PDA

Xem bản đầy đủ : Thầy Huyền Diệu - người làm đổi thay trên đất Phật


Diệu Nhật
05-04-2009, 22:31
Thầy Huyền Diệu (Tiến sĩ Lâm Trung Quốc): Từ bi phải có trí tuệ

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/ImageView.aspx?ThumbnailID=273826 Tranh: Hoàng TườngNgoài việc xây cất ngôi chùa Việt Nam Phật Quốc Tự ở Bồ Đề Đạo Tràng (http://dulich.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=130414&ChannelID=100) (Bodh Gaya (http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=122815&ChannelID=333), Ấn Độ), thầy Huyền Diệu còn được biết đến như là người nước ngoài đầu tiên được Nepal chấp thuận cấp cho hai mẫu đất để xây Việt Nam Phật Quốc Tự - ngôi chùa quốc tế đầu tiên ở vườn Lâm Tỳ Ni (Lumbini) - nơi Đức Phật ra đời. Hưởng ứng lời kêu gọi của thầy Huyền Diệu, hơn 20 quốc gia đã lần lượt đến xây dựng chùa của nước mình ở vùng đất này, hình thành một nơi mà ông gọi là “Liên Hiệp Quốc Phật giáo”. Nhờ vậy mà thánh địa hoang phế điêu tàn này đã hồi sinh.
Sau khi tốt nghiệp Đại học Sorbonne (Pháp), thầy Huyền Diệu đi dạy học ở nhiều nơi và làm Phật sự.
Thầy cũng là người đưa ra giải pháp hòa bình, chấm dứt cuộc nội chiến đẫm máu kéo dài gần mười năm ở Nepal đã làm 14 ngàn người chết.
Nhân dịp về Việt Nam giới thiệu cuốn sách Lòng tri ân: Sức mạnh và mầu nhiệm vừa xuất bản, thầy Huyền Diệu đã dành cho Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần một cuộc trò chuyện.
* Dù bận rộn đi dạy học ở nhiều nơi, những năm gần đây thầy rất siêng về nước. Chăëc hăín thầy có nhiều việc phải làm ở đây?
- Tôi về không nhiều, chỉ vài lần thôi. Tôi về để thỉnh tượng Phật đưa sang bên kia thờ. Sẵn có một vài trường đại học, học viện Phật giáo và đạo tràng mời đến nói chuyện, tôi vui vẻ nhận lời.
* Ấn Độ vốn được xem là cái nôi của Phật giáo nên chắc không thiếu tượng Phật, tại sao thầy phải nhọc công như vậy?
- Tôi cất chùa Việt Nam nên thỉnh tượng Phật ở Việt Nam. Đạo Phật có một điểm rất hay là du nhập đến đâu thì hòa hợp vào văn hóa của địa phương đó. Nếu nhìn kỹ sẽ thấy ông Phật ở Trung Quốc khác với ông Phật ở Nhật Bản, ở Thái Lan… Thêm nữa, việc thỉnh tượng Phật qua bên đó cũng là một cách đưa văn hóa Việt Nam đến với các Phật tử khắp nơi trên thế giới khi họ đến chiêm bái tại Việt Nam Phật Quốc Tự.
* Trong những buổi nói chuyện với các Phật tử, thầy luôn khuyến khích mọi người hành hương về các thánh địa Phật giáo. Nhớ không nhầm thì tại buổi nói chuyện ở chùa Vạn Đức (Quận Thủ Đức, TP.HCM), thầy còn hứa sẽ chịu toàn bộ chi phí ăn ở đối với những Phật tử phát nguyện tu tập tại chùa từ sáu tháng trở lên. Các Phật tử hưởng ứng lời kêu gọi của thầy như thế nào?
- Tôi thấy các Phật tử đều mong ước ít nhất một lần trong đời hành hương đến thánh địa, để cảm nhận được sự linh thiêng như những người đã từng đến đó. Lần tôi đưa đoàn hành hương đầu tiên đến chiêm bái các thánh địa Phật giáo là năm 1979. Họ là những người châu Âu, người Mỹ… theo tôi tu tập. Tính đến nay cũng gần 30 năm, tôi đã trực tiếp đưa hàng trăm đoàn khách hành hương. Những đoàn hành hương Việt Nam mới chỉ thăm viếng đất Phật kể từ năm 1988, khi công việc xây dựng ngôi chùa Việt Nam Phật Quốc Tự ở Bồ Đề Đạo Tràng còn dang dở.
