhạn đậu cành sung, dương cung anh bắn nhạn
Con nhạn chết rồi! Làm bạn với ai đây?"
Em lỡ chết rồi, anh sẽ làm bạn với ai vậy anh Mai?
Mai gom chìa khóa xe, cắt đường giây điện thoại, để cô lập hóa vợ, mà không ngờ, ngày hôm sau đã có người lò dò đến bấm chuông. Bích Ly ráng lê lết mở cửa, thấy khách nàng lập bập gọi: "Em Xuân Lan!", thì sức đã mòn nên qụy xuống.
Xuân Lan nhỏ hơn Bích Ly vài tuổi nên đối xử với bạn như chị ruột. Xuân Lan nóng tánh và thẳng thắn, đã đôi lần lời qua tiếng lại với Mai, nên từ lâu chỉ đến tiệm thăm bạn chớ không chịu đến nhà. Nhân khi hãng xưởng tạm đóng cửa mấy ngày để kiểm kê tài sản, Xuân Lan rãnh rang đến tiệm thì nghe tin bạn đau, nên tức ghé lại nhà. Nhìn thân hình tiều tụy của bạn, Xuân Lan hoảng hốt la thất thanh:
- Trời đất ơi! Sao thân thể chị lại ra nông nỗi như thế nầy?
- Chị!... Chị ...té em à!
- Không phải đâu! Chị đừng dấu em! Ảnh đánh chị phải không?
- Chị té thiệt mà!
- Không! Thằng chả đánh chị. Em phải hỏi thằng chả cho ra lẽ!
Xuân Lan chụp lấy điện thoại, thì Bích Ly lắc đầu, rồi nói tiếp:
- Vô ích em à! Ðiện thoại đã bị cắt giây rồi. Em muốn biết thì chị kể cũng được, nhưng em đừng thố lộ với ai, lọt đến tai ảnh, ảnh sẽ giết chị.
Thế rồi qua làn nước mắt đầm đìa, Bích Ly kể cho bạn đầu đuôi tự sự. Xuân Lan cũng không cầm được nước mắt, tức giận hỏi bạn:
- Vậy mà chị chịu được sao? Tại sao chị không đi thưa cảnh sát? Không đề đơn ly dị ảnh?
- Em ơi! Chị mồ côi cha từ nhỏ. Con không cha như nhà không nóc, khổ sở nghèo túng, tủi nhục lắm em à! Vả lại, thưa bỏ nhau lại làm khổ lây con cái, chúng buồn phiền xấu hổ với bè bạn. Có lẽ cái nghiệp của chị phải gánh chịu nỗi khổ nầy, bổn sư chị đã giải thích như vậy đó!
- Ối! Hơi đâu chi tin mấy thầy. Mấy ổng có bị ai đánh đập đâu mà thấu rõ được nỗi đau của kẻ khác, nên mới bày đặt dạy là nhẫn nhục, từ bi hỷ xả, oan nghiệp..., chớ nếu ai đụng chạm đến mấy ổng thì chưa chắc à!
- Ý! Em đừng nóng nói bậy mà mang tội. Nhờ quý Thầy dạy dỗ mà chị mới thêm sức chịu đựng mà vơi khổ, bằng không có lẽ chị đã treo cổ từ mười mấy năm về trước rồi!
- Thằng chồng chị ác quá! Con gái hưởng đức cha. Rồi đây, ba đứa con gái nó sẽ lãnh quả báo, chồng hành hạ đánh đập cho nó biết thân.
- Ý! Sao em nói nghe ghê quá vậy? Con chị mà có bề gì, chắc chị càng khổ gấp bội.
Rồi bỗng nhiên Bích Ly đến bàn thờ Phật, chấp tay thành tâm khấn vái: "Con cầu xin Ðức Phật từ bi ban ân điển cho các con của con trọn đời hạnh phúc, còn bao nhiêu gian khổ nhọc nhằn xin để một mình con gánh chịu".
Xuân Lan chỉ biết lắc đầu thở dài: "Chồng đối xử tàn ác như sài lang mà không một lời hờn oán, không thưa không gởi. Với chồng con, chị quả là vị Bồ Tát mà họ đui mù nào có thấy được đâu?".
Ðối với kẻ tình nguyện chịu đọa đầy thì đâu còn phương cách gì để bảo vệ họ. Thương xót bạn, ấm ức trong lòng nhưng cuối cùng, Xuân Lan cũng đành từ biệt.
Về nhà Xuân Lan bực bội đứng ngồi không yên, nên đành phải giải tỏa bằng cách liên lạc vài người bạn chí thân, tỉ tê kể lể mọi chuyện. Và dỉ nhiên, những người nầy cũng dặn dò bạn bè "y chang" như vậy. Thế rồi các bà, như một hệ thống truyền tin, cứ đều đặn loan truyền bản tin thời sự nóng hổi ra mãi.
Không bao lâu, thì một tổng đài địa phương tiếp vận nguồn tin sốt dẻo, rồi chuyển ngay đến thím Bảy. Thím không ngờ hủ mắm tôm của mình lại tai hại dường ấy, nên bứt rứt muốn đích thân hỏi Bích Ly cho biết sự thật. Thím nóng lòng muốn chấp cánh mà bay lên Texakana ngay, nhưng đành chờ đợi hơn ba tuần, đến ngày lễ Tạ Ơn mới đi được.
Khi chú Bảy lái xe đưa vợ viếng thăm vợ chồng Mai, thì những vết bầm đã lặn nhưng thương đau vẫn ẩn hiện trong thần sắc của Bích Ly. Vốn đặc biệt có cảm tình với chú Bảy vì chú trầm lặng và lắng nghe kẻ khác, nên Mai tiếp đón khách niềm nở. Chú Bảy cũng không lãnh đạm với Mai. Tuy hơi thất vọng về hành vi vũ phu của y, nhưng chú vẫn tìm thấy Mai là kẻ có lòng, còn việc Mai khoa trương đạo đức, tu nói mà không thực hành không liên hệ gì đến chú, chú chẳng quan tâm. Chủ khách chia ra hai phe nam nữ nàn huyên tương đắc và sau đó khi khách rủ rê đi HotSprings chơi, Mai liền sốt sắng hưởng ứng. Hai người đàn ông ngồi băng trước thỉnh thoảng trao đổi vài câu chuyện bâng quơ liên quan đến lộ trình, nhưng hai người đàn bà phía sau thì dòn tan như pháo Tết. Từ chuyện quần áo đến thức ăn, rồi chuyển sang vụ động đất Cali, phim ảnh tân nhạc..., chuyện nào cũng hứng thú vô cùng. Từ từ rồi đề tài quen thuộc và ưa chuộng nhất của đàn bà cũng được tuôn ra:
- Chị nghe gì không? Vợ chồng mụ Bê rã đám rồi! (Thím Bảy đổi đề mục)
- Ừa! Mẹ ấy ngựa dàn trời mà! Mới ly dị mấy ngày, thì đã cặp với thằng kép trẻ măng hà!
- Cái con Thúy mới dữ dằn. Nó cắm cả trăm sừng trên đầu chồng, chồng ghen đánh hai tát tai thì nó đã nổi sung thiên lên, gọi cảnh sát còng đầu tức khắc.
Có tiếng tằng hắng ở băng trên, và có lẽ Bích Ly lo ngại vu vơ gì đó nên không trả lời bạn, mà hướng về chú Bảy hỏi to:
- Xin lỗi! Mình đã qua khỏi Little Rock chưa anh Bảy?
- Dạ! Mình đi hướng khác chứ không đi ngang Little Rock đâu chị!
- Hứ! Hỏi ngu mà cũng hỏi! (Mai lên tiếng).
Nghe thím Bảy kể chuyện "Vợ gọi cảnh sát còng đầu chồng", có lẽ Mai bực mình nên xài xể vợ để trút giận hờn. Ðàn bà dốt đường là chuyện bình thường, mà dù ngu thiệt cũng không ai nỡ lòng công khai nặng lời, nên chú Bảy tưởng mình nghe lầm, hoặc Mai chỉ đùa giỡn mà thôi. Chú nhìn Mai, thì thấy mặt mày y nhởn nhơ tự đắc ra uy của mình. Chú Bảy tuy xuề xòa nhưng lại thâm trầm tế nhị. Ðối với kẻ lưu manh gian xảo cũng chưa hề nặng nề hạ nhục, huống chi là công khai xỉ vả vợ. Sợ Bích Ly tủi hổ, chú vội pha trò hy vọng phá tan được bầu không khí nặng nề:
- Tôi mới là người ngu nhứt hạng đây. Bà xã tôi cứ chê tôi hoài!
- É! Ai dám chê anh ngu hồi nào? Nói ẩu hoài!
- Ờ thì bà chưa nói ra, nhưng tôi biết bà lầm thầm: "Thằng cha nầy ngu thiệt, nên chả mới chịu cưới mình!"
Rồi chú Bảy cười xòa để giúp mọi người cười theo, trừ Mai vốn giữ thân phận của vị Hội Trưởng, đạo mạo nghiêm trang knông cười cợt.
Từ xa lộ 30E, chú Bảy rẽ sang đường số 7N, lộ trình ngoằn ngoèo nầy tương đối khá xa nhưng đi trên con đường làng nhỏ hẹp len lỏi giữa cánh đồng mênh mông như đường về lục tỉnh cũng là điều hứng thú. Ði trên cầuxuyên qua hồ De Gray, nhìn thấy phong cảnh hữu tình, nên chú Bảy đề nghị quày xe tạm nghỉ ngơi. Bãi đậu xe trên một khu đất cao ven hồ, tiếp giáp với rừng cây ngập lá vàng. Những chiếc lá đã hoặc sẽ rụng vào dịp sang thu, mỗi loại có màu sắc riêng, trăm ngàn sai biệt, từ màu đỏ thẫm, tím bầm, rồi nhạc dần đến màu vàng mởn xanh tiếc nuối... đã tạo nên hơi thu bàng bạc. Trời xanh nhạt nhạt, gió mơn man nhè nhe,ĩrừng cây xơ xác, hồ nước trong xanh vắt trải dài. Phong cảnh mùa thu có nét quyến rũ, gợi nhớ, gợi buồn kỳ lạ khiến chú Bảy bùi ngùi tình nước. Quê hương chú cũng có cảnh hồ, hồ nước nhỏ nhắn xin đẹp vây quanh bởi hàng cây sao già cao nhất, nơi chú đã lưu giữ bao kỷ niệm ngày xưa.
- Em à! Cảnh hồ nầy có nhắc nhở em ao Bà-Om xứ mình không?
- Làm sao em lại có thể quên được anh Bảy!
- Em có nhớ chuyện chúng mình ngày xưa chăng? Thuở ấy em kẹp tóc thề, mặc chiếc áo dài màu mạ non thước tha, ta đưa nhau đến ao Bà Om...
Chú Bảy vừa nhắc kỷ niệm xưa, vừa đi chầm chậm xuống hồ. Thím bén gót theo sau, mắt chớp chớp, lệ ứa ven mi, thả hồn về dĩ vãng. Rồi giống y như 18 năm về trước, thím xiết chặt tay chú đi dài theo bờ hồ, đoạn thím ngồi xuống vẽ hai quả tim xoắn nhau. Ngày xưa cô thiếu nữ nhí nhảnh yêu đời đã cầu Phật Trời cho đôi tình nhân nên duyên chồng vợ. Và lần sau nầy, người thiếu phụ "sồn sồn" cầu mong hai vợ chồng già một ngày về với đất nước thương yêu. Phút giây mơ mộng ngưng động tan dần, chú Bảy bảo thím nhìn vợ chồng Mai. Hai người có lẽ cũng đang tìm về thuở ban đầu hoa mộng. Ðôi mắt ưu sầu của Bích Ly, dường như đã tràn đầy niềm tin yêu hạnh phúc. Chú Bảy thì thầm:
- Thiên nhiên có lẽ là vị thầy mầu nhiệm để hàn gắn vết thương lòng. Trong cái tinh khiết của đất trời, giận hờn, bực bội nào rồi cũng phai đi.
- Vậy té ra! Té ra! Anh gạt em. Anh cố ý nhắc chuyện chúng mình để gợi cho họ nhớ những ngày yêu thương xa xưa mà hòa giải nhau chớ gì?
- Ờ! Thì lúc đầu cũng hơi cố ý, mà sau đó anh cảm động thật tình mà!
- Em hổng chịu! Anh phải đền cho em hà!
Thím Bảy thò tay véo chú một cái đau điếng, rồi tung tăng chạy đi như một cô gái nhỏ.
- Bích Ly! Kiến cắn bụng rồi! Mình kiếm gì ăn nhe!
- Phải rồi! Tụi nầy cũng đói bụng. Anh chị định ăn gì đây? (Mai lên tiếng).
Hiểu rõ bụng dạ Mai, nên để tránh cho y ngượng ngập, chú Bảy mời mọc:
- Ở đây chắc không tìm được đồ chay. Xin anh chị vị tình vợ chồng tôi ăn đỡ đồ mặn vậy. Nghe đồn bếp núc nhà hàng Hồng Kông khá lắm!
- Thôi thì tạm ăn mặn vậy! Nhất thiết duy tâm tạo, mặn cũng vậy, tâm không động là được. Ngày xưa Tuệ Trung Thượng Sĩ trong bữa tiệc của Khâm Từ Hoàng Hậu, đã gắp đồ mặn xen lẫn với đồ chay mà có sao đâu?
- Mấy ông muốn đi đâu cũng tốt, nhưng phải lấy phòng cho tụi nầy chỉnh sơ lại cái dung nhan tàn tạ mới được! (Thím Bảy lên tiếng)
Chú Bảy lái xe về thị xã HotSprings, đến khách sạn Arlington,. Tuy đã giao hẹn sẽ đi ngay tức khắc, nhưng đàn bà lúc nào chẳng là đàn bà, chú Bảy phải kiên nhẫn chờ thím gỡ lại mái đầu, dậm thêm tí phấn, kẻ lại nét son..., rồi lại nhắc thím mang theo áo ấm. Khi hai vợ chồng bước ra ngoài, thì thấy Mai đã chờ sẵn, vài phút sau Bích Ly cũng bước ra. Chú Bảy lại nhắc:
- Có lẽ chị nên mang theo áo ấm kẻo lạnh.
Bích Ly vừa định quay trở về phòng, chợt thấy Mai chờ lâu tỏ vẻ khó chịu nên đổi ý:
- Cám ơn anh Bảy! Tôi không cảm thấy lạnh đâu!
Nhà hàng Hồng Kông không mấy sang trọng nhưng thức ăn Tàu cũng tạm hợp khẩu. Vừa ăn Mai vừa đề nghị chương trình viếng khu rừng núi Tây, leo đỉnh tháp núi Ðông, ngắm những giòng suối nước nóng đây đó... vào ngày mai, nhưng ăn cơm xong thì phải ngồi xe lừa, theo truyền thống xưa mà dạo quanh thành phố thì mới thú vị. Mùa thu, trời xụp tối nhanh. Cơm nước xong trở về thì thành phố đã lên đèn. Một cỗ xe lừa ghé trước cửa khách sạn. Bà nài ong óng cất tiếng mời mọc du kháck: "Ðây là chuyến chót trong ngày. Xin quý khánh nhanh lên kẻo trễ". Mai giục mọi người lên xe ngay. Cỗ xe lừa đóng bằng loại gỗ rắn chắc, sơn phết công phu, dài rộng... như một chiếc xe buýt với hai cửa lên xuống rộng rãi, đi đứng thong dong. Xe được kéo bởi hai chú lừa cao lớn, lực lưỡng khác thường.
Khách vừa lên xe mua vé, thì bà nài đã đon đả mở lời:
- Xin chào và giới thiệu tên tôi là Litz, và đây là thằng Mike và thằng Joe, hai chú lừa đực.
Bà nài ra lệnh cho cặp lừa cất bước. Vừa đi bà vừa giải thích không ngừng những thắng cảnh, di tích địa điểm lịch sử, nơi chốn hấp dẫn... tại địa phương. Trên đường phố sáng choang, xe cộ dập dìu mà lại được ngồi êm ái trên một chiếc xe cổ lỗ, cà rịch cà tan theo nhịp điệu lộc cộc củ tiếng chân lừa, để ngoạn cảnh quả là điều thú vị. Mọi người đều tỏ vẻ vui tươi thoải mái, trừ Bích Ly hơi co ro bởi cơn gió đã trở thành buốt giá, khiến chú Bảy đôi lần ái ngại nhìn sang. Cỗ xe lừa đang nhẹ lướt theo tốc lực thường lệ, bỗng chậm chạp rồi dừng hẳn lại. Mụ nài Litz the thé la hét đôi lừa nhưng không hiệu nghiệm. Xoay về phía hành khách, mụ giải thích:
- Cái thằng Mike nầy hay chứng bất tử lắm. Không trị nó không xong!