* Ngoài ngôi chùa ở Bồ Đề Đạo Tràng, thầy còn được biết đến như là người nước ngoài đầu tiên xây dựng chùa ở Lâm Tỳ Ni (Nepal)…
- Lần đầu tiên tôi hành hương đến Lâm Tỳ Ni cách nay gần 40 năm, tôi bàng hoàng vì sự hoang phế điêu tàn tại đây. Theo tôi, tầm quan trọng của vùng đất thiêng này đối với Phật giáo cũng như thánh địa Mecca của Hồi giáo, Vatican của Thiên Chúa giáo, Varanasi (Benares) của Ấn Độ giáo hay Jerusalem của Do Thái giáo. Tôi đã thầm khấn nguyện rằng nếu quả thật Lâm Tỳ Ni là chỗ Đức Phật giáng trần thì xin cho tôi được nhìn thấy thánh địa này phát triển trở lại trước khi nhắm mắt từ giã cõi đời.
Kể từ đó, tôi tận dụng mọi cơ hội để nói về thực trạng xuống cấp của Lâm Tỳ Ni, cho dù đó là lúc hướng dẫn các môn sinh học hỏi giáo lý nhà Phật, khi đứng lớp môn Lịch sử Á châu và Bang giao quốc tế ở trường đại học, rồi những lần tham dự các hội thảo quốc tế hay những dịp tiếp xúc các nhà lãnh đạo có ảnh hưởng về văn hóa - xã hội…
Chia sẻ với tôi, một số anh em là học trò của tôi đang làm việc tại các tổ chức quốc tế đã âm thầm vận động liên tục mười mấy năm trời cho ý nguyện làm sống lại thánh địa Lâm Tỳ Ni. Nỗ lực không mệt mỏi của các anh em rồi cũng có kết quả. Một buổi sáng năm 1993, công việc xây dựng Việt Nam Phật Quốc Tự ở Bồ Đề Đạo Tràng còn dang dở, thì những anh em vừa kể đột nhiên xuất hiện, thông báo Quốc vương Birendra và Chính phủ Nepal đã chấp thuận cấp đất cho tôi để xây ngôi chùa quốc tế đầu tiên ở Lâm Tỳ Ni và thúc giục tôi thu xếp hành lý để lên đường sang Nepal nhận đất. Tin đến bất ngờ khiến tôi vô cùng bối rối. Tôi chỉ kịp quơ đại một bộ quần áo, vài thứ linh tinh… rồi vội vã lên đường sang Nepal nhận đất.
* Thầy đã dựng lều, phát nguyện ở lại Lâm Tỳ Ni ngay sau khi làm lễ động thổ chùa. Thầy đã xoay xở như thế nào khi mà chùa ở Bồ Đề Đạo Tràng chưa xây xong?
- Nhiều người cũng can ngăn tôi không nên lưu lại. Một phần là vì nơi tôi dựng lều hoang vu, nhiều thú dữ như rắn, chó sói…, phần khác là do đi vội nên tôi chỉ kịp mang theo người có 60 USD. Nhưng đó chỉ là những khó khăn bước đầu. Phần lớn cư dân ở Lâm Tỳ Ni là người Hồi giáo và Ấn Độ giáo, vốn là quốc giáo của Nepal. Điều tôi lo ngại nhất là những phần tử cực đoan trong cộng đồng này sẽ gây phiền nhiễu cho đến chừng nào tôi chịu đựng không nổi và phải bỏ đi.
Hàng ngày, tôi tụng kinh, trì chú, niệm Phật, tọa thiền, mong tìm ra một giải pháp tối ưu để có thể bảo vệ và phát triển Lâm Tỳ Ni. Ý tưởng biến Lâm Tỳ Ni thành một Liên Hiệp Quốc Phật giáo đã nảy ra trong đầu tôi. Tức là làm sao thuyết phục mỗi nước tự đứng ra xây một ngôi chùa ở Lâm Tỳ Ni. Ngoài ý nghĩa bảo vệ thánh địa, việc ngôi chùa của một nước tại Lâm Tỳ Ni sẽ khiến đất nước đó dần dà gắn bó với mảnh đất này.