Rồi mụ Litz lấy roi da quất một cái trót, khiến con lừa nhảy dựng lên, bươn bả tiếp tục hành trình. Nhưng chỉ suông sẻ được một khoảng ngắn thì chú lừa cũng tự động dừng lại, khiến mụ nài cứ xử dụng roi vọt nữa. Ðiệp khúc roi vọt làm nao lòng chú Bảy, chú chợt nghĩ có thể trong một kiếp nào đó, chú đã từng là con lừa nhọc nhằn khốn khổ. Chú buông tiếng thở dài, với lời than nho nhỏ:
- Chắc mình không chịu nổi đâu?
- Cái gì mà không chịu nổi anh Bảy? (Thím Bảy nghe tiếng thở dài và tiếng than của chồng vội lo lắng hỏi dồn)
- Nếu phải làm con lừa kéo cỗ xe nặng nề nầy suốt ngày dĩ nhiên là knông làm xuể rồi. Mà làm nài, suốt ngày bô bô cái miệng, rồi khi con vật mệt mỏi nổi chứng, lại phải ra tay đánh đập, anh cũng không làm được.
Mai chen vô:
- Cái con mẹ Litz nầy hành hạ súc vật ác độc quá! Ðể tôi điện thoại thưa với Hội Bảo Vệ Súc Vật cho nó biết thân!
- Thưa thì mụ nài mất việc thì mình lại tội nghiệp. Thật ra thấy con thú bị đánh đập tôi nóng ruột than thở, chớ biết đâu chừng giữa người và lừa đã từng có giây oan nghiệp nên mới có cảnh nầy!
- Ừa đúng rồi! Biết đâu kiếp trước "ngựa Mai" nầy từng hành hạ "nài Ly", nên kiếp nầy nài Ly mới đánh ngựa Mai. Mai đánh Ly rồi Ly đánh Mai, oan oan tương báo mà...
Thím Bảy có tật nó tên tiếng Mỹ không sửa đúng giọng, thím muốn nói Mike và Litz, mà nghe thành Mai và Ly. Sợ hai bạn hiểu lầm, chú đá chân thím nhắc chừng, rồi bùi ngùi than thở:
- Ờ! Thì chúng sanh lăn lộn luân hồi, khi thất thế bị người hành hạ, khi thắng thế lại thắng tay đàn áp người, mà có ai giữ ưu thế mãi đâu? Thời gian ngắn dài nào đó, thì tất cả đều trở về cát bụi để "giũ sổ làm lại", rồi đâu ai biết được ra sau kiếp sau?
Mọi người bỗng nhiên yên lặng suy tư. Chú Bảy thấy Mai lạnh lùng khó hiểu, còn Bích Ly thì xúc động nước mắt lưng tròng. Chú muốn phá tan bầu không khí nặng nề mà bất lực.
Xe lừa dừng trước khách sạn Arlington, thì Mai đã hầm hầm phóng xuống, bước nhanh về phòng riêng mà knông nói lời nào. Bích Ly vội vã chào chia tay bạn, rồi quính quíu chạy theo chồng, trước cặp mắt ái ngại của bạn. Vừa khép kín cửa phòng, Mai liền chụp ngay đầu vợ, xuắn tóc giở hỏng lên, dộng vào tường mấy cái xính vính rồi tra hỏi:
- Tao đã cấm mầy hở môi, mà sao mầy thóc mách với vợ chồng thằng Bảy, để tụi nó bày trò lừa ngựa chửi xéo tao?
- Em đâu có nói với ai! Họ ở Houston thì em làm sao liên lạc được! Chắc họ vô tình, chớ không có ý xiêng xỏ anh đâu!
Mai đã cô lập vợ có phương pháp nên khó trách Bích Ly liên lạc với ai được. Tuy nhiên cơn giận bị người ta xỉa xói đâu dễ tự nguôi ngoai. Nếu không gây sự được với người ngoài thì Mai chỉ có cách đổ hết lên đầu vợ mà thôi.
- Hừ! Mầy là thứ đàn bà lăng loàn. Mới thấy thằng cha Bảy ngọt ngào chìu chuộng là mầy khoái mê tơi rồi. Trời lạnh lẽo như vậy mà mầy mặc đồ mỏng dánh để bẹo hình bẹo dạng nó. Cặp mắt láo liên của nó lén nhìn mầy mấy lượt, nhưng làm sao qua mắt tao nổi!
Tức bực thằng cha Bảy, Mai nổi giận bừng bừng thoi thẳng vào mặt vợ. Bích Ly ngã ngửa nằm lăn lộn trên thảm. Mai bình tỉnh thay đồ rồi nằm ngủ thanh thản như không có việc gì xảy ra.
Thím Bảy, tính hay mềm lòng, chứng kiến cảnh con lừa làm việc cực nhọc suốt ngày còn bị đánh đập, nên cứ trằn trọc không yên. Trong giấc ngủ chập chờn, thím chiêm bao thấy con lừa Mike bỗng nổi chứng đó bà nài Litz một cái bầm cả mặt mày. Dù chỉ là chuyện mộng mị, song thím vẫn khoái chí chuyện con lừa phục hận, nên muốn kể cho chồng nghe, nhưng chú lại đang mãi mê đọc báo tường thuận hai trận cầu bóng bầu dục ngày qua. Thím vội trang điểm qua loa rồi phóng nhanh sang phòng Bích Ly dộng cửa ầm ầm để báo tin vui. Chờ đợi một lúc lâu, vừa thấy bóng dáng Bích Ly hé mở cửa, thím liền phát thanh ào ào, cũng với lối tên Mỹ không thèm sửa:
- Bích Ly à! Ta vừa chiêm bao vui ghê đi. Ta thấy con ngựa Mai nó quật khởi đá mẹ nài Ly một cái như trời giáng, sưng hết mặt mày vậy đó!
Con bạn êm ru không trả lời khiến thím ngạc nhiên chăm chú quan sát bạn. Thấy mặt mày bầm dập của Bích Ly thím tức khắc hiểu nguồn cơn nên nổi nóng xô cửa bước hẳn vào phòng tìm Mai gây sự. Tuy nhiên khi nhìn thấy Mai ngồi trên ghế, vẻ mặt trang nghiêm đạo mạo, tay lần chuỗi, miệng niệm Phật, thím sững sờ buồn nôn khựng lại. Phải cố gắng lắm cuối cùng, thím mới nghẹn ngào từng tiếng:
- Trời ơi! Sao anh lại có thể đối xử với chị tàn tệ như vậy?
- Có chi đâu? Tôi chỉ hướng dẫn Bích Ly chút ít đạo đức mà thôi!
- Hướng dẫn đạo đức bằng đấm đá, mà anh nghe được sao?
- A! Về điềm nầy trong Phật Giáo gọi là "tùy bệnh cho thuốc". Bệnh nan y thì liều thuốc cũng nặng một chút. Ðức Phật có dạy rằng...
Thím Bảy bịt tai lại, chạy tránh ra xa để những lời Phật ngôn xuất từ cửa miệng của con người có lòng dạ như rắn rết sài lang khỏi phải xoáy vào tai thím nữa.
Huỳnh Trung Chánh
Tháng 1, 1990
Lời ngoài truyện:
Câu truyện trên, không rõ mức độ hư thật như thế nào, đã do anh Bảy Houston thuật và tác giả vội ghi chép lại, với vài điều thêm bớt. Tuy nhiên, anh chỉ thuật đến đoạn xuống xe lừa thì chấm dứt thình lình, nên tác giả phải tưởng tượng thêm phần kết. Viết xong, tác giả gởi bản thảo đến anh chị Bảy thỉnh ý, thì chị Bảy cằn nhằn: "Ừa! Bích Ly quả thật bị đánh nữa đó! Nhưng anh kết luận tăm tối quá! Người ác sao cứ để hoành hành hoài vậy được?"
Tác giả hiểu trong thâm ý, chị Bảy mơ chuyện ác nhân ác báo. Tuy nhiên từ khi nghe chuyện nầy, tác giả cảm thấy bực bội bất an, lời văn vì vậy đã có phần châm biếm và khinh bạc, kể ra cũng tự xấu hổ vì đã không giữ nổi chánh ngữ, chánh niệm rồi. Do đó, trong khi ông Hội Trưởng vẫn còn đang sống sờ sờ, tiếp tục mở máy rao giảng đạo đức, thì làm sao tác giả dám viết lại đoạn kết thảm thiết "quả báo nhản tiền" để trù ẻo ông ta cho vừa lòng chị Bảy được.
Thôi thì tác giả cũng ráng gò gẫm viết đoạn kết khác thuần hậu hơn may ra không bị phản đối nữa. Ðoạn kết thứ hai như sau:
*
Câu chuyện oan nghiệp của vợ chồng cha Bảy khiến Mai nhức đầu khó chịu. Cơn nhức gia tăng cường độ đến nỗi khi bước xuống xe, Mai bị xây xẩm mặt mày, phải cố gắng lầm lì lê lết về phòng, buông mình xuống ghế dựa thở dốc. Mai bỗng nhớ mấy tháng trước bác sĩ có báo động chàng về lượng cholesterol trong máu, mà chàng cứ ăn uống tưng bừng chẳng chịu cữ kiêng. "Không lẽ cái miệng ăn mắm ăn muối của cha Bảy lại ứng nghiệm? Mình sắp bị giũ sổ rồi sao?" Ý niệm mình sẽ chết khiến Mai có cảm giác lạnh lẽo cô đơn lạ lùng. Bao nhiêu hùng khí tham đắm lợi danh trong khoảnh khắc đều tan biến. Giờ đây, hình dung lại những lúc lăn xăn khoe khoang đạo đức Mai thấy mình sao hời hợt lố bịch quá! Mai than thầm: "Ngày xưa mình mới đến chùa, thầy dạy lễ Phật để tập tính khiêm cung thì mình chê bai. Mình chỉ cầu danh sưu tầm những giáo lý cao siêu nói năng lưu loát mong được mọi người thán phục, chớ không thật sự tu dưỡng tính tình. Vì cầu danh nên sanh tâm bươi móc nói xấu người hầu đề cao mình. Cứ thế, ngày mình càng khoác lác, càng bịp bợm xử dụng đủ mọi thủ đoạn để tự phô trương đạo đức rổng tuếch, mong mỏi không ai rõ chân tướng của mình. Rồi mình lại sanh ra hiếp đáp vợ để tạo cái ảo tưởng mình đáng được tôn kính, trọng vọng..., người người phải mù quáng tuân theo". Như tỉnh cơn mơ, Mai hồi tâm quan sát người vợ gầy gò. Bích Ly đang co ro sợ hãi khép ở góc phòng, không biết ông chồng dã man sẽ trút cơn phẫn nộ lúc nào? Mai ăn năn khôn xiết. Chàng đến bên nàng dịu dàng:
- Tội nghiệp em cưng. Anh tu hành lầm lạc gây khổ sầu cho em biết dường nào!
Rồi Mai ôm chầm Bích Ly, để hai vợ chồng cùng nức nở khóc trong hạnh phúc ngập tràn.
*
Viết xong, tác giả thỉnh ý anh chị Bảy lần nữa. Lần nầy thì anh Bảy chỉ trích:
- Ông viết chuyện không tưởng quá sức! Cái ông Hội Trưởng cao ngạo kiêu căng, ngay như chư Tổ sư cảnh tỉnh y còn chưa chắc được, huống chi là thằng Bảy dốt nát, ngu ngơ nầy!
Tác giả lại ngần ngừ muốn viết lại phần kết luận nhưng cụt hứng đành thỉnh ý một số thân hữu khác góp ý. Tác giả lại càng rối trí hơn nữa, vì mỗi người lại đưa ra một kết luận riêng biệt. Có người nhất định phải cho Bích Ly đi tu, có người đề nghị Bích Ly tự tử, và có kẻ nhất quyết gọi cảnh sát 911... Tóm lại, tác giả phân vân, và do đó, chỉ biết xin bạn đọc tự chọn lấy một kết luận vừa ý.
HẾT
Nhim2008
09-04-2009, 13:59
CAO TĂNG DỊ TRUYỆN
(Truyện Kể Các Vị Cao Tăng Trung Quốc)
1. LÃO TỬ (LÝ NHĨ)
Sanh năm Ðinh Tỵ
Ðời Chu Ðịnh Vương năm thứ ba (604 trước Công nguyên), ngày mười bốn tháng chín, Lão Tử sanh ở nước Sở, quận Trần, huyện Khổ, làng Lại, xóm Khúc Nhơn, họ Lý tên Nhĩ, tự là Bá Dương, húy là Ðam. Ở trong thai mẹ 81 năm, xẻ hông trái mà sanh, mới sanh đầu đã bạc trắng nên hiệu là Lão Tử; sanh ở dưới cây Lý nên có họ Lý. Mặt vàng, mi đẹp, tai dài, mắt to, mũi có hai cột, tai có ba cửa, trong hội Thích Ca, Lão Tử là Bồ tát Ca Diếp. Kinh nói “Ca Diếp ứng sanh Chấn Ðán, hiệu là Lão Tử, đặt giáo không ngoài để trị quốc, mượn thuật thần tiên để trị thân”. Từ Phật diệt độ đến Lão Tử sanh là 346 năm. (1)
Lão Tử vào Lưu Sa (2)
Chu Giản Vương năm thứ tư (582 trước Công nguyên, Lý Nhĩ ra làm quan Thủ Tạng Sứ, mười ba năm đổi làm Trụ Hạ Sử, suốt năm mươi bốn năm không đổi chức. Người đời gọi là Sử Ấn. Kính Vương nguyên niên (519 trước Công nguyên, Ngài 86 tuổi, vì vương thất quá nhiều (lăng trì), ông bỏ Chu, đi về Tây vào Hàm Cốc Quan. Quan Sinh Y Hỷ thấy mây tía từ Tây đến, biết có đạo nhân sẽ đi qua, bèn rước vào làm lễ. Ngài làm Ðạo Ðức Kinh năm ngàn lời đưa cho Y Hỷ rồi vào Lưu Sa năm Nhâm Ngọ. Ðến nước Kế Tân thấy tháp chùa tự thương mình không đến kịp bèn đối trước tượng nói kệ:
Ta sinh sao quá muộn
Phật ra đời sớm quá
Chẳng thấy Thích Ca Văn
Trong lòng thường áo não.
(Ngã sinh hà dĩ vãn,
Phật xuất nhất hà tảo,
Bất kiến Thích Ca Văn,
Tâm trung thường áo não).
Không biết sau thế nào.
(1) Theo sử Trung Quốc – Chu Thư dị ký, Phật đản sanh ngày mồng tám tháng tư năm Giáp Dần, đời Tây Chu Chiêu Vương năm thứ 24 (1028 trước Công nguyên)
(2) Lưu Sa: Vùng sa mạc Taklamakan, phía Tây Trung Quốc. Trên đường sang Ấn Ðộ ngài Huyền Trang từng đi ngang đây.
2. KHỔNG TỬ
Khổng Phòng Thúc ở nước Lỗ, ấp Tưu, làng Bình, con Phòng Thúc là Bá Hạ, con Bá Hạ là Thúc Lương Hột. Ông này trước cưới con gái họ Châu sanh con là Mạnh Bì, bất tài. Sau cưới con gái họ Nhan là Chưng, cầu khẩn ở núi Ni Khâu mà sanh Khổng Tử bèn đặt tên là Khâu, tự là Trọng Ni. Tối hôm sanh (năm Canh Tuất) có hai con rồng lượn quanh nhà, Ngũ Lão giáng giáng xuống trước sân, phòng của Nhan Thị nghe tiếng nhạc trời. Khổng Tử thân cao chín thước sáu tấc; lưng rộng mười vi, tay dài quá đầu gối, xương trán gồ lên như hình chữ nhật, hà mục, hải khẩu, mặt rồng, trán vuông, hàm én, râu rồng, nhìn như cọp, lông mi có mười hai vằn, mắt có sáu mươi bốn lý. Ngày 4 tháng 11 năm thứ hai mươi mốt đời Chu Linh Vương (551 trước Công nguyên) tức năm thứ hai mươi hai đời Lỗ Nhượng Công vậy. Trên hội Thích Ca, Khổng Tử là Nho Ðồng Bồ tát, Nhan Hồi là Nguyệt Quang Bồ tát. Kinh nói: “Trong cõi Diêm Phù, có nước Chấn Ðán, ta sai ba Thánh ở đó giáo hóa, nhân dân từ ái, lễ nghĩa đầy đủ”. Phật diệt độ đến Khổng Tử sanh là 400 năm.
Thái Tể nhà Thương hỏi Khổng Tử rằng:
- Phu Tử là bậc Thánh chăng?
- Khâu học rộng nhớ nhiều, chẳng phải Thánh nhân.
- Tam vương là Thánh chăng?
- Tam vương khéo dùng trí dũng, Thánh thì chẳng phải chỗ Khâu biết.
- Ngũ Ðế là Thánh chăng?
- Ngũ Ðế khéo dùng nhân tín, còn Thánh thì Khâu chẳng biết.
- Tam Hoàng là Thánh chăng?
- Tam Hoàng khéo dùng thời chính (thời cơ, chính trị) còn Thánh thì Khâu chẳng biết.
Thái Tể cả kinh hỏi:
- Như thế thì ai là Thánh nhân?
Phu Tử động dung hồi lâu đáp:
- Khâu nghe phương Tây có bậc đại Thánh, không trị mà chẳng loạn, không nói mà tự tín, không giáo hóa mà tự hành, mênh mông người chẳng thể đặt tên.
3. PHẬT GIÁO VÀO TRUNG HOA
Niên hiệu Vĩnh Bình năm thứ tư (61 TL), Hán Minh Ðế đêm mộng thấy người vàng, thân cao hơn một trượng, cổ đeo vòng mặt trời, ngực đề chữ vạn, bay đến sân điện, ánh sáng chói lọi. Sáng lại, vua hỏi quần thần, Thái sử Phó Nghị tâu rằng:
Thần theo Chu Thư dị ký, ngày mồng tám tháng tư năm Canh Dần, năm thứ hai mươi bốn đời Chiêu Vương (Tây Chu). Sáng sớm chợt có gió lạ nổi lên, cung điện nhà cửa thảy đều chấn động, có ánh sáng năm màu vào sâu mọi chỗ, biến khắp bốn phương, màu xanh hồng. Vua hỏi Thái sử Tô Diêu đây là điềm gì? Thái sử đáp: “Tây phương có Ðại thánh nhân sanh”. Vua nói: “Ðối với đây (Trung Hoa) thế nào?” “Lúc này không có ông ta. Sau một ngàn năm, lời dạy mới đến”. Vua sai khắc lên đá để nhớ, ở trước đền thờ Nam Giao. Tính năm thì đến nay là năm Tân Dậu được một ngàn không trăm mười năm. Bê hạ nằm mộng có lẽ ứng với đấy.
Vua thầm tính rồi sai các ông Trung Lang, Tương Thái Âm, Bác sĩ Vương Ðạo, Tần Cảnh ... 18 người đến Tây Vức, thăm dò đạo này.
Hán Minh Ðế niên hiệu Vĩnh Bình năm Ðinh Mão (67 TL), Phật giáo bắt đầu vào Trung Hoa.
4. SA MÔN NHIẾP MA ÐẰNG,
TRÚC PHÁP LAN đến LẠC DƯƠNG
Các ông Thái Âm ... đến nước Nguyệt Chi, một lãnh thổ gần Thiên Trúc, gặp hai Phạm tăng là Ma Ðằng và Pháp Lan muốn dâng kinh tượng đến nước Trung Hoa, bèn cùng trở về phương Ðông. Niên hiệu Vĩnh Bình năm thứ mười (67 TL) đến Lạc Dương. Ma Ðằng vào triều hiến kinh tượng. Vua rất vui truyền đến ở Hồng Lô Tự, Pháp Lan đi đến sau.
Niên hiệu Vĩnh Bình năm thứ mười bốn (Kỷ Tỵ) http://www.tayphuong.vn/diendan/images/smilies/yahoo/79.gif vua xuống chiếu ở ngoài cửa Tây Ung lập riêng một chùa, mời hai ngài đến ở. Vì Bạch Mã chở kinh đến nên đặt tên chùa là Bạch Mã. Vua đến chùa hỏi Ma Ðằng:
- Sau khi Phật ra đời vì sao không giáo hóa đến đây?
Ma Ðằng đáp:
- Nước Ca tỳ la vệ ở Ấn Ðộ, ba đời chư Phật trong tam thiên đại thiên thế giới, trăm ức nhật nguyệt đều ở đây xuất hiện. Thiên thần rồng quỷ có nguyện lực đều sanh ở đó nhận sự giáo hóa, ngộ đạo. Chỗ khác Phật tuy không đến, nhưng ánh sáng chiếu khắp mọi nơi. Một ngàn năm trăm năm đều có thánh nhân truyền lời dạy của Phật đến để giáo hóa.
Vua rất vui. Hai ngài hỏi tiếp:
- Phía Ðông chùa có quán gì?
Vua đáp:
- Xưa có đống đất tự nhiên nổi lên, dẹp đi lại nổi, đêm có ánh sáng lạ, dân gọi là mộ Thánh. Do đó thờ, nghi là thần Lạc Dương.
Ma Ðằng nói:
- Theo Kim Tạng ở Thiên Trúc ghi. Vua A Dục chôn Xá lợi Phật khắp thiên hạ tới 84,000 chỗ. Nay ở Trung Hoa có mười chín chỗ, đây là một.
Vua thất kinh liền đến lễ bái. Chợt có một vầng ánh sáng tròn hiện trên mộ, ba thân hiện trong ánh sáng. Thị vệ hô “Vạn tuế!”. Vua mừng nói:
- Nếu không gặp hai đại sĩ, đâu biết được Di hựu của Thượng Thánh.
Rồi xuống chiếu xây tháp lên trên theo cách thức của hai ngài. Tháp hoàn thành có chín tầng, cao hai trăm thước. Năm sau ánh sáng lại hiện, có cánh tay sắc vàng lộ trên đỉnh tháp ca thước như trong lưu ly thấy hương trời. Vua lại đến chiêm bái. Ánh sáng theo bước chân xoay vòng, từ ngọ đến giờ thân (3 giờ chiều) mới diệt.
Vua đối với Phật pháp rất kính tín. Niên hiệu Vĩnh Bình năm thứ mười bốn (71 TL), đạo sĩ Ngũ Nhạc là Trữ Thiện Tín, Phí Thúc Tài ... đố kỵ, bài xích nói:
- Phật pháp hư ngụy.
Ma Ðằng, Pháp Lan tâu vua:
- Pháp xuất thế của Phật, nước lửa chẳng thể hoại. Xin vua cho cùng đạo sĩ thí nghiệm.
Vua sắc Thiện Tín ... đem hết kỳ kinh, bí quyết sẵn có cùng sa môn đem kinh Phạn vào ngày rằmg tháng Giêng, lập đàn đốt để nghiệm. Các kinh của đạo sĩ đều bị đốt sạch, chỉ có kinh tượng Phật vẫn còn nguyên. Bọn Thiện Tín xấu hổ chết. Bao nhiêu đạo sĩ đều đê đầu khâm phục. Ngài Pháp Lan ở trong đại chúng xướng kệ:
Chồn chẳng phải sư tử
Ðèn chẳng phải sáng trời trăng
Ao không có sức chứa của sông biển
Gò chẳng tươi tốt như núi rừng
Mưa pháp rưới thế giới
Giống lành được nứt mầm
Hiển thông pháp hy hữu
Nơi nơi giáo hóa quần sanh.
(Hổ phi sư tử loại
Ðăng phi nhật nguyệt minh
Trì phi giang hải nạp
Khưu vô sơn nham vinh
Pháp vân thùy thế giới
Thiện chủng đắc khai manh
Hiển thông hi hữu pháp
Xứ xứ hóa quần sanh).
Vua càng thêm kinh dị. Hai tăng học chữ Tàu, sau dịch kinh Tứ Thập Nhị Chương, Thập Ðịa Ðoạn Kết, Phật Bổn Sanh, Pháp hải Tạng, Phật Bổn Hạnh ... năm kinh.
Niên hiệu Vĩnh Bình năm thứ mười sáu (73 TL) Nhiếp Ma Ðằng nhập diệt. Trúc Pháp Lan tự dịch năm bộ kinh mười ba quyển.
http://www.tayphuong.vn/diendan/images/smilies/yahoo/79.gif Có lẽ là Vĩnh Bình thứ 12 năm Kỉ Tỵ hoặc Vĩnh Bình 14 năm Tân Mùi.
5. AN THẾ CAO
Sa môn An Thanh tự Thế Cao người nước An Tức http://www.tayphuong.vn/diendan/images/smilies/yahoo/79.gif, đến kinh đô dịch kinh. Trong khoảng 23 từ Mậu Tý (148) (**) đến Canh Tuất (170) (***) Ngài dịch được 90 bộ, 115 quyển.
Năm Tân Dậu, Ngài đến Lô Sơn, ở đây có thần miếu rất linh, dân chúng đến dâng lễ cầu phước đông đến hơn ba mươi thuyền. Thần giáng cơ bảo:
- Dưới thuyền có Sa môn, nên mời lại.
Dân chúng mời Ngài đến, Thần lại giáng cơ nói:
- Tôi xin thưa cùng ông xuất gia học đạo. Tôi ưa bố thí mà sân nhiều, nay làm thần miếu, thọ mạng có thể hết sớm, không biết lúc nào, lại sợ đọa vào địa ngục. Nay tôi có ngàn khúc lụa và một số bảo vật, ông hãy vì tôi làm Phật sự, tạo tháp để cho tôi được sanh chỗ lành.
Ngài bảo thần miếu hiện hình. Thần hiện thành con rắn lớn, khóc lóc như mưa. Ngài bèn thâu lụa, bảo vật rồi từ biệt đi. Ðến Dự Chương, Ngài dựng chùa Ðại An, xây dựng tháp ở Giang Hòa. Chẳng bao lâu thần miếu chết, về báo đã được sanh cõi lành. Sau người ở Sơn Tây, thấy xác rắn trong đầm, đầu đuôi đài đến mấy dặm.
Ðến nay, huyện Tầm Ðương vẫn còn thôn Ðại Xà.
http://www.tayphuong.vn/diendan/images/smilies/yahoo/79.gif Nước An Tức (Parthic) – phía Ðông Bắc Ba Tư ngày xưa.
(**) Thời Ðông Hán – Hoàn Ðế niên hiệu Kiến Hòa.
(***) Thời Ðông Hán – Linh Ðế niên hiệu Kiến Ninh.
6. MÂU BÁC
Nhà Hán niên hiệu Sơ Bình (190 – 194), có Mâu Tử tránh đời ẩn cư, nghiên cứu Phật đạo, làm 37 thiên Lý Hoặc, rất được sùng mộ. Luật sư Lương Tăng Hữu thu thập và lưu truyền.
7. TÀO THỰC
Trần An Vương Tào Thực, tự là Tử Kiến, con giữa của Tào Tháo, mười tuổi đã thuộc thơ văn trên mười ngàn chữ. Hàm Ðan Thuần trông thấy kinh hãi cho là người nhà trời. Ông mỗi lần đọc kinh Phật đều hết lòng tán thánh cho là tông chí đạo, rồi chế cách tụng thành bảy thanh, thăng giáng khúc chiết. Người đời tụng theo đó. Khi ông dạo Ngư Sơn, nghe có tiếng lạ lùng, giọng điệu ai oán, ông phỏng theo đó để tán tụng kinh Phật. Ông có viết Biện Ðạo Luận có ý chê Hoàng Lão (Lão giáo).
8. KHƯƠNG TĂNG HỘI
Tam Tạng Khương Tăng Hội hành hóa đến nước Ngô. Sư là con của Ðại Thừa Tướng nước Khương Cư, tên Tăng Hội, đi tu. Ðến Kiến Chương, cất am tranh, lập bàn thờ tượng Phật, hành đạo. Người nước Ngô lấy làm lạ. Ngô Tôn Quyền biết được, liền nói:
- Hay là như mộng của Hán Minh Ðế, Phật đạo đã truyền đến chăng?
Bèn sai người vời Sư đến hỏi. Tăng Hội trình bày việc Như Lai tịch diệt và nói:
- Như Lai nhập diệt đã ngàn năm rồi nhưng linh cốt xá lợi vô cùng linh ứng. Xưa vua A Dục thờ tám mươi bốn ngàn tháp. Ngay đây cũng có di hóa (xá lợi để lại).
Ngô Tôn Quyền nói:
- Nếu Thầy cầu được xá lợi, ta sẽ tạo tháp phụng thờ. Còn cầu không linh nghiệm, Thầy sẽ bị nghiêm phạt.
Tăng Hội xin kỳ hạn bảy ngày. Trở về bảo quyến thuộc:
- Phật pháp hưng thịnh hay bị phế bỏ đều do lần này. Mọi người nên chí tâm cầu khẩn.
Qua bảy ngày, chẳng thấy hiệu nghiệm. Tăng Hội lại xin triển hạn bảy ngày nữa, cũng chẳng thấy gì. Ngô Tôn Quyền nói:
- Mau đem ông thầy này bỏ vào vạc nấu!
Tăng Hội thầm nghĩ: “Ðức Phật từ bình thường, lẽ nào phụ lòng ta”. Rồi năn nỉ cho thêm bảy ngày. Ðến canh năm, nghe co tiếng leng keng, Sư liền trổi dậy nhìn vào bình, thấy hiện ngũ sắc, bèn kêu to:
- Quả đúng như nguyện của ta!
Hôm sau Sư đem vào triều. Ngô Tôn Quyền cùng công khanh xúm vào xem, khen:
- Thật là điềm hiếm có!
Tăng Hội nói:
- Oai thần của xá lợi, tất cả thế gian không gì làm hoại được.
Tôn Quyền sai lực sĩ lấy chùy đập, ánh sáng vẫn rực rỡ. Vua bèn lập chùa, dựng tháp, đặt tên làng là Phật Ðà, chùa là Kiến Sơ. Ðây là ngôi chùa, tháp đầu tiên của Giang Nam.
Tôn Quyền hỏi Thái phó Hám Trạch:
- Phật giáo vào Trung Quốc năm nào của thời Hán Minh Ðế? Do đâu lại không đến phương Ðông?
Hám Trạch nói:
- Niên hiệu Vĩnh Bình năm thứ mười một Phật pháp mới đến, cách đây một trăm bảy mươi năm. Ðến năm thứ mười bốn, đạo sĩ Ngũ Nhạc là nhóm Trừ Thiện Tín đấu phép với tăng Ấn Ðộ. Thiện Tín thua, hổ thẹn mà chết. Người Trung Quốc không được xuất gia, nên không có người truyền bá. Hơn nữa, vì loạn ly nhiều năm. Bây giờ Phật giáo mới đến nước ta.
Tôn Quyền nói:
- Ðã có Khổng Tử viết kinh sách dạy dỗ đời sau; rồi Lão, Trang tu thân tự vui; phóng lãng chốn núi rừng, tâm hồn đạm bạc. Vậy còn thờ Phật làm chi nữa?
Hám Trạch thưa:
- Hai đạo Khổng Lão là pháp trời chế ra để dùng, nên không dám ngược ý trời. Phật giáo thì chư thiên vâng làm, không dám trái ý Phật. Xem đó thì rõ hơn, kém.
Ngô Tôn Hạo sau nối ngôi cha, hạ lệnh dẹp đền chùa, miếu mạo. Quần thần can:
- Tiên đế cảm điềm lành mà lập chùa, Chúa công chẳng nên phá hủy!
Tôn Hạo bèn cho gọi Sư lại hỏi:
- Phật nói có báo ứng thiện ác, Thầy có thể giảng cho ta nghe chăng?
Sư nói:
- Minh chủ lấy hiếu từ trị thiên hạ, thì đế hiệu Xích Ô được rõ ràng, người dân sống lâu. Dùng nhân đức nuôi vạn vật thì suối ngọt tuôn trào, lúa tốt nảy mầm. Lành có cảm ứng, ác cũng vậy. Nếu làm ác ở chỗ kín đáo, quỷ sẽ giết, làm ác ở chỗ công khai, người sẽ giết. Kinh Dịch nói “Tích thiện dư khánh” chứa điều lành thì niềm vui có dư, còn dù văn thơ hay, cầu phước cũng chẳng đến. Tuy đó là cách ngôn của nhà Nho, mà thực làm sáng tỏ lời Phật dạy.