Nghĩ là làm, tôi quyết định thành lập một “Ủy ban sứ giả quốc tế” quy tụ một số anh em có tâm nguyện mong muốn Lâm Tỳ Ni phát triển đang làm việc trong các tổ chức quốc tế, phụ trách vận động các nước. Về phần mình, tôi cũng tận dụng triệt để mọi mối quan hệ để thuyết phục chính phủ một số nước và các tổ chức Phật giáo trên thế giới tham gia vào chương trình này.
* Xin thầy cho biết hiện đã có bao nhiêu nước hưởng ứng lời kêu gọi của thầy?
- Liên Hiệp Quốc Phật giáo Lâm Tỳ Ni hiện có 25 thành viên, và chắc chắn đây chưa phải là con số cuối cùng. Việc xây dựng chùa của các nước đã khiến thánh địa hồi sinh. Từ một vùng đất lạc hậu, hiện nay Lâm Tỳ Ni đã có đường dây điện thoại trong nước và quốc tế, phủ sóng điện thoại di động, kết nối Internet. Chương trình xây chùa của các nước còn tạo ra hàng ngàn việc làm cho cả lao động nước ngoài và địa phương, kèm theo đó là sự phát triển của các dịch vụ đi kèm. Sự phát triển vượt bậc của Lâm Tỳ Ni là một điều mầu nhiệm, ngay cả Quốc vương Birendra và các trào Thủ tướng của Nepal cũng bất ngờ.
* Một năm sau khi thầy phát nguyện lưu lại Lâm Tỳ Ni, việc chim hồng hạc - loài linh điểu có tên trong Sách Đỏ - đã bay về cũng có thể được xem như một điều mầu nhiệm. Công việc bảo vệ loài chim đang trên đà tuyệt chủng này đã ngốn của thầy không ít thời gian và tâm sức?
- Một môn sinh từng nói đùa rằng kiếp trước tôi mắc nợ chim hồng hạc nên kiếp này tôi phải lao tâm khổ tứ để bảo vệ chim. Đến mùa sinh nở, chim mái chỉ đẻ tối đa được hai trứng. Khi chim mái ấp, chim trống đứng canh chừng quanh tổ, sẵn sàng tấn công bất kỳ con thú nào mon men lại gần. Vậy nên, mỗi lần biết chim mái đẻ, tôi lập tức cho dựng lều cách tổ chim chừng bảy, tám thước, cắt cử người canh giữ ngày đêm. Thế nhưng, mối đe dọa lớn nhất đối với loài linh điểu này chính là con người.
Không biết xuất phát từ đâu mà người ta đồn đãi rằng nếu ai ăn được trứng chim hạc sẽ sống đến 500 tuổi, còn ăn được thịt chim hạc thì thọ được 700 năm. Chúng tôi chỉ có mười mấy người nhưng phải lo đối phó với hàng trăm người ngày đêm rình rập. Chỉ một chút sơ sẩy của người canh gác là trứng chim bị đánh cắp. Tôi vận động chính quyền địa phương, nhờ báo chí tiếp tay, để đưa loài chim này vào diện được bảo vệ đặc biệt. Những hình phạt nặng cũng đã được chính quyền đưa ra đối với những người săn bắn chim nhưng kết quả là trứng chim vẫn tiếp tục mất trộm.
Tin tưởng vào sự thiêng liêng của thánh địa nơi Đức Phật giáng trần, sau khi thành kính khấn nguyện, khẩn cầu các đấng linh thiêng gia hộ cho tôi có một quyền năng đặc biệt để bảo vệ hồng hạc, tôi thảo một tờ thông báo bằng tiếng Nepal, khuyến cáo rằng những người ăn trứng chim hạc sẽ bị ghẻ lở khắp người, còn ai giết hại chúng thì ba đời bị nạn. Hai tuần sau khi bản thông báo được phân phát, một người thợ bên chùa Nhật Bản và một công nhân tại chùa Việt Nam bị ghẻ lở đầy tay. Hoảng sợ, họ tìm đến thầy trụ trì chùa Nhật Bản và tôi để thú nhận rằng đã ăn trộm trứng chim.