Tôn Hạo nói:
- Thế thì Chu Khổng đã nói rồi, đâu cần Phật giáo?
Sư nói:
- Chu Khổng chẳng muốn nói sâu, nên chỉ dạy sơ lược. Phật giáo chẳng dừng ở lời cạn cợt, nên chỉ rõ ràng tường tận cái cốt yếu. Tất cả đều tốt. Thánh nhân chỉ sợ làm thiện không được nhiều. Bệ hạ sao lại không ưa?
Tôn Hạo không đáp được, bèn bỏ lệnh hủy chùa.
9. TĂNG KỲ VỰC
Sư ở Thiên Trúc, lúc mới đến Giao Châu và Quảng Châu, người ta thấy có nhiều điều linh dị. Sư đến Lạc Dương, thấy các tỳ kheo ăn mặc hoa lệ bèn nói:
- Thật trái giới luật! Chẳng phải ý Phật!
Sư xem các cung thất ở đế đô, liền nói:
- Ðại khái giống cung trời Ðao Lợi. Nhưng người khác với trời, làm dân chúng khổ cực, sửa sang như thế, không phí hay sao?
Niên hiệu Thái An năm đầu (303). Sư biết Lạc Dưong sắp có loạn, liền từ giã về Thiên Trúc. Có vị tăng xin được hỉ dạy. Sư cho nhóm chúng, lên toà nói:
Giữ miệng, nhiếp thân ý.
Cẩn thận chớ phạm ác,
Tu hành tất cả thiện,
Như vậy được độ thế.
Nói xong Sư làm thinh. Mấy trăm người đều thỉnh Sư về nhà mình thọ trai. Sư nhận lời hết. Hôm sau, năm trăm nhà đều có Sư đến thọ thực.
10. PHẬT ÐỒ TRỪNG
Sư người Thiên Trúc, họ Bạch. Ðời Tấn, niên hiệu Vĩnh Gia năm thứ tư (310), Sư đến Lạc Dương, tự nói mình hơn trăm tuổi, hớp không khí mà sống, rành về chú thuật. Bên hông Sư có một lỗ hổng, lấy bông nhét lại. Ban đêm lấy bông ra, có ánh sáng từ lỗ chiếu ra. Mỗi khi gặp suối, Sư móc bao tử, ruột ra rửa, xong lại nhét vào bụng. Sư định cất chùa ở lạc Dương để hoằng hóa Ðại pháp nhưng giặc Lưu Diệu làm loạn nên không thành.
Thời Thạch Lặc Truân Cát Pha tàn sát dân chúng rất nhiều, bộ hạ ông ta là đại tướng Quách Hắc Lược lại rất mộ Phật pháp. Sư liền truyền ngũ giới cho ông. Sau Quách Hắc lược đi chinh phạt, Sư thường báo trước sự thắng bại, Thạch Lặc nghi bèn hỏi ông ta, Hắc Lược nói:
- Có một sa môn trí thuật phi thường bảo rằng tướng quân sẽ chiếm được khu Hạ. Thần đã nhận Ngài làm thầy. Chỗ thần tâu rõ trước sau đều là lời của Ngài.
Thạch Lặc vui mừng nói:
- Trời ban cho ta!
Bèn gọi Sư đến hỏi:
- Phật đạo có linh nghiệm gì?
Sư biết Thạch Lặc không đạt được lý thâm sâu, chỉ có thể dùng đạo thuật để biểu diễn, liền rút một bát nước, đốt hương chú nguyện, giây lát có hoa sen xanh hiện ra. Thạch Lặc nhân đó tin phục, Sư cũng nhân đó can:
- Vua lấy đức trị nước thì tứ linh sẽ hiện điềm lành.
Thạch Lặc rất vui. Sau đó vì phẩn nộ, Thạch Lặc định hại các đạo sĩ và làm khổ Sư. Sư bèn tránh mặt. Thạch Lặc sai người kiếm chẳng ra, thất kinh nói:
- Ta có ý hướng về Thánh nhân, Thánh nhân lại bỏ ta mà đi!
Ðêm đó, Thạch Lặc không ngủ được, thao thức nghĩ đến Sư, muốn được gặp. Sư biết ông ta đã hối lỗi, sáng hôm sau bèn đến, Thạch Lặc nói:
- Hôm qua ngài đi đâu?
Sư đáp:
- Chúa công có lòng giận nên tôi phải tạm tránh. Nay Ngài đổi ý, tôi mới dám đến.
Thạch Lặc cười to.
Sau Thạch Lặc chết, em là Hổ nối ngôi, hết lòng phụng sự Phật Ðồ Trừng, Sư bảo Hổ:
- Ðế vương thờ Phật cần “Cung - Kiệm - Từ - Nhẫn” khen ngợi đạo pháp, không làm điều bạo ngược, không hại người vô tội. Dân có làm ác thì giáo hóa họ. Ai không sửa đổi mình mới nên dùng hình phạt, nhưng nên thương xót chớ lạm dụng hình phạt nhất là những tội tử hình.
Niên hiệu Vĩnh Hòa thứ tư (348), tháng mười hai, Sư bảo đệ tử:
- Họ Thạch sắp diệt! Nước chưa loạn ta đã tịch rồi!
Bèn sai người đến từ giã Thạch Hổ, Thạch Hổ hoảng kinh nói:
- Ðại Hòa thượng vội bỏ nước ta! Sắp có nạn chăng?
Liền đến chùa thăm Sư. Sư nói:
Ra sống, vào chết, đó là đạo thường. Phân định dài ngắn, không do thêm, bớt. Có điều đáng hận là quốc gia để tâm vào Phật pháp, lập chùa độ tăng, mong được phước đức, mà cai trị lại bạo ngược, hình phạt hỗn lạm, thật trái lời Phật dạy, trọn không được phước đức. Nếu phô bày nhân chính thì lộc có thể kéo dài.
Thạch Hổ khóc lóc nghẹn ngào, biết Ngài sẽ tịch, liền đục đá làm mộ phần. Ðến ngày tám, Ngài ngồi yên thị tịch thọ một trăm bảy mươi tuổi.
Sư vào đạo một trăm lẻ chín năm mà rượu chẳng thấm môi, ăn không quá ngọ, việc phạm giới chẳng làm, lập tám trăm chín mươi ba chùa, độ hơn bảy ngàn tăng. Sư ở chỗ nào, mọi người không dám hướng về đó khạc nhổ, phóng uế, họ thường dặn nhau:
- Chớ khởi ác, Ðại Hòa thượng biết đó!
Ðại giáo vào phương Ðông, đến thời Sư rất thịnh hành. Về sau, có vị tăng từ Ủng Châu đến, thấy Sư đi vào cửa Tây. Bèn kể lại cho Thạch Hổ, Thạch Hổ cho mở mộ ra xem, chỉ thấy còn khối đá.
11. TRÚC PHẬT ÐIỀU
Sư là đệ tử của ngài Phật Ðồ Trừng, sau trụ chùa Thường Sơn nhiều năm. Sư có thần thông, thường phân thân đi nơi khác, hoặc vào núi suốt năm, đem theo mấy đấu cơm khô, lúc trở về vẫn còn dư cơm.
Có vị tăng theo Sư dạo núi, gặp tuyết xuống nhiều. Sư vào hang cọp ngủ, cọp cũng đến nằm chung. Sau tự báo ngày thị tịch, mọi người xa gần kéo nhau đến. Sư nói:
- Thân người vô thường, nếu có tâm rộng rãi trong sạch, thì hình hài mạng số tuy khác, nhưng vẫn đồng khế hợp nhau.
Nói xong, ngồi ngay ngắn mà tịch.
Ðệ tử đi núi, lại thấy Sư ngồi trên núi. Mọi người đảnh lễ hỏi:
- Hòa thượng vẫn còn sống sao?
Sư đáp:
- Ta vốn thường còn.
Nói xong, Sư biến mất. Chúng mở quan tài, chỉ thấy y và giày.
12. PHÁP SƯ CHI ÐỘN
Sư tự là Ðạo Lâm, xuất gia khi đã đứng tuổi. Niên hiệu Hưng Ninh năm thứ hai (364), Sư đến kinh đô giảng đạo, thực hành kinh Bát Nhã. Sư kết bạn phương ngoại với Tạ An Vương, Nghĩa Chi, An Hạo, Vương Thân Chi ...
Niên hiệu Thái Hòa năm thứ hai (367), Sư ở ẩn tại Diệm Sơn. Có người đem ngựa đến cho, Sư nhận nuôi, nói:
- Ta thích ngựa thần.
Có người cho bạc, Sư thả đi, bảo:
Chim trời chẳng lẻ giữ để vui tai mắt mình.
13. THÍCH ÐẠO AN
Sư quê ở Thường Sơn, họ Vệ, theo Nho giáo. Năm mười một tuổi xuất gia với Phật Ðồ Trừng, Sư đọc sách một ngày cả vạn lời, biện tài vô địch. Sư thông minh như thế nhưng dung mạo quá xấu. Người đời gọi là “Tất đạo nhân, kinh tứ lân” (Ðạo nhân đen thui, làm kinh hãi bốn bên).
Khi Phật Ðồ Trừng thị tịch, Sư thống lãnh đồ chúng ở núi Lục Hồn. Niên hiệu Ninh Khang nguyên niên (373), Sư đến Nhượng Dương lập chùa Ðàn Khê, có cao sĩ Tập Tạc Xỉ đến tự xưng: “Tứ Hải Tập Tạc Xỉ”, Sư ứng tiếng đáp: “Di thiên Thích Ðạo An”.
Niên hiệu Thái Nguyên năm thứ tư (379), vua Tần Phù Kiên công phạt Nhượng Dương, rước được Ngài rất mừng, bảo tả hữu rằng:
- Ta dùng mười vạn binh lấy Nhượng Dương, vừa được một người rưỡi.
Tả hữu hỏi:
- Là ai?
Ðáp:
- An Công là một, Tạp Tạc Xỉ là nửa người.
Sư ở Trường An hoằng dương chánh pháp. Niên hiệu Thái Nguyên thứ mười bốn (389), vào ngày 27 thánh giêng, Sư thấy có một dị tăng ra vào ở lỗ hổng cửa sổ. Sư hỏi quê quán, dị tăng lấy tay chỉ hướng Tây Bắc, tức thì mây vẹt ra, thấy lầu các như huyễn hiện lên, Tăng bảo:
- Ðó là cõi trời Ðâu Suất.
Ngày tám tháng hai, Sư ngồi kiết già thị tịch.
Sư mỗi lần sớ kinh nghĩa đều cầu Thánh nhân chứng minh. Một lần cảm được tôn giả Trường Mi giáng. Sư đưa bản sớ giải của mình cho Tôn giả xem. Tôn giả rất thán phục, khen là hợp hết tâm Phật, rồi hứa sẽ ngầm giúp Sư truyền bá rộng rãi. Sư biết Tôn giả này chính là ngài Tân Ðầu Lô, bèn thiết trai cúng dường. Sư có mười đệ tử thông đạt sự nghiệp sớ giải này.
Một đệ tử Sư là Pháp Ngộ truyền pháp ở Trường Sa, đồ chúng mấy trăm người. Một hôm có người lén uống rượu, Pháp Ngộ làm ngơ không cử tội. Sư biết được, bèn gởi roi đến. Pháp Ngộ ôm roi khóc nói:
- Trông coi chúng không công minh, khiến Thầy ở xa phải lo.
Rồi phủ phục nhận phạt.
Trên cánh tay Sư có một lõi thịt, nổi lên như cái ấn, có thể nhấn lên nhấn xuống mà không ra khỏi bắp tay. Người đời gọi Sư là Bồ tát Ấn Thủ.
Sư có đệ tử là ngài Huệ Viễn, Tổ Sư tông Tịnh Ðộ, lập Liên Xã để niệm Phật cầu vãng sanh.
14. THÍCH HUỆ NGUNG
Sư vào núi thiền định, quỉ núi hiện đủ hình tướng đều bị Sư điểm hóa mà ẩn đi. Một hôm, trời tuyết lớn, có một cô gái hình dung yểu điệu, y phục đẹp đẽ, đến nói với Sư:
- Thượng nhân có đức lớn nên trời sai tôi đến hầu hạ Ngài.
Rồi dùng đủ lời cám dỗ. Sư an nhiên chẳng động, bảo cô gái rằng:
- Lòng ta như tro nguội, đừng đem túi da đó thử thách làm chi!
Cô gái bèn cưỡi mây mà đi, quay lại khen rằng:
Nước biển cạn được,
Tu di nghiêng được,
Bậc thượng nhân kia,
Kiên trinh vượt bực.
15. CƯU MA LA THẬP
Sư người Trung Thiên Trúc, cha tên Cưu Ma La Viêm, làm Tướng quốc mà bỏ vinh hoa đi chu du. Vua nước Quy Tư đem em gái gả cho ông, sanh ra Cư Ma La Thập. Sư còn bé mà tinh thần linh mẫn, bảy tuổi đi theo mẹ đến chùa . Thấy bát sắt, thử nhấc để lên cổ, rồi sực nhớ: “Bát này rất nặng, sao ta nhấc nổi?”. Sư nhấc lại, bát không nhúc nhích, liền ngộ được vạn pháp duy tâm. Sự học rộng nhớ giỏi của Sư không ai bì kịp.
Năm Sư hai mươi tuổi, mẹ Sư từ giã vua, đến Thiên Trúc, bảo Sư rằng:
- Giáo lý Phương đẳng thâm sâu, chẳng thể suy lường. Chỉ có con mới truyền được đến phương Ðông. Nhưng việc này đối với con có chỗ bất lợi, chả biết phải làm sao đây!
Sư đáp:
- Chỉ cần cho đại pháp được lưu truyền, con tuy chịu khổ sở cũng không có gì hối hận.
Mẹ Sư đến Thiên Trúc, tu đắc quả A na hàm.
Phù Kiên chiếm nước Tần, công phạt Nhượng Dương, rước được Ðạo An. Ðạo An khuyên Phù Kiên đến Tây Vực rước Sư. Gặp ngay lúc Thái sử tâu:
- Ðức tinh hiện ở rừng, thuộc địa phận Tây Vực, sẽ có bậc đại trí đến Trung Quốc.
Phù Kiên nói:
- Trẫm nghe nước Quy Tư có ngài La Thập, chẳng phải là đây sao?
Bèn sai tướng Lữ Quang, bảo:
- Trẫm chẳng phải tham đất mà dụng binh. Nhưng nghe ngài La Thập hiểu sâu về pháp tướng, làm tông phú cho kẻ hậu học. Ngươi nếu khắc phục được Quy Tư, nên đón Ngài về.
Lữ Quang đem quân phá Quy Tư, đưa La Thập về. Giữa đường, nghe tin Phù Kiên bị Diêu Trường hại, bèn dừng lại không về nữa. Vì thế Sư không đến được kinh đô nhà Tần. Sau Diêu Trường cũng nghe danh Sư, muốn thỉnh nhưng Lữ Quang không chịu. Diệu Trường chết, con là Diệu Hưng lại thỉnh nữa, cũng không được, liền đem quân đánh Lữ Quang. Lữ Quang thua phải hàng. Tần mới rước được Sư.
Tháng mười hai, Sư đến Trường An. Tần chủ sai đưa Sư vào vườn Tiêu Dao ở Tây nội dịch kinh. Sư xem lại kinh sách cũ thấy nhiều chỗ sai lầm, không phù hợp với bản tiếng Phạn, bèn tập hợp sa môn Tăng Triệu, Tăng Duệ ... để dịch lại.
Sư ở đất Tần, thường giảng kinh ở chùa Thảo Ðường. Tần chủ Diêu Hưng, triều thần và sa môn khoảng mấy ngàn người, nghiêm túc lắng nghe. Một hôm Diêu Hưng bảo với Sư:
- Ðại sư thông minh, biện tài vô song. Sao lại để hạt giống Pháp không nối tiếp được!
Rồi đem mười cung nữ ép nhận. Sư từ đó không ở trong tăng phòng, cất nhà riêng ở. Chư tăng có người muốn bắt chước. Sư bèn lấy một bát đựng đầy kim, bảo mọi người:
- Nếu ai bắt chước ta ăn được bát này thì cho phép cất nhà riêng để ở.
Sư nói xong, lấy bảy cây kim đưa vào miệng nhai nuốt. Chư tăng nể phục bèn thôi.
Phật Ðà Da Xá (Giác Minh) đến Cô Tàng, nghe La Thập nhận cung nữ nhà Tần, liền than:
- La Thập như bông vải, có thể khiến gặp gai góc sao?
Sư nghe tin Da Xá vì mình mà lặn lội từ xa đến, nên khuyên Tần chủ tiếp đón. Sứ giả đến nơi, Da Xá nói:
- Chiếu chỉ của vua từ xa đến, lẽ ra nên đem ngựa tiếp đón long trọng như lễ La Thập, mới là đàn việt chiêu đãi kẻ sĩ. Bần đạo nên đến phía bắc Bắc Sơn thôi!
Sứ trở về. Diêu Hưng lại đi giục đi thỉnh nữa, Da Xá liền đến. Tần chủ nghinh tiếp, lập tịnh xá riêng, cúng dường như bậc vương giả. Da Xá không nhận gì cả. Ðến giờ ăn, chỉ ăn ngày một bửa thôi.
Cưu Ma La Thập ưa thích Ðại thừa, muốn được diễn giảng, Sư thường than:
- Ta nếu cầm viết, làm luận Ðại thừa thì Ca Chiên Tử cũng không bì kịp. Nay người hiểu sâu quá ít ỏi, biết luận gì bây giờ?!
Sư vì Diêu Hưng mà tạo hai quyển Thành Thật Luận.
Ðời Hậu Tần, niên hiệu Hoằng Thủy thứ mười lăm (41), tháng tư Ngài có bệnh, bèn đọc ba biến thần chú, sai đệ tử ngoại quốc (Thiên Trúc) tụng để tự cứu chữa nhưng chưa đúng sức. Sư biết bệnh mình nguy kịch, bèn nhóm chúng bảo:
- Chúng ta nhân nơi Phật pháp mà được gặp nhau, nhưng vẫn chưa được trọn tấm lòng. Tôi sợ người sau có thể trách mình còn mờ tối, dở tệ lầm lẫn dẫy đầy mà truyền bá những bản kinh dã dịch. Mong rằng sự truyền bá sau này được trôi chảy. Nay tôi thành tâm xin phát nguyện trước chúng: “Nếu chỗ truyền chẳng lầm, nghĩa khế hợp với tâm Phật, thì cho tôi sau khi thiêu thân, lưỡi vẫn còn nguyên vẹn”.
Nói xong, Sư thị tịch. Khi trà tì, củi tàn, thân cháy hết mà lưỡi Ngài vẫn tươi hồng như màu sen. Sư thọ bảy mươi hai tuổi.
Ban đầu, Sư thường cùng mẹ đến yết kiến tôn giả Bắc Sơn ở nước Ðại Nguyệt Thị. Bắc Sơn bảo mẹ Sư:
- Hãy khéo gìn giữ Sa di này. Năm ba mươi lăm tuổi, tỳ ni sẽ không thiếu sót, độ người như ngài Ưu Ba Cúc Ða.
Ngài Bôi Ðộ ở Bành Thành, nghe tin ngài La Thập tịch, than rằng:
- Ta cùng người này tạm biệt đã hơn ba trăm năm, mờ mịt chẳng biết đâu gặp lại, nay thì lại chậm đến đời sau vậy.
Ðệ tử Sư hơn ngàn người. Bốn vị: Ðạo Sinh, Tăng Triệu, Ðạo Dung, Tăng Duệ là Tứ thánh dưới cửa Ngài.
Kinh luận Sư dịch hơn 390 quyển.
16. HỔ KHÊ TAM TIẾU
Huệ Viễn trụ ở chùa Ðông Lâm, dưới chùa có dòng Hổ Khê. Mỗi khi tiễn khách, đến đây thì dừng lại. Niên hiệu Nghĩa Hy thứ ba (407), đạo sĩ Lục Tu Tĩnh cùng thi sĩ Ðào Tiềm vào núi gặp Sư. Sư đưa tiễn, cầm tay trò chuyện, bất giác qua Hổ Khê. Cọp bèn rống lên. Ba người quay lại nhìn nhau cười to. Ðời lưu truyền làm Tam Tiếu Ðồ.
17. TÔN GỈA BÔI ÐỘ
Ban đầu Sư thị hiện ở Ký Châu, diện mạo rất khô cằn, lạnh lùng, thường cưỡi cây trên sông Bôi Ðộ, thần hóa khôn lường. Sư không tu tế hạnh, có lúc đập băng mà tắm, lúc lại mang guốc lên núi, hoặc đi chân không vào chợ, vác một cái bị mà thôi, chẳng có gì khác.
Một hôm Sư đến Quảng Lăng, gặp nhà họ Lý trong làng đang cúng trai tăng, Sư đặt bị giữa sân rồi vào thẳng trai đường mà ngồi, mọi người đều nhìn mà Sư vẫn tự nhiên.
Khi ấy, có mấy người thấy chiếc bị để chắn giữa đường, bèn dời qua một bên, nào ngờ dùng hết sức mà không nhúc nhích. Ăn xong, Sư vác bị lên, cười nói:
- Tứ thiên vương!
Có đứa bé họ Lý lén nhìn thấy trong bị có bốn đứa bé cao mấy tấc, mi mắt như tranh vẽ. Họ Lý thấy lạ, bèn thỉnh Sư lại cúng dường rất lâu. Một hôm, Sư đòi áo cà sa, họ Lý chưa lo kịp, Sư nói:
- Tôi ra ngoài kia một chút!
Ðợi đến chiều cũng chưa thấy Sư trở lại, lại nghe trong không có mùi hương lạ, mọi người theo tìm thì gặp Ngài ở dưới chân Bắc Sơn, trải cà sa rách trên đất, an nhiên thị tịch, trên đầu và dưới chân có hoa sen mọc, cả người tỏa hương thơm, qua đêm bỗng héo. Người ta chôn Ngài đã mấy hôm, sau lại có người từ phương Bắc đến nói rằng thấy Ngài vác bị đi về hướng Bành Thành. Họ Lý mở quan tài, chỉ thấy có đôi giày.
Ngài đến Bành Thành, có ông Hoàng Hân tin sâu Phật Pháp, thấy Ngài bèn chào hỏi rồi thỉnh về nhà. Nhà ông lại quá nghèo chỉ ăn gạo tẻ mà thôi, nhưng Ngài ăn vào lại ngọt như mạch nha. Sau Ngài đi về phương Ðông đến Ngô Quận, thấy người chài đang lưới cá, Ngài theo xin, người chài nổi giận không cho. Ngài lượm hai cục đá nhỏ ném xuống nước, phút chốc có hai con trâu húc vào lưới làm rách nát rồi trâu biến mất.
Chu Linh Kỳ, dân ở Ngô Quận, từ Cao Ly trở về, bị gió thổi đến một hòn đảo, thấy một ngôi bảo tự. Tăng trong chùa đang dọn cơm, ông liền đến vái chào, xin giúp trở về làng. Vị tăng ấy hỏi:
- Ông biết đạo nhân Bôi Ðộ chăng?
- Biết!
Vị tăng chỉ một cái đãy treo trên vách, có tích trượng và bình bát, nói:
- Ðây là của Bôi Ðộ. Nay tôi gởi ông đưa bình bát này cho ông ta.
Và viết thơ. Xong đưa gậy trúc xanh bảo đặt trước thuyền. Linh Kỳ theo lời, ba ngày liền đến Thạch Ðầu. Bôi Ðộ bỗng đi đến, nhận thơ xem rồi cười to, lấy tay tung bình bát lên không, rồi đón lấy nói:
- Ta chẳng thấy bình bát này cách đây đã bốn ngàn năm.
Ðời Tống, niên hiệu Nguyên Gia thứ ba, tháng 9 Sư thị tịch. Sau khi diệt độ, người ta vẫn gặp Ngài luôn. Ngài có làm bài ca “Một Bình Bát” như sau:
Sợ kinh khiếp!
Ðều là liên miên tạo xoa sát (mạt thát).
Như đói ăn muối càng thêm khát,
Uổng cả một đời đầu cạo miết
Cứu cánh chẳng thể biết gốc ngọn
Ném tử thi đi, chỗ nào thoát?
Khuyên anh nổ lực cầu giải thoát
Việc nhàn rốt cuộc phải nắm bắt
Lửa rớt trên thân cần phải phủi
Chớ đợi gần chết kêu Bồ tát.
Trượng phu nói năng hải khoáng đạt
Chớ học phàm phu ưa vuốt ve
Theo thời, kết quả học bỏ hết
Cũng học nhu hòa, ăn gạo dở
Cũng cạo đầu, cũng đắp y
Học phàm phu tạo sanh hoạt
Nói thẳng với anh, anh chưa đạt
Lại làm trường ca, ca một bát.
Một bát ca, một trong nhiều,
nhiều trong một.
Chớ cười người quê ca một bát
Từng đem một bát độ ta bà.
Trời xanh lồng lộng trăng vừa lên
Lúc này ảnh – không gồm vạn tượng
Bao chốn phù sinh tự thị phi
Một nguồn thanh tịnh không lai vãng.
Lại chớ đem tâm tạo bọt nước
Trăm lông máu chảy ai dạy thế.
Chẳng bằng ngồi lặng đất Chân như
Trên đảnh mặc cho chim làm ổ.
Mấy đời con Kim Luân Thánh Vương
Chỉ là Chân như Linh giác này
Dưới cội Bồ đề độ chúng sanh
Ðộ hết chúng sanh không sanh tử.
Chẳng sanh chẳng tử, chân Trượng phu
Không hình không tướng, đại Tỳ Lô
Trần lao diệt hết, Chân như đấy.
Một viên tròn sáng, châu vô giá.
Mắt không thấy, tai chẳng nghe.
Chẳng thấy, chẳng nghe, thật thấy nghe.
Từ xưa một câu, không ngôn thuyết
Hôm nay ngàn lời gượng phân tích.
Hãy lắng nghe!
Người người đều có tánh Chân như
Giống như hoàng kim ở trong quặng
Luyện đi luyện lại, thể vàng sạch.
Chân là vọng, vọng là chân.
Nếu trừ chân vọng lại không người
Chân tâm chớ dối sanh phiền não
Cơm áo tùy thời nuôi sắc thân.
Tốt cũng mặc, xấu cũng mặc
Tất cả vô tâm chớ dính mắc
Cũng không tốt, cũng không xấu
Hai mé thản nhiên, đạo bình đẳng.
Thô cũng ăn, tế cũng ăn
Chớ học phàm phu nhìn trên tướng
Cũng không thô, cũng không tế
Hương tích cõi trên không cội rễ.
Ngồi cũng đi, đi cũng ngồi
Dưới cây sanh tử, quả Bồ đề
Cũng không ngồi, cũng không đi
Không sanh đâu cần kiếm vô sanh!
Sanh cũng được, tử cũng được
Xú xứ đương lai thấy Di Lặc
Cũng không sanh, cũng không tử
Ba đời Như Lai đều như thế.
Lìa thì dính, dính thì lìa
Trong cửa huyễn hóa không nghĩa thật
Không thể lìa, không thể dính,
Chỗ nào lại cầu không bệnh thuốc?
Nói thời im, im thời nói
Nói nín ngang dọc không chỗ nơi.
Cũng không nói, cũng không nín
Chớ gọi Ðông Tây là Nam Bắc.
Sân tức hỉ, hỉ tức sân,
Ta tự hàng ma, chuyển Pháp Luân
Cũng không sân, cũng không hỉ
Nước chẳng lìa sóng, sóng tức nước.
Tiếc thời bỏ, bỏ thời tiếc
Chẳng lìa trong ngoài và ở giữa
Cũng chẳng tiếc, cũng chẳng bỏ
Tịch tịch liêu liêu không chỗ nắm.
Khổ thì vui, vui thì khổ.
Chỉ tu hành này dứt cửa nẻo
Cũng không khổ, cũng không vui
Xưa nay tự tại không dây nhợ.
Dơ tức sạch, sạch tức dơ
Hai bên rốt cuộc không sau trước
Cũng chẳng dơ, cũng chẳng sạch
Ðại thiên đồng một tánh chân như.
Thuốc là bệnh, bệnh là thuốc
Cuối cùng hai việc cần nêu hết
Cũng không thuốc, cũng không bệnh
Chính là chân như tánh giác linh.
Ma làm Phật, Phật làm ma
Trong gương tìm bóng, sóng trên nước
Cũng không ma, cũng không Phật
Ba đời xưa nay không một vật.
Phàm tức thánh, thánh tức phàm
Keo trong màu xanh, trong nước lam
Cũng không phàm, cũng không thánh
Vạn hạnh tổng trì, không một hạnh.
Giả trong chân, chân trong giả.
Tự là phàm phu khởi vọng trần
Cũng không chân, cũng không giả
Nếu không lúc gọi đâu vâng dạ!
Xưa nay không họ cũng không tên
Chỉ vậy đằng đằng chân tin bước
Có lúc quán chợ cùng hàng thịt.
Một đóa sen hồng trên lửa sanh
Cũng từng gậy trúc dạo kinh lạc
Thân dường mây nổi không vướng mắc
Huyễn hóa từ lâu tợ ở nhờ
Nhà người chỗ chạm lại thanh hư
Nếu tìm giới!
Ba độc lở loét bao giờ khỏi?
Nếu kiếm thiền!
Ta tự tung hoành tìm đá ngủ
Thật đáng thương, chẳng phải điên
Thế gian, xuất thế, thiên trung thiên
Người đời chẳng hiểu được ý này
Ðánh nhằm bên Nam, động bên Bắc.
Nếu kiếm pháp!
Trong núi Kê Túc hỏi Ca Diếp
Ðại sĩ giữ y ở trong này
Xưa nay chẳng cần cầu giữ vỏ.
Nếu tìm kinh!
Pháp tánh Chân Nguyên không thể nghe.
Nếu kiếm luật!
Cùng tử chẳng nên dạy chạy ra.
Nếu tìm tu!
Tám vạn phù đồ cầu chỗ nào?
Chỉ biết lá vàng dừng tiếng khóc.
Bất giác mây đen che mặt trời
Chớ lạ lời cuồng không thứ lớp
Sàng lưới dần vào tế trong thô
Chỉ cái tế trong thô cũng không
Tức là viên minh chân thật đế.
Chân thật đế vốn không chân
Chỉ là danh văn, tức là trần
Nếu hướng trong trần hiểu chân thật
Liền là đường đường người xuất thế.
Người xuất thế, chớ tạo tác
Ðộc hành, độc bộ, không thênh thang
Không sanh, không tử, không Niết Bàn
Xưa nay sanh tử không quan hệ.
Không thị phi, không động tĩnh
Chớ dối đem thân vào giếng không
Không thiện ác, không đến đi
Cũng không gương sáng treo đài cao
Kiến giải sơn tăng chỉ như thế
Chẳng tin tùy họ tạo kiếp tro.
18. THÍCH ÐẠO SINH
Sư họ Ngụy, người rất dĩnh ngộ, không ưa sự ồn náo trần tục, cạo tóc xuất gia thọ giới. Ban đầu Sư vào Lô Sơn, ở U Thê bảy năm. Sau dạo đến Quan Trung, theo ngài La Thập thọ nghiệp. Tăng chúng khâm phục như thần.
Lúc trước, Sư thấy phần đầu kinh Niết Bàn nói “Trừ hạng Nhất xiển đề ra, tất cả đều có Phật tánh”. Sư bèn nói: “Xiển đề sao lại riêng không có Phật tánh được? Kinh này đến đây chưa đủ. Rồi xướng thuyết “Xiển đề đều sẽ thành Phật".
Các vị sư khác đời ấy đều trách mắng Sư, cho là tà thuyết, theo luật đáng bị tẩn xuất. Sư bèn thề:
- Nếu tôi nói không hợp với nghĩa kinh, thì xin cho hiện thân chịu ác báo. Nếu thật khế hợp tâm Phật, nguyện lúc xả thọ mạng, ngồi tòa sư tử.
Và Sư rũ áo vào Hổ Khưu sống lặng lẽ. Khi tâm có chỗ hội, Sư đến chùa Thanh Viên, ngồi dưới rặng tùng, xếp đá làm đồ chúng, giảng kinh Niết Bàn. Một hôm giảng đến chỗ Xiển đề, bèn nói có Phật tánh. Lại nói:
- Lời của ta có hợp với tâm Phật chăng?