Việc này lan truyền ra bên ngoài, khiến tình trạng trộm trứng chim đã giảm đi đáng kể nhưng sau đó lại bùng phát phong trào trẻ em rủ nhau đi bắn chim. Hợp tác với cảnh sát địa phương ngăn chặn không hiệu quả, tôi và các cộng sự một mặt nhẫn nại thuyết phục người dân địa phương về tầm quan trọng của chim hạc. Mặt khác, chúng tôi kiên trì thực hiện các biện pháp giáo dục cộng đồng như tổ chức chiếu phim, triển lãm ảnh…, đặc biệt là tổ chức cuộc thi vẽ về chim chóc để hướng trẻ em đến tình yêu thiên nhiên, tôn trọng sự sống của những loài muông thú.
* Trong cuốn sách Khi hồng hạc bay về xuất bản năm 2005, thầy viết rằng số lượng hồng hạc ở Lâm Tỳ Ni là 44 con. Sau ba năm, bầy chim này tăng hay giảm, thưa thầy?
- Hiện tại, số lượng hồng hạc ở Lâm Tỳ Ni đã lên đến con số 72. Làm chuyện phước đức thì sẽ gặp được những điều mầu nhiệm.
* Thầy đã chứng nghiệm được sự mầu nhiệm như thế nào?
- Có thời kỳ việc xây cất Việt Nam Phật Quốc Tự phải tạm ngưng do ngân quỹ của chúng tôi cạn kiệt. Tận dụng thời gian rảnh rỗi này, tôi đi thăm chim hồng hạc và đặt tên cho chúng. Một ngày nọ, khi đi về hướng Đông vườn Lâm Tỳ Ni, tôi gặp “Dòng sông oan nghiệt”. Sở dĩ có cái tên này là vào mùa mưa, nước ở khúc sông này dâng cao, chảy rất xiết. Nhiều người đã bị nước lũ cuốn trôi khi vượt sông. Đáng thương nhất là những gia đình có người bị bệnh nặng phải đưa ra bệnh viện trong thành phố, gặp mùa nước lũ đành ngậm ngùi quay trở về. Bữa đó, tôi bỏ dở chương trình đi thăm hồng hạc và quay về chùa, thắp hương khấn nguyện.
Ba tuần sau, một nhóm môn sinh từ các nước phương Tây ghé thăm tôi và xem chim hạc. Biết được ý định của tôi, trước khi ra về, họ hùn nhau được 420 USD, đưa cho tôi, xem như góp một viên đá đầu tiên để xây cầu. Điều mầu nhiệm bắt đầu xảy ra. Tuy nhiên, lúc đó công việc xây chùa vẫn còn khá ngổn ngang, nên khi tôi bày tỏ ý định xây cầu thì một số thành viên trong chùa kịch liệt phản đối, cho rằng tôi lo chuyện bao đồng.
Tôi cảm thấy mệt mỏi, định bụng sẽ hoàn lại số tiền 420 USD và nói lời xin lỗi anh em thì đột nhiên tôi nhận được bức thư của một Phật tử ở Mỹ, nói rằng muốn ủng hộ tôi toàn bộ chi phí để xây cầu. Qua tuần hôm sau, tôi nhận thêm được một bức thư nữa, nội dung cũng tương tự như vậy. Đến khi nhận được bức thư thứ tư có cùng nội dung thì tôi đã có đủ khả năng xây dựng tới bốn cây cầu.
Tôi quyết định viết thư cảm ơn và đề nghị sẽ nhận của mỗi người một ít vì việc xây cầu là chuyện phước đức, nhiều người làm mới tốt. Những người hảo tâm đều có quyền đóng góp nhưng khoản đóng góp tối đa không vượt quá 1.001 USD (theo quan niệm của người Nepal thì con số lẻ sẽ mang lại những điều may mắn). Điều này khiến một số người cảm thấy không vui và rút lại quyết định đóng góp.