Hàng đá đều gật đầu. Mùa hạ năm đó, sấm rền Phật điện Thanh Viên, người ta chợt thấy một con rồng bay lên múa lượn, ánh sáng trời phát ra, bóng hiện ở vách Tây. Chùa liền được đổi tên là Long Quang. Người đời đó than:
- Rồng đã bay, Sư chắc cũng đi!
Mấy ngày sau, quả nhiên Sư trở về Lô Sơn, để lại một di ảnh rơi trong hang núi. Tăng chúng đều đến chiêm lễ.
Sau Sư nghe Ðàm Vô Sấm dịch lại phẩm sau của kinh Niết Bàn, quả nhiên có nói: “Người Nhất xiển để tuy đoạn thiện căn, vẫn có Phật tánh”. Sư rất mừng rỡ.
Niên hiệu Nguyên Gia năm thứ chín (432). Sư đến Kim Lăng, chưa bao lâu trở lại Lô Sơn. Trụ tịnh xá Lô Sơn, giảng kinh Niết Bàn.
Tháng mười một, niên hiệu Nguyên Gia thứ mười một (434)*, Sư thăng tòa luận nghĩa mấy phen, mọi người nghe đều vui vẻ. Chợt thấy phất trần rơi xuống đất, Sư ngồi ngay ngắn, nghiêm trang tựa ghế mà tịch, thọ 80 tuổi. Sớ luận để lại là những tác phẩm rất quý báu.
* Có thuyết nói Sư tịch năm Nguyên Gia thứ 9 (432).
SAU NHỊ TỔ
19. HUỆ TƯ
Tham Ðại Sư Huệ Văn
Huệ Tư, họ Lý người Vũ Tân, đỉnh đầu có cục thịt nổi lên, đi như trâu, nhìn như voi. Lúc trẻ rất hiền từ, nổi tiếng ở xóm làng, thường mộng thấy Phạm Tăng khuyên xuất gia, bèn từ cha mẹ cạo tóc, đắp y và thọ Ðại giới. Ngày chỉ ăn một bữa, tụng Pháp Hoa ngàn biến. Niên hiệu Thừa Thánh năm thứ ba (554) đời Lương, nghe ngài Huệ Văn ở Bắc Tề có đồ chúng đến mấy trăm, Sư liền đến đó xin thọ pháp. Ngày đêm nhiếp tâm, hông không dính chiếu; ngồi hạ hai mươi mốt ngày Sư được túc mạng thông. Bỗng có chướng nổi lên, tay chân yếu ớt, không thể đi được. Ngài tự gnhĩ: “Bệnh từ nghiệp sanh, nghiệp từ tâm khởi, nếu nguồn tâm không khởi, thì ngoại cảnh có hình trạng gì? Bệnh nghiệp cùng với thân đều như bóng này”.
Ngài quán như thế xong, thân thể nhẹ nhàng như cũ. Hết hạ, vẫn không được gì, thầm ôm lòng hổ thẹn; dựa vào vách, lưng chưa tới vách, hoát nhiên khai ngộ Pháp Hoa tam muội.
Trụ Ðại Tô
Dạy chúng:
- Nguồn đạo không xa, biển tánh rất gần. Chỉ hướng mình tìm, chớ theo người khác tìm. Tìm thì chẳng được mà được cũng chẳng phải chân thật.
Ngài nói kệ:
Ðốn ngộ nguồn tâm mở kho báu
Ẩn hiển linh thông hiện chân tướng
Ðường bộ thường đi, ngồi một mình
Hóa thân trăm ức không kể xiết
Dù cho đầy dẫy khắp hư không
Lúc xem chẳng thấy một mảy bụi
Ðáng cười vật chừ, không so sánh
Miệng nhả châu sáng chiếu rỡ ràng
Tầm thường thấy nói không nghĩ nghị
Một lời nêu tên, ngay lời nhận.
(Ðốn ngộ tâm nguyên khai bảo tạng
Ẩn hiển linh thông hiện chân tướng
Ðộc hành độc tọa thường nguy nguy
Bách ức hóa thân vô số lượng
Túng linh biến tắc mãn hư không
Khán thời bất kiến vi trần tướng
Khả tiếu vật hề vô tỷ huống
Khấu thổ minh châu quang hoảng hoảng
Tầm thường kiến thuyết bất tư nghì
Nhất ngữ tiêu danh ngôn hạ đương).
Ngài thường đăng tòa giảng kinh Ðại Bát Nhã, bị các Luận sư ganh ghét đánh thuốc độc. Ngài nhất tâm niệm Bát Nhã, thuốc độc liền tiêu, sai môn nhân Trí Khải giảng thay. Trí Khải giảng đến “Một tâm đủ vạn hạnh” chợt có chỗ nghi, thỉnh Sư giải quyết. Ngài nói:
- Như điều ông nghi là ý thứ lớp của Ðại Phẩm, chưa phải là ý chỉ viên đốn của Pháp Hoa. Xưa ta ở trong hạ, một niệm chống phát các pháp hiện tiền. Ta đã thân chứng, chẳng cần phải nghi.
Trí Khải hỏi:
- Thầy chứng Thập địa chăng?
Ðáp:
- Ta một đời mong được nhập vào Ðồng luân (Viên Thập Trụ); vì lãnh đồ chúng sớm quá, làm tổn mình ích cho người. Nên chỉ ở Thiết luân thôi (Viên Thập Tín).
Huệ Tư thường cầm gậy như ý chỉ Trí Khải bảo:
- Có thể nói là pháp giao cho pháp thần, còn pháp vương thì vô sự.
Rồi Ðại Tô bị phòng vệ, đại chúng không an. Huệ Tư bèn bảo ngài Trí Khải rằng:
- Ta từ lâu muốn đến Nam Nhạc mà hậu pháp chưa có chỗ ký thác. Nay ông có thể truyền đăng, chớ làm người cuối cùng đoạn dứt hạt giống Phật. Ông có duyên với nước Trần, nên đến đó làm lợi ích.
Trí Khải vâng lời đi đến nước Trần, trụ chùa Ngoã Quan; khai đề kinh Pháp Hoa. Còn ngài Huệ Tư, niên hiệu Quang Ðại năm thứ hai (568) tháng 6, đem hơn bốn mươi Tăng về Nam Nhạc. Lên ngọn Chúc Dung, gặp Nhạc thần đang đánh cờ. Thần nói:
- Sao Sư đến đây?
Ngài bảo:
- Xin đàn việt một miếng đất bằng tọa cụ.
- Ðược!
Sư phóng gậy để định chỗ (nay là chùa Phước Nghiêm). Nhạc Thần xin thọ giới. Sư thuyết pháp cho, nhân đó nói:
- Ta ở nhờ núi này, chỉ hạn mười năm. Sau xong việc sẽ đi xa. Tiền thân của ta từng đi đến chốn này.
Ði lần đến hành Dương, gặp một chỗ suối rừng đẹp lạ.
Ngài nói:
- Ðây là chùa cổ. Ta ngày xưa từng ở đây.
Ngài sai đào đất, thấy nền đất vẫn còn.
Ngài lại chỉ chân núi nói:
- Xưa ta ngồi thiền ở đây. Giặc đến chém đầu ta.
Rồi tìm được hài cốt đã khô đầy đủ. Từ đây tạo hóa càng thạnh. Trần chúa gọi là Ðại thiền.
Ngài trụ ở Nam Nhạc, có một lão túc nhắn người đến bảo:
- Sao chẳng xuống núi giáo hóa chúng sanh, cứ ngắm nhìn Vân Hán (cảnh đẹp) làm gì?
Ngài đáp:
- Ba đời chư Phật bị ta nuốt trọn. Còn có chúng sanh nào để giáo hóa nữa.
Niên hiệu Thái kiến năm thứ chín (577) ngày 6 tháng 6. Ngài bảo môn nhân rằng:
- Nếu có được mười người chẳng tiếc thân mạng, thường tu Pháp Hoa, Bát Nhã, Niệm Phật Tam muội, Phương đẳng, Sám hối, hẹn phải kiến chứng thì tùy chỗ cần ta sẽ cung cấp cho. Nếu không có người như thế thì đã xa cách ta rồi vậy.
Lúc đó, chúng cho là việc khổ hạnh khó khăn nên không ai đáp lại. Ngài bèn đuổi chúng ra rồi nhập diệt. Có một thầy nhỏ tên Linh Biện kêu khóc. Sư mở mắt nói:
- Sao được kinh động ta? Ðồ ngu, đi ra!
Rồi Ngài niệm Phật chắp tay mà tịch, nhan sắc như lúc sống, hương lạ đầy thất.
20. TRÍ KHẢI
(538-597)
Trí Khải tự Ðức An, họ Trần ở Hoa Dung, cha được phong làm Khai quốc hầu, mẹ họ Từ, lúc có thai mộng nuốt một con chuột trắng và mây hương năm màu vòng quanh ở bụng. Ðêm đản sanh, ánh sáng khắp nhà. Mắt Ngài có hai đồng tử, da không dính bụi. Khi nằm thường chắp tay, ngồi thì hướng mặt về Tây. Năm bảy tuổi vào chùa nghe Tăng tụng phẩm Phổ Môn, liền niệm theo, chợt tự nhớ hết văn bảy cuốn rành rõ như đã học. Mười lăm tuổi lễ Phật, chợt thoảng như giấc mộng, thấy có núi lớn gần mé biển, trên đỉnh có vị Tăng vẫy tay, lại dẫn vào một ngôi chùa nói: “Ông sẽ ở đây. Ông sẽ chết ở nơi này”.
Sau Ngài xuất gia, thọ giới cụ túc, rồi đến núi Ðại tô yết kiến ngài Huệ Tư. Huệ Tư vừa gặp liền bảo:
- Xưa, trên núi Linh Thứu, ta và ông cùng nghe kinh Pháp Hoa, nay ông lại đến!
Huệ Tư dạy làm đạo tràng Phổ Hiền thuyết Tứ An Lạc Hạnh. Trí Khải nhập quán hai mươi mốt ngày, tụng kinh Pháp Hoa, đến phẩm Dược Vương, nói: “Ðây là chân tinh tấn, gọi là chân pháp cúng dường Như Lai". Liền ngộ Pháp Hoa Tam muội, thấy một hội Linh Sơn nghiễm nhiên chưa tan, túc mạng thông liền phát, đem chỗ chứng bạch với ngài Huệ Tư. Huệ Tư nói:
- Chẳng phải ông thì chẳng chứng được. Chẳng phải ta thì không biết được. Ðây là Pháp Hoa Tam muội, là phương tiện ban đầu, là Triền Ðà la ni ban đầu vậy. Dù cho bậc thầy văn tự có đến ngàn vạn cũng không thể cùng ông biện luận.
Trong những vị thuyết pháp, Ngài là đệ nhất.
Trí Khải trụ chùa Ngõa Quan ở Kim Lăng tám năm. Vào tháng 8 niên hiệu thái Kiến năm thứ bảy nhà Trần (575) dẫn đồ chúng trụ núi Thiên thai. Ngọn Phật Lũng có Ðại sư Ðịnh Quang bảo đệ tử rằng:
- Chẳng bao lâu sẽ có bậc thiện tri thức thù thắng, dẫn đồ chúng đến đây.
Không bao lâu, Trí Khải đến. Ðịnh Quang nói:
- Còn nhớ ngày xưa, lúc đưa tay vẫy dắt không?
Ðến am, đêm đó trên không có tiếng chuông. Ngài hỏi:
- Là điềm gì vậy?
Ðáp:
- Ðây là kiền chùy để nhóm Tăng chúng, là tướng ở được. Ngọn này là Kim địa, tôi đã ở. Ngọn phía Bắc là Ngân địa, ông sẽ ở đó.
Ngài Trí Khải thường một mình đến ngọn Hoa lĩnh tọa thiền. Bỗng nhiên đêm sau, gió lớn làm trốc cây, sấm chớp rền núi, qủy ma (ly mỵ) ngàn bầy, một hình biến trăm dạng, biến hóa chớp nhoáng không thể tính kể. Lại hiện hình cha mẹ, thầy, Tăng, chợt dựa ôm, bình thường thương khóc lóc.
Ngài vẫn an tâm không tịch, thầm niệm thực tướng, hai duyên mạnh yếu chẳng thể làm động. Lúc sao mai vừa mọc, thần tăng khen:
- Chế phục kẻ địch, thắng được kẻ oán, đáng gọi là dũng, có thể qua được sự khó khăn này không ai bằng ông.
An ủi xong, lại thuyết pháp cho Ngài. Ngài nói:
- Ðây gọi là Thực đế, nên học Bát Nhã, nên tuyên Ðại bi. Từ đây về sau tự thực hành và dạy người khác. Ta đều chịu ảnh hưởng pháp này.
Trí Khải đến Kinh Châu, Ngọc tuyền nhập định trong cây to. Một hôm có con rắn lớn, dài hơn mười trượng, há miệng hướng vào, âm ma la liệt, tên đá như mưa. Trải qua một tuần ngài Trí khải vẫn không có vẻ sợ, còn thương xót nó mà nói:
- Ngươi tạo các nghiệp sanh tử, tham đắm chút phước thừa, chẳng tự bi hối.
Nói xong các yêu ma biến mất. Tối đó mây tan, trăng sáng, Ngài thấy có hai người uy nghi như vua đến trước cung kính nói:
- Tôi là Quan Vũ. Cuối đời Hán nhiễu nhương, Cửu Châu tàn phá, Tào Tháo bất nhân, Tôn Quyền tự cố thủ. Tôi là nghĩa thần nhà thục Hán, mong khôi phục ngôi vua, nhưng thời sự trái nhau, có chí mà không toại nguyện, chết đi còn chút công nghiệp được làm vua núi này. Ðại đức thánh sư sao phí sức thần mà đến đây?
Ngài đáp:
- Muốn ở đất này kiến lập đạo tràng để báo đáp đức sinh thân.
Quan Vũ nói:
- Xin thương xót con ngu muội, rủ lòng nhiếp thọ. Cách đây một xá (30 dặm), có núi như thuyền úp, đất đó thâm hậu, đệ tử sẽ cùng Tử Bình, dựng chùa để cúng. Mong thầy an thiền bảy ngày, sẽ hoàn tất.
Khi Ngài xuất định, thấy đầm sâu ngàn thước trở thành đất bằng, mái chùa tráng lệ, đẹp đẽ ưa nhìn. Ngài bèn dẫn chúng vào ở; rồi diễn pháp một ngày. Thần bạch Ngài rằng:
- Ðệ tử hôm nay được nghe pháp xuất thế gian, mong rửa lòng đổi niệm, cầu thọ giới quy y, mãi mãi làm gốc Bồ đề.
Ngài bèn truyền ngũ giới.
Năm Ðinh Tỵ tháng 11 (597), Tùy Vương sai sứ rước Ngài. Khi sắp đi, Ngài bảo môn nhân:
- Ta đi lần này không trở lại. Các ngươi nên thành tựu chùa Phật Lũng Nam.
Lại nói thêm:
- Ðó là nhà vua sắp đặt, các ông thấy được, còn ta chẳng thấy.
Ngài đến trước tượng đá ở chùa Thạch Thành, Diệm Ðông, dừng lại quay nhìn thị giả bảo:
- Ta biết mạng dứt tại đây, không tiến đi nữa, dây đàn đứt tuyệt hôm nay.
Rồi Ngài xướng đề kinh Quán Vô Lượng Thọ xong, lại nói:
- Bốn mươi tám nguyện trang nghiêm Tịnh độ. Ao hoa, cây báu, tuy dễ đến mà không có người, khi lửa, xe cùng hiện mà một niệm cải hối còn được vãng sanh, huống là người giới định huân tu, đạo lực thánh hạnh, công chẳng phế bỏ.
Lúc đó Phật đá phóng đại quang minh trùm khắp hang núi. Môn nhân thỉnh:
- Chưa rõ Ðại sư ở địa vị nào? Sanh thế nào?
Ðáp:
- Ta nếu không lãnh chúng thì sáu căn được tịnh, vì bỏ mình lợi người nên chỉ lên Ngũ phẩm. Ông hỏi là sinh thế nào à? Các thầy bạn của ta theo hầu Quan Âm đều đến rước ta.
Nói xong Ngài tịch.
21. PHÁP SƯ TĨNH ÁI
Ẩn núi THÁI ẤT
Ban đầu Tĩnh Ái nghe Chu Vũ Ðế phế giáo (547) khẳng khái than rằng:
- Ăn hạt dẻ nhà Chu mà quên việc này, đáng gọi là trung sao?