Tuy nhiên, những khoản đóng góp của các Phật tử ở khắp nơi vẫn tiếp tục được gửi về. Thế rồi ngày khánh thành cây cầu cũng đến. Sự kiện cây cầu được khánh thành khiến ngài bộ trưởng y tế Nepal rất xúc động. Có dịp gặp gỡ với vợ chồng ngài bộ trưởng, tôi đã mạnh dạn đề nghị ngài giúp cho người dân ở Lâm Tỳ Ni một bệnh viện. Vậy là nhờ bảo vệ chim hạc, mà tôi hiểu được nỗi khổ của người dân trong vùng, từ đó mơ ước xây một cây cầu, rồi từ cây cầu mà hình thành bệnh viện. Sự kiện cây cầu tạo nên một hiệu ứng tích cực, lan tỏa từ giới chức lãnh đạo Chính phủ Nepal cho đến cộng đồng Phật giáo, tạo thành một phong trào khiến mọi người đua nhau làm việc thiện.
Bây giờ, đến Nepal, chỉ cần nói là người Việt Nam, người địa phương sẽ giở nón ra chào.
* Nepal đã trải qua một cuộc nội chiến đẫm máu kéo dài gần một thập niên. Các cường quốc trên thế giới bế tắc trong việc tìm kiếm lời giải cho bài toán khủng hoảng chính trị ở đất nước này. Còn thầy, chỉ dùng lời nói, mà thuyết phục được các bên lâm chiến buông súng?
- Tôi thương quý đất nước Nepal vì đó là nơi Đức Phật sinh ra, là nơi mang lại cho tôi nguồn hạnh phúc. Chứng kiến cảnh giết chóc, bắt bớ, chạy loạn của dân chúng, tôi vô cùng đau lòng. Khi tôi đến Nepal cất chùa, đất nước này thanh bình. Bây giờ đất nước này gặp chiến tranh, tôi làm sao có thể khoanh tay đứng nhìn. Tôi tâm niệm phải làm một điều gì đó, cho dù việc mình làm có thể chỉ như tạt một lon nước vào đám cháy lớn. Tôi làm được điều này là nhờ làm theo lời Phật dạy, con người ta luôn luôn thay đổi từng ngày. Họ ở trong bóng tối, tôi chỉ chiếu cây đèn để họ nhận ra con đường sáng và quyết định. Giải pháp mà tôi đưa ra được chấp nhận vì nó hoàn toàn nằm trong tầm tay của người Nepal.
Tình thương, lắng nghe, hiểu biết và nhân nhượng là những yếu tố để người Nepal có được hòa bình, thay vì trông chờ vào các thế lực ngoại bang. Vấn đề hòa bình cho Nepal được giải quyết ổn thỏa là một lời nhắc nhở đối với thế giới rằng hạnh phúc hay đau khổ, chiến tranh hay hòa bình là do chính bản thân họ.
Tháng Năm vừa qua, lãnh đạo các phe lâm chiến đã chấp nhận lời mời của tôi đến vườn Lâm Tỳ Ni lễ Phật. Thủ lĩnh Đảng Maoist - anh Dahal Prachanda - người từng bị nước Mỹ xem như một nhân vật khủng bố - đã run lên bần bật khi đặt chân vào thánh địa. Anh ấy đã hứa sẽ buông súng, đồng thời bồi thường thiệt hại cho những gia đình có thân nhân chết trong cuộc chiến nồi da xáo thịt này. Về phía Hoàng gia và Chính phủ Nepal hiện nay thì sẽ tổ chức một đại lễ cầu siêu cho vong hồn những người đã chết trong cuộc chiến được siêu thoát.
* Chỉ khi nhìn thấy rõ nguyên nhân của thực trạng thì mới có giải pháp đúng. Theo thầy, tại sao Nepal xảy ra chiến tranh?
- Đó là vì lòng tham. Nhiều nhà lãnh đạo trên thế giới say mê quyền lực vì tin rằng nó là sự trường cửu. Chính vì niềm tin đó mà họ tự chuốc lấy đau khổ.
* Thông thường, những người đã chọn con đường tu hành thì coi như đã bước ra ngoài chuyện thế sự. Nhưng thầy thì luôn sẵn sàng nhập thế?
- Không nên so sánh như vậy. Mong muốn lớn nhất của tôi là làm chuyện phước đức và khuyến khích người ta làm chuyện phước đức. Sau khi chiến tranh chấm dứt, Chính phủ Nepal tổ chức một bữa tiệc lớn, trước là để cảm ơn tôi, sau là nhờ tôi tiếp tục giúp đỡ cho họ. Nhưng tôi từ chối. Tôi và các cộng sự đã giúp họ gần mười năm trời. Khi họ té xuống sông, tôi đã đưa họ lên bờ. Quần áo ướt thì họ phải tự thay lấy. Đức Phật dạy rằng từ bi nhưng phải có trí tuệ, không để người ta lợi dụng mình.
* Phần lớn thời gian thầy sống ở nước ngoài. Lần trở về này, có điều kiện tiếp xúc với các Phật tử, rồi đi đây đi đó, thầy cảm nhận thế nào về đất nước?
- Tôi có cảm giác khi đất nước phát triển về vật chất mạnh, thì quan hệ giữa con người bị vật chất hóa. Đọc một số tờ báo, tôi thấy nhiều tin, bài về tội ác, có khi chỉ vì một vài trăm ngàn mà người ta sẵn sàng phạm tội. Đó là điều mà các nhà lãnh đạo cần lưu tâm.
* Về Việt Nam ít ngày, mà sao thầy mang nhiều đồ đạc thế?
- Sở dĩ đồ đạc nhiều là vì tôi mang theo cả nồi niêu, thực phẩm để tự nấu ăn lấy.
* Sao thầy không ngụ ở chùa, hay tại đồ ăn ở đây không hợp khẩu vị của thầy?
- Không phải vậy. Tôi sợ phiền lụy đến người khác.
* Xin cảm ơn thầy đã dành cho Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần cuộc trò chuyện này. Cầu chúc thầy được dồi dào sức khỏe!

Diệu Nhật
05-04-2009, 22:31
TTCN - Tôi đến Bồ Đề Đạo Tràng (Boddhgaya) lần đầu năm 1990, chưa biết có chùa Việt Nam trong quần thể chùa chiền Phật giáo các nước. Một năm sau, 1991, tôi trở lại, tình cờ gặp một nhà sư Ân Độ, được ông cho biết ở Bồ Đề Đạo Tràng cũng có chùa Việt Nam. Đó là một tòa nhà ba tầng hơn 20 căn phòng, thiết kế cho một học viện Phật giáo trong tương lai. Tòa nhà bề thế nổi bật lên giữa một khuôn viên khoảng hơn 3,5ha, một vườn cây và những ruộng nước bát ngát. Một nhà sư mang chiếc áo cà sa màu nâu quen thuộc.
Quen thì quen nhưng giữa một nơi xa lạ, tôi không dám lên tiếng bằng tiếng Việt. Tôi đoán đấy có thể là một nhà sư vùng Đông Á. Thầy Huyền Diệu khi đó thì đoán tôi là du khách Nhật. Phải qua mấy câu đối đáp tiếng Anh thì người Việt mới nhận ra người Việt.
Về lại nơi cây bồ đề
http://www2.vietbao.vn/images/vivavietnam4/tong_hop/40130414_122343sm.jpg Thầy Huyền Diệu (phải) Đã 15 năm sau lần gặp ấy. Bây giờ là mồng 4 Tết Bính Tuất, tức ngày 1-2-2006, ngồi ôn lại chuyện cũ, thầy Huyền Diệu vẫn nói rằng tôi là người đầu tiên “phát hiện” chùa Việt ở đất Phật. Không đâu thầy ơi, châu Mỹ vẫn tồn tại ở đó, nếu không có ông Colombus thì cũng sẽ có người khác phát hiện. Tôi đùa lại. Quả là sau chuyến gặp thầy ở Việt Nam Phật Quốc Tự năm 1991, tôi có viết bài bút ký Đất Phật ở Ân Độ, in trên báo Giác Ngộ, rồi in ở Văn Nghệ. Bài viết nhận được sự quan tâm rộng rãi của dư luận trong nước, dẫn đến việc rất nhiều đoàn Phật tử hành hương và du khách đến với chùa Việt Nam trong suốt 15 năm qua.
Thầy Huyền Diệu là người cầu toàn, dự định chỉ khi nào xây dựng hoàn chỉnh toàn bộ quần thể chùa chiền thì mới thông báo cho mọi người đến chiêm bái. Nếu không bị tôi “phát hiện” ra, thầy chắc rằng thầy vẫn im lặng trong nhiều năm nữa.