Ngài liền đến cung vua xin yết kiến, hết lòng bày tỏ sự báo ứng phước họa của việc hủy bỏ giáo pháp, chỉ bày dẫn chứng rõ ràng.
Vua đổi nét mặt bảo:
- Chiếu chỉ đã ban hành, không thể thu lại được.
Rồi chối từ. Ngài lui ra, khóc nói:
- Ðại giáo bị bế tắc, ta làm sao cam đứng nhìn cho được.
Ngài bèn trở về núi Chung Nam. Vua muốn được yên, sai vệ sĩ tìm Ngài. Ngài nghe được bèn chạy vào núi Thái Ất, kêu khóc bảy ngày đêm không ngớt, soạn hai mươi quyển Tam Bảo Lục. Tháng 7 niên hiệu Tuyên Chính khai nguyên (578), bảo đệ tử rằng:
- Ta sống chẳng bổ ích cho đời, nay muốn xả thân.
Chúng kêu khóc. Ngài sai thị giả ra khỏi núi, rồi trích máu viết một thiên thư kệ. Ngài ngồi trên tảng đá, mặc áo trong, tự mổ bụng bày trên đá, đem ruột gan treo trên cây tùng, ngũ tạng đều phơi ra, còn gân thịt, tay chân, đầu mặt miệng lóc ra gần hết, lấy dao khoét tim, đưa lên, ngồi ngay ngắn mà tịch. Còn hài cốt không vấy chút máu, chỉ thấy sữa trắng chảy ra, đọng ở đá. Người nghe ai cũng rơi lệ.
22. PHỤC HƯNG PHẬT GIÁO
Khai Hoàng Nguyên Niên (581)
Chu Vũ đế phế giáo làm vua hai mươi năm. Tùy Văn Ðế lên ngôi đổi niên hiệu là Khai Hoàng. Xuống chiếu lập chùa Tăng ở núi Ngũ Nhạc, lại lập một ngôi già lam ở chiến trường Tương Châu. Vua rắp tâm hoằng pháp. Mùa Ðông năm đó, có các sa môn Trí Chu ... đem hai trăm sáu mươi bộ kinh đúng hẹn từ Tây Vức trở về. Vua bèn giao cho Hữu Ty, mời người phiên dịch.
Vua họ Dương tên Kiên, người Hoa Âm, lúc mới sanh hào quang đỏ chiếu trong nhà, khí tía đầy sân. Bên cạnh nhà có chùa ni. Ni cô tên Trí Tiên, người đời gọi là Thần Ni. Gặp lúc nóng bức, mẹ lấy quạt quạt cho lạnh muốn gần chết. Ni cô từ ngoài đến bảo người cha rằng:
- Ðứa bé này do Phật trời ban cho. Thân như xá lợi, chẳng thể tiêu hoại.
Bèn gọi ông là Na La Diên, Ni cô lại nói:
- Ðứa bé này sẽ đến chỗ khác thường. Nhà thế tục ô uế, nên đem đến chùa nuôi dưỡng.
Người cha bèn giao đứa bé cho Ni cô. Một hôm Ni cô ra ngoài. Người mẹ đến ôm con, chợt thấy con hóa thành rồng, vẩy sừng đầy đủ, kinh sợ té xuống đất. Ni cô trở về thấy nói:
- Tại sao dám chạm đến con ta, làm cho nó muộn được thiên hạ.
Ðến năm bảy tuổi, Ni cô bảo vua rằng:
- Con sau là bậc đại quý, sẽ từ phương Ðông đến. Lúc Phật pháp diệt, nhờ con mà hưng thịnh lại.
Vua mười ba tuổi mới trở về nhà. Ðến khi Chu Vũ Ðế phế giáo, Ni cô ẩn tại nhà Dương Kiên, chưa được bao lâu thì tịch. Sau Dương Kiên quả nhiên từ Sơn Ðông vào làm thiên tử, đại hưng Phật pháp, như lời Ni cô nói.
Lên ngôi rồi, mỗi lần thăm quần thần đều truy niệm A Xà Lê để làm “khẩu thật” http://www.tayphuong.vn/diendan/images/smilies/yahoo/79.gif, lại nói:
- Trẫm hưng ngôi vị đều do Phật pháp, lại thích ăn mè đậu. Ðời trước như từ dòng đạo nhân mà đến. Vì lúc nhỏ ở chùa, đến nay ưa nghe tiếng chuông trống.
http://www.tayphuong.vn/diendan/images/smilies/yahoo/79.gif Khẩu thật: Câu chào hỏi, hay câu làm chứng lời mình không dối.
23. ÐẠI SĨ TĂNG GIÀ
Ðại sĩ Tăng Già từ nước Toái Diệp dạo Tây Lương, niên hiệu Tổng Chương năm thứ hai (669) hiển hóa ở Lạc Dương; tay cầm cành cành dương lẫn lộn trong dòng tu. Có người hỏi:
- Thầy họ chi?
Ðáp:
- Tôi họ chi.
Hỏi:
- Sư người nước nào?
Ðáp:
- Tôi người nước nào.
Ngài thường ở trên sông Tứ muốn lập già lam. Nhân có dân Túc Châu là Hạ Bạt phá chỗ ở. Tăng Già nói:
- Ðây vốn là chùa.
Cho người đào đất quả nhiên thấy bia cũ đề: Chùa Hương tích; lại được tượng vàng. Tăng Già nói:
- Phật Phổ Quang Vương.
Bèn lấy đây làm tên chùa.
Trung Tông rước Tăng Già ở Tứ Châu vào cung. Mời ở chùa Tiến Phước độ Huệ Nghiễm, Huệ Ngạn, Mộc Xoa ba người. Sau thị tịch. Vua ra lệnh đến núi Tiến Phước thân dựng tháp.
Chợt mùi hôi thúi xông lên khắp thành. Vua cầu khẩn xin đưa về Lâm Truy.
Khấn xong, mùi hương lạ thơm ngào ngạt.
24. HUỆ MÃN
Huệ Mãn họ Trương, ở Vĩnh Dương nối pháp Mã Tang Na. Theo hạnh đầu đà chỉ chứa hai kim, mùa đông xin vải vá, mùa hạ bỏ ra. Tâm chẳng sợ sệt, ngủ không mộng mị, thường đi khất thực. Ðến già lam thì chẻ củi làm giày (guốc), không ở đến đêm thứ hai. Niên hiệu Trinh Quán năm Nhâm Dần (642) ở bên chùa Thiện Hội ở Lạc Dương, trong ngôi mộ cổ gặp tuyết lớn. Sáng sớm vào chùa gặp Ðàm Khoáng. Ðàm Khoáng ngạc nhiên hỏi từ đâu tới, Huệ Mãn nói:
- Pháp có đến sao?
Ðàm Khoáng sai người tìm lối đến, bốn bên tuyết ngập năm thước. Khi nghe có việc (bắt Tăng ghi sổ sách) bó buộc, chư tăng bỏ trốn. Huệ Mãn vẫn ôm bát đi khắp xóm làng chẳng ngại ngùng gì. Tùy được, tùy tan, vẫn ung dung nhàn nhã. Có người thỉnh thọ trai. Huệ Mãn bảo:
- Thiên hạ không còn tăng, tôi mới nhận lời mời này.
Lại thường dạy người:
- Chư Phật thuyết tâm, khiến cho chúng ta biết tâm hư vọng. Nay lại lập thêm tâm tướng, thật trái ý Phật rất xa, còn lại tăng thêm luận nghị, quá trái đạo lý.
Thường đem bốn quyển Lăng Già cho là tâm yếu. Sau ở trong Ðào Trị không bệnh ngồi tịch.
25. BẢO CHÍ (CHÍ CÔNG)
Ngài là người Kim Lăng. Ban đầu vợ của họ Chu dân Ðông Dương nghe tiếng của trẻ con khóc trong trong tổ chim ưng; bắc thang lên cây thấy được, đem về nuôi làm con. Năm bảy tuổi Ngài nương Tăng Kiệm ở Chung Sơn xuất gia chuyên tu thiền quán. Ðến lúc xuất thế, lấy kéo, thước, phất tử treo đầu gậy vác đi. Ði qua làng xóm, trẻ con ùa theo Ngài; hoặc đòi uống rượu hoặc nhiều ngày nhịn ăn, thường gặp người ăn cá thì theo đòi ăn. Người ăn chia cho mà có tâm khinh bạc, Ngài bèn mửa trong nước, thức ăn đều trở thành cá sống. Ngài thường qua lại núi Hoàn Sơn, Kiếm Thủy, để tóc, đi chân không, mặc áo gấm, mặt vuông mà sáng láng như gương, tay chân đều như móng chim; thường thường đề thơ, lúc đầu xem như không hiểu được, sau đều thấy ứng nghiệm.
Ban đầu Tề Vũ Ðế giận Ngài mê hoặc mọi người, cho bắt nhốt vào ngục Kiến Khang. Ngày ấy, người ta thấy Ngài du hành trong phố chợ. Kiểm soát lại, vẫn thấy Ngài trong ngục. Chiều đó, Ngài bảo sứ rằng:
- Ngoài cửa có hai xe thức ăn, bát vàng đầy cơm. Ông nên lấy đi.
Qủa nhiên, Thái tử Văn Huệ, Cánh Lăng Vưong đưa đến Kiến Khang để cúng dường. Vua nghe được, hối hận tạ lỗi rước Ngài vào cung cấm. Khhi vua nghỉ ở hậu cung, Ngài bèn tạm ra ngoài. Ði rồi mà người ta vẫn thấy hành đạo ở Hiển Trường. Vua kinh ngạc sai sứ đến hỏi. Sứ thưa:
- Chí Công ra ngoài lâu rồi mà hiện đang ở trong (tỉnh) cung.
Vua càng cho là thần kỳ. Sau Ngài mượn thần lực cho vua thấy Cao Tổ đang bị khổ chùy, đao ở dưới đất. Từ đây vua bỏ hẳn chùy, đao.
Vương Trọng Thái hỏi Ngài:
- Kẻ sĩ này sẽ đến địa vị nào?
Ngài không đáp, cởi sợi dây bên trái của đầu trượng đưa cho. Sau quả nhiên Thái làm đến chức Thượng thư Tả thừa. Từ Lăng lúc còn bé, cha bế đến yết kiến Chí Công. Ngài xoa đỉnh đầu:
- Ðứa bé này là kỳ lân đá ở trên trời.
Sau quả nhiên hiển vinh ở đời.
Năm Nhâm Ngọ (502), Lương Vũ Ðế lên ngôi, mời Ngài vào triều. Một hôm vua nghiêm trang hỏi rằng:
- Ðệ tử chưa trừ được phiền não. Lấy gì để trừ?
Ðáp:
- Hai mươi.
Hỏi:
- Là thế nào?
Nói:
- Ở chữ viết, thời tiết đến sẽ rõ.
Vua càng chẳng hiểu, lại hỏi:
- Ðệ tử đến lúc nào thì được tĩnh tâm tu tập?
Ngài đáp:
- An Lạc Cấm (cung An Lạc).
Ban đầu Lương Vũ Ðế nằm mộng thấy thần Tăng bảo rằng:
- Lục đạo, tứ sanh chịu khổ não lớn. Sao không làm đại trai thủy lục để cứu bạt cho họ?
Vua bèn hỏi Sa môn, chỉ có Chí Công khuyên vua tìm kinh, chắc chắn sẽ có nhân duyên. Vua bèn lấy kinh Phật tự mở xem, rồi sáng tạo văn nghi thức. Ba năm xong. Ban đêm cầm bản văn, tắt đuốc, bạch Phật:
- Nếu lý của văn này hợp với Thánh phàm, nguyện lực lễ bái xong đứng lên thì đền này cháy sáng, còn nghi thức nếu chưa rõ ràng thì đèn tối như cũ.
Nói xong phục lạy một lạy, vừa mới ngước lên, đèn đuốc sáng rực. Niên hiệu Thiên Giám năm thứ tư (506), ngày rằmg tháng hai ở Kim Sơn, Trấn Giang y theo nghi thức này sắp đặt.
Chí Công lại thường nương thần lực cho vua thấy những tướng khổ ở địa ngục. Vua hỏi:
- Làm sao cứu họ được?
Ðáp:
- Ðịnh nghiệp đời trước không thể diệt mau chóng được, chỉ khi họ nghe tiếng chuông, thì sự khổ tạm dừng.
Do đây, vua xuống chiếu cho các tự viện trong nước đánh chuông nên đánh thong thả.
Vua thường ra lệnh cho họa công Trương Tăng Diệu, vẽ tượng Chí Công. Tăng Diêu cầm bút, chẳng tự định được; Chí Công bèn lấy ngón tay rạch giữa trán, vạch ra mười hai vẻ mặt Quan Âm; hoặc từ bi, hoặc oai nghi. Diêu rốt cuộc vẽ chẳng được.
Chí Công nói:
Tỳ bà thi Phật sớm lưu tâm
Thẳng đến hôm nay chẳng được diệu.
Ngày khác cùng vua đến bờ sông xem, có một vật ngoi lên ngược dòng. Chí Công lấy gậy khều lên, theo gậy vào bờ. Thì ra một khúc tử chiên đàn; vua liền đưa cho vị quan hầu cận sai khắc tượng Chí Công. Trong khoảnh khắc hoàn thành, thần thái rất sống động.
Chí Công thị hiện bốn mươi năm hơn. Niên hiệu Thiên Giám năm thứ mười ba (515), chợt bảo chúng Tăng:
- Hãy dời tượng thần Kim Cang trong chùa đặt ở bên ngoài.
Rồi nói với người rằng:
- Bồ tát sắp đi.
Ngài vào nội điện cùng Lương Vũ Ðế vĩnh biệt. Vua thất kinh hỏi:
- Trẫm thọ bao lâu?
Chí Công không đáp, lấy tay chỉ cằm và cổ rồi ra. Trở về núi, Ngài đốt một ngọn đuốc trao cho người làm là Ngô Khánh ở lầu sau. Ngô Khánh tâu lại vua. Vua than:
- Ðại sư chẳng lưu lại nữa. Ðuốc là đem việc sau soi ta chăng?
Ngày 6 tháng 12, Ngài không bệnh mà chết, khắp người thơm mềm, thọ 92 tuổi. Vua lập tháp trên miếng đất Ðộc Long ở Chung Sơn. Vua sai Lục Thùy làm bài minh, Vương Cật lập bia. Lúc trước, Chí Công cùng vua lên Chung Sơn, Ngài chỉ miếng đất ở sườn núi Ðộc Long phía trước nói:
- Ðây là âm trạch, sẽ được hậu duệ lâu dài.
Vua hỏi:
- Ai sẽ được?
Chí Công nói:
- Người đi trước được.
Năm ấy Ngài thị tịch, vua bèn lấy hai mươi vạn lượng vàng, sửa đất ấy dựng tháp năm tầng, trấn bảo châu vô giá ở đấy. Ngày chôn Ngài, vua đích thân xa giá đến. Chí Công chợt hiện trong mây. Vạn người hoan hô, tiếng vang khắp hang núi.
Chí Công thường dạy rằng:
- Suốt ngày thắp hương đốt đèn chẳng biết thân mình là đạo tràng.
Lại nói:
- Kinh đô, nghiệp đô mênh mang lại là đạo tràng Bồ đề.
Lại nói:
- Như thân ta không, các pháp cũng không. Ngàn phẩm vạn loại thảy đều đồng.
Lại thường hỏi một Phạm tăng:
- Nghe tôn giả thường gọi tôi là đồ tể, có từng thấy tôi sát sanh chăng?
Ðáp:
- Thấy.
Hỏi:
- Thấy có mà thấy, hay thấy không mà thấy (hữu kiến kiến, vô kiến kiến), hay chẳng có, chẳng không mà thấy? Nếu thấy có mà thấy là cái thấy của phàm phu; thấy không mà thấy là cái thấy của Thanh văn; Chẳng có, chẳng không mà thấy là cái thấy của ngoại đạo. Chưa rõ tôn giả thấy thế nào?
Phạm tăng nói:
- Ông có những cái thấy này sao?
Chí Công bèn thôi.
26. BA LA ÐỀ
Ba La Ðề (tông Vô tướng) đáp vua Dị Kiến (kêu Bồ Ðề Ðạt Ma bằng chú, con của Nguyệt Tịnh Ða La).
Vua hỏi:
- Thế nào là Phật?
- Thấy tánh là Phật.
- Thầy thấy tánh chăng?
- Tôi thấy Phật tánh.
- Phật tánh ở đâu?
- Tánh ở tác dụng.
- Là tác dụng nào? Nay ta chẳng thấy?
- Hiện đang tác dụng mà vua chẳng thấy.
- Ở ta có chăng?
- Vua nếu có tác dụng thì không có gì chẳng phải tánh. Nếu không tác dụng thì thế này khó thấy.
- Nếu đang lúc tác dụng thì có mấy chỗ xuất hiện?
- Nếu lúc xuất hiện thì có tám chỗ.
- Xin hãy nói cho tôi về tám chỗ xuất hiện?
Ba La Ðề liền nói kệ:
Tại thai là thân
Ở đời là người
Ở mắt là thấy
Ở tai là nghe
Ở mũi ngửi mùi
Ở miệng đàm luận
Ở tay nắm bắt
Ở chân chạy nhảy.
Hiện khắp sa giới, thu về trong một vi trần, người biết gọi là Phật tánh, người chẳng biết gọi là linh hồn. Vua nghe khai ngộ.
Up lên cho mọi người cùng đọc;;)
Tịnh Lộc
21-04-2010, 09:31
CẢM ỨNG MAY MẮN CỦA HOA SEN
Tướng quý của Huyền Trang đại sư trước khi nhập diệt
Huyền Trang đại sư triều nhà Đường trước khi nhập diệt, từng thị hiện tướng quý hoa sen.
Năm Huyền trang đại sư 63 tuổi, đại chúng đệ tử thỉnh cầu Ngài phiên dịch "Đại Bảo Tích kinh", Đại sư từ chối và nói:"Duyên phận của kinh này với Trung Quốc chưa đến, dù miễn cưỡng dịch cũng không quá nổi năm dòng".
Nhưng vì sự khẩn cầu của đại chúng, Ngài cố miễn cưỡng dịch, quả nhiên dịch tới dòng thứ tư thì phải dừng.
Huyền Trang đại sư nói với đại chúng: "Ở đời hữu vi, nhất định quy về tịch diệt,thân huyễn như bọt nước sao có thể trụ lâu".
Ta năm nay đã 63 tuổi, chắc chết ở chùa này, nếu đại chúng có nghi hoặc kinh luận hãy mau hỏi đi, kẻo sau này lại hối hận không kịp". Đồ chúng thấy pháp sư thân thể khỏe mạnh, vả lại tuổi cũng chưa quá già mà lại nói như vậy nên mọi người cảm thấy kỳ lạ.
Một hôm, đệ tử của lão pháp sư là Huyền Giác, nửa đêm nằm mơ thấy một tòa tháp gỗ lớn, cao vọt hiển hách, trang nghiêm, hoa lệ, muốn đến gần chiêm ngưỡng, nhưng đột nhiên tháp sụp đổ chấn động.
Huyền giác chợt mình tỉnh giấc, khi tham lễ Huyền Trang đại sư đã thuật lại giấc mộng kỳ dị này.Pháp sư dạy: "Đó là việc của ta, không liên quan đến ngươi, không có gì đáng lo lắng sợ hãi". Tháng chín,pháp sư nói với chủ trì chùa: "Ta nay sẽ đi, trong kinh nói:
"Thân này là ác, giống như con chó chết, sau khi ta xả bỏ thân mạng, đừng đặt ở chùa, nên để ở nơi núi non thanh tịnh, làm cỗ áo quan cho vào. Theo sở thuyết trong kinh giáo đem thiêu đi là tốt nhất". Chủ trì chùa nghe thấy rất kỳ lạ, đang khỏe mạnh thế sao đã dặn dò chuyện hậu sự? Ngày hôm đó, trời sắp tối, pháp sư tới hậu phòng, khi đi qua một con mương nhỏ Ngài đã bị thương ở chân.
Bốn ngày sau, Ngài phát bệnh nằm trên giường,bấy giờ dù Ngài nhắm mắt hay mở mắt đều thường thấy hoa sen trắng lớn như cái mâm, tươi đẹp và sáng trắng, có vô lượng trăm ngàn chúng nhân, thân hình vĩ đại, mặc áo gấm hoa báu trang nghiêm ở trong phòng pháp sư và cả ngoài đường, điện nơi Ngài dịch kinh, cho đến cả khu trân bảo trang trí, các loại kỹ âm nhạc mỹ diệu được tấu lên.
Sau đó, pháp sư thấy ở ngoài cửa có vô số xe báu, cơm ngon trăm món và các loại danh hương, hoa quả dược, vốn không thể có ở nhân gian, những thứ này đều được dâng lên pháp sư. Pháp sư từ chối: "Thọ dụng cúng dường thứ này ắt phải là người đầy đủ lục thông mới có thể thọ nhận, ta chưa có đức lớn, không dám thọ nhận. Dù pháp sư từ chối, nhưng thiên nhân vẫn dâng lên không ngớt.
Thị giả tỉnh giấc, thuật lại đầy đủ mọi việc cho đại chúng trong chùa nghe, đêm đó trăng trên trời sáng rực, rừng cây trước viện dịch kinh biến hành màu trắng. Lại nhìn thấy hai người đang chuẩn bị các loại thức ăn, băng núi vượt cốc, giống như đang tìm đến dâng cúng lên pháp sư.
Ngay sau, chủ trì chùa mơ thấy vô số tượng vàng như ngàn vị Phật xuất hiện trên hư không của viện dịch kinh. Không lâu sau, pháp sư hướng về tự chúng và môn đồ, hy vọng đại chúng được hoan hỷ, từ biệt quyết đi, báo rằng bản thân sẽ vãng sinh nội viện của Ngài Di Lặc. Những tăng nhân thị giả đi theo, thấy hai người cao lớn hơn trượng, mặc áo mão trắng, mỗi người dùng một tay cùng đỡ một đóa sen trắng lớn.
Đài hoa cao ba tầng, rất xinh đẹp lớn cỡ bánh xe nhỏ, tới trước mặt pháp sư và thưa: "Pháp sư từ vô lượng kiếp đến nay, hết thảy não loạn chúng sinh các loại định nghiệp báo nhân, nay pháp sư chỉ phải chịu bệnh nhẹ nhàng như vậy, liền được diệt trừ sạch, pháp sư phải nên hoan hỷ, đừng sinh phiền não".
Pháp sư nhìn thấy hai người này, chắp tay hồi lâu rồi xoay người lại, dùng hông bên phải đặt xuống giường, giống như tư thế Cát tượng Ngọa của đức Phật. Ngài nằm ở tư thế bằng như vậy cho đến khi mất, không hề nhúc nhích, nửa đêm, đệ tử hỏi pháp sư: "Hòa thượng có chắc được sinh lên cõi trời của Ngài Di Lặc không?" pháp sư trả lời: "Chắc chắn được sinh". Nói xong nhập diệt.
nguồn:http://www.voluongtho.com/phatphap/index.php?option=com_content&view=article&id=574:cam-ung-may-man-cua-hoa-sen&catid=59:truyen-phat-giao&Itemid=87
Diệu Bích
18-06-2010, 10:33
Công Chúa Thuần Nhẫn
Công chúa Thuần Nhẫn là con gái út của vua Ba Tư Nặc. Công chúa là người hiếu hạnh, lại có đức nhẫn nhục, nhưng phải có tội xấu quá, nên đã 18 xuân mà vua cha chưa tính việc xuất giá được.
Ôi! Bà mụ cay nghiệt làm sao?
Bắt nặn thế nào cho công chúa xấu đến nổi ai thấy cũng bực mình, mũi tẹt, trán dồ, miệng hô, mắt toét, đó là chưa kể đến thân hình nếu nói đến thân hình thì nàng chỉ cao vỏn vẹn một thước lênh khênh. Vì vậy mà trong triều các vương tôn, công tử phải tìm kế du học ráo, để tránh cái nạn bị trạch phò mã.
Mỗi khi công chúa thấy hai chị hãnh diện trước nhan sắc xinh tươi, nàng rất ngậm ngùi tủi hận, song cũng không hề ganh tỵ. Trái lại, hai chị thì kêu căng, mỗi khi thấy nàng thường tỏ vẻ khó, không muốn gần gũi chuyện trò. Lại tâu với vua cha cấm không cho nàng đi ra ngoài sợ thế gian chê cười. Công chúa thui thủi một mình trong cung cấm.
Nàng hiếu hạnh với cha mẹ, chiều chuộng hai chị và hết lòng thương yêu những người hầu hạ. Nàng thường đem tiền bố thí cho người nghèo khổ, cung cấp thuốc men cho người bệnh hoạn, vì thế ai cũng yêu mến công chúa hơn hai bà chị.
Nhan sắc kỳ dị của công chúa Thuần Nhẫn bay ra, cũng như đức hạnh của nàng, nên một ngày kia Hoàng tử một nước lân cận đến xin cưới nàng làm vợ.
Cầm tay người nghĩa hiệp, vua Ba Tư Nặc cảm động, bảo Trọng Ðức rằng: “Con trẫm được Hoàng tử thương mến thật trẫm không biết lấy lời gì tả cho hết được nỗi lòng cảm bội”. Khi về nước, Hoàng tử không cho tiếp xúc với người, sợ thiên hạ thấy bên ngoài chê cười chăng?
Nhưng than ôi! Lòng hào kiệt của vị Hoàng tử thanh niên cá hạn, mà nhan sắc công chúa lại xấu vô cùng, nên mặc dầu vẫn mến đức, trọng tài của vợ, mà lắm khi Thái tử cũng bực mình về cái xấu của người vợ đáng thương. Rồi lần lần Trọng Ðức tìm cớ săn bắn vui chơi riêng. Công chúa như con chim trong lòng son, tuy có gạo trắng nước trong, nhưng ngoài bốn bức tường thì nàng không còn hay biết gì cả. Công chúa biết nghiệp duyên nên thầm trách kiếp xưa bởi vụng đường tu nên kiếp này phải mang lấy quả xấu, không bao giờ oán thán ai. Nàng chỉ một lòng nhu thuận với chồng, khoan dung độ lượng với người trong cung.
Nhưng ác thay! Các bà Vương phi quận chúa thường tìm đến với nàng để khoe khoang hãnh diện, có khi còn dám chế nhạo nàng ra mặt. Ðức nhẫn nhục của công chúa thuần thành, nên nàng luôn luôn vui vẻ xem như không có gì đáng để ý.
Một hôm các bà về xúi chồng bày một bữa tiệc, mời khắp cả Vương tôn danh nhân trong nước. Theo lệ thường thì vợ nào chồng nấy đếu đến đủ mặt… Duy chỉ có Hoàng tử Trọng Ðức lủi thủi đến một mình. lủi thủi đến một mình. Thôi thì các bà Vương phi, quận chúa, tiểu thơ khoe khoang duyên dáng, các bà lại đi tìm Hoàng tử Trọng Ðức chế giễu.
Hoàng tử không chịu nỗi cơn tức giận, nên sanh lòng ghét vợ. Chàng hằm hằm chuyến này thì về nhất quyết ly dị cho rảnh.
Chồng đi yến tiệc, công chúa một mình vò võ trong cung. Tự nhiên nàng thấy nao nao trong lòng, tin chắc có điều gì không hay xảy đến cho mình. Nàng tủi thân rơi nước mắt. Tự nghĩ ta đời trước đã tạo nhân gì ác nghiệp đến nỗi sanh thân kỳ dị, làm khổ tâm biết bao nhiêu người vì thương yêu ta. Nàng liền chắp tay thành kính hướng về giữa thanh không thầm niệm. “Nam mô Phật, nam mô chư Phật”. và tự khấn nguyện: Ðức Phật hiện nay Ngài hay ban bố ích lợi cho chúng sanh, cứu khổ cho tất cả người khổ sở. Nay con là một người đang chịu khổ, lại không làm sao ra khỏi cung cấm để hầu Ngài. Nguyện xin oai thần Ðức Thế Tôn từ bi khuất giá giáng thần vào trong chốn u đày này, cho con được đảnh lễ. Nỗi thống khổ lòng thành kính tha thiết của con người đáng thương ấy, ứng hiệp với Ðức từ bi của Phật. Ðược Ðức Phật ở tịnh xá Kỳ Viên liền vận thần thông hiện ra trước mặt, trong khi công chúa đang quì lạy. Ngưỡng lên thấy Phật, vừa mừng vừa tủi, nàng kính bạch: “Bạch Ðức Thế Tôn! Ðời trước con đã gây nghiệp ác gì, mà ngày nay bị quả báo thân hình xấu xí như thế này? Lại nhờ phước đức gì mà sanh vào chốn giàu sang?” Ngài động lòng thương xót dịu dàng bảo: “Ðời trước con là một người đàn bà có nhan sắc, lại hay cúng dường bố thí, nhưng khắc nghiệt với tôi tớ, kiêu căng với bạn bè và hay ganh tỵ với người có nhan sắc hơn mình, mắt thường hay nguýt, miệng hay nói xấu người, khi sân hận nổi lên thì đánh đập tôi tớ một cách tàn nhẫn. Nhất là hay ỷ mình có nhan sắc của cải khinh ngạo kẻ khác. Ngày nay con phải thành tâm tha thiết cần cầu sám hối đi, thì những tội lỗi trước kia sẽ tùy theo tâm niệm mà tiêu diệt”.
Tiếng Phật dịu dàng như tiếng chim Ca Lăng Tần Già, công chúa thấy tự nhiên lòng nhẹ lâng lâng, nàng rút khăn lau ráo lệ, rồi tha thiết cần cầu sám hối. Nàng quỳ xuống chân Phật hàng giờ với những lời chân thật phát sinh ra tự đáy lòng. Ðức Phật để cánh tay vàng lên đầu nàng, công chúa ngẩng lên thấy đôi mắt hiền từ trong sáng của Ðức Phật nàng rất sung sướng. Liền khi ấy mắt nàng cũng trong sáng như mắt chim thu nàng thấy sắc diện của Phật đoan nghiêm hiền hậu, lòng nàng cảm động, sanh bao sự vui mừng, tự nhiên mặt nàng cũng đoan nghiêm mỹ lệ. Nàng thấy chân Phật sáng ngời, cốt cách siêu phàm, lòng nàng lại bội phần mến phục, tự nhiên thân nàng cũng đoan nghiêm điều đặn, các tướng xấu xa của nàng bị tiêu diệt. Nàng liền trở nên một công chúa đẹp đẽ xinh tươi đầy đủ phước tướng.
Phật thuyết pháp cho nàng nghe xong liền vận thần thông trở về Tịnh Xá.
Giữa bữa tiệc vui, Hoàng tử Trọng Ðức không chịu được lời chế giễu của các bạn. Tình yêu không thể kéo lại cái hổ, cái nhục. Thái tử bực tức lên ngựa trở về cung, vừa đi vừa thầm nghĩ: “Chuyến này nhất định để, nhất định ly dị”.
Tiếng gió ngựa của người hào kiệt sao mà gấp gáp thế? Công chúa lo ngại vội vàng bước xuống thang lầu thấy mặt chồng đầy sát khí, nàng không dám hỏi han gì. Theo lệ thường nàng cúi xuống tháo chiếc đai ngọc trên lưng Thái tử và cất chiếc mũ vàng cho đầu chàng đỡ nặng. Thái tử ngạc nhiên, cử chỉ ấy rõ ràng là vợ, mà sao nhan sắc nàng biến đổi thế kia? Công chúa hiểu ý, liền đem chuyện cầu Phật kể lại cho chồng nghe. Từ đó vợ chồng vui vẻ hòa thuận cùng nhau lo tu phước thiện.
Một hôm vui câu chuyện, công chúa bảo chồng: “Thiếp xem chàng trọng sắc hơn trọng đức”. Hoàng tử cả thẹn nói lảng qua chuyện khác.
Ðọc câu chuyện này chúng ta nhận thấy nhẫn nhục là điểm cốt yếu cần phải có trong tất cả hạng người, cần phải dùng trong tất cả hoàn cảnh. Nhờ sự nhẫn nhục, nhờ lòng thiết tha ăn năn của công chúa Thuần Nhẫn đã đổi được cuộc đời tối tăm trở thành tươi sáng. Chúng ta nên biết nếu tâm đức thanh tịnh thì sẽ chuyển được hình tướng bên ngoài. Vậy ta nên nhớ “NHẪN NHỤC LÀ GỐC HẠNH LÀNH, SÂN SI LÀ NGUỒI TỘI LỖI”
vBulletin® v3.7.4, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.