Thầy Huyền Diệu xa nước từ năm 1969. Sang Pháp du học, đỗ tiến sĩ sử học ở Đại học Sorbonne danh tiếng, thầy lại tìm đường đến đất Phật Ấn Độ, tâm nguyện một ngày sẽ làm cho Phật giáo VN hiện diện tại chốn linh thiêng này.
Vườn cây lưu niên năm nào mới cao ngang đầu người, bây giờ đã vươn cao um tùm như rừng. Cây lên cao đến mức che khuất cả ngôi chùa cao ngất, che cả tòa nhà bề thế mấy chục căn phòng. Con kênh và ruộng lúa nước thầy tự tạo nay cũng đã được san lấp, trở thành rừng cây.
Nơi ruộng nước tôi từng lội xuống hái rau muống bị đỉa bám chân nay đã mọc lên mấy chục loại cây cỏ đất Việt, hoặc những cây liên quan đến đời Phật. Bước vào đến lãnh địa chùa Việt Nam, lập tức ta được một không gian thanh tịnh yên bình bao bọc. Một thế giới khác hẳn quần thể chùa chiền các nước ở bên ngoài kia.
Khu vực chùa chính, chùa Đại Giác Ngộ (Mahaboddhi), nơi có cây bồ đề của Đức Phật, nơi có pho tượng Phật đúng tư thế ngồi hướng về phía đông khi Người giác ngộ, có những dấu tích Người lưu lại bảy tuần đầu tiên sau khi hoàn chỉnh hệ thống tư tưởng của mình... Đầu tháng hai, trong chùa và cả trong trấn, hàng nghìn người Tây Tạng hành hương theo mùa, sắc áo cà sa làm đỏ rực không gian.
Đố ai tìm ra một khoảng không gian rất nhỏ để được tĩnh tọa thiền định một mình. Vài chục ngôi chùa mang kiến trúc độc đáo của vài chục nước đã và đang trở thành khách sạn, thành nhà trọ. Đoàn đoàn lũ lũ du khách Âu Á đang phá tan cảnh thanh bình mà tôi được thụ hưởng ở Bồ Đề Đạo Tràng từ mười mấy năm trước. Không còn là chốn bình yên nữa, du khách đến và ném lại lon nước chai nước, ném lại túi nilông và mọi thứ rác rưởi. Những cái ao và ruộng nước đen ngòm bốc mùi vì rác.
Chỉ còn có Việt Nam Phật Quốc Tự là ngôi chùa hiếm hoi giữ được môi trường, hơn thế lại là một cánh rừng um tùm không khí thanh sạch. Vì sao ư? Phải đánh đổi, hoặc là chùa sạch đẹp, hoặc là cho du khách đến thuê ở, chùa có tiền, nhưng bài học của 20 ngôi chùa khác luôn luôn trước mắt.
Mừng cho chùa ta, thầy Huyền Diệu có ý thức về không gian Phật giáo thanh bình bất khả xâm phạm. Nhưng ai đã chứng kiến một xứ Phật chỉ hơn mười năm trước còn đơn sơ trong lành, nay ô nhiễm mà không khỏi hoài niệm? Buồn là buồn cho cả một thánh địa, nhưng một khi rút hẳn về trong quần thể chùa Việt Nam, thì ai cũng được thụ hưởng không khí an lành và cảm thấy rõ ràng được lánh hẳn nơi trần tục.
Giấc mơ không tưởng đã thành sự thật
http://www2.vietbao.vn/images/vivavietnam4/tong_hop/40130414_122342sm.jpg Từ chính điện nhìn xuống khu chùa Lâm Tì Ni, có thể thấy cây cầu hình bản đồ VN Xứ Bồ Đề Đạo Tràng bây giờ đã có sân bay - lại thêm một điều mới mẻ so với trước. Từ Hà Nội hoặc Sài Gòn, du khách có thể đi máy bay sang Bangkok, từ đó bay thẳng sang Gaya (cách Bồ Đề Đạo Tràng có 8km) bằng máy bay của Indian Airlines. Nhưng ở Hà Nội, hàng không Thái vẫn nói với khách là không có chuyến bay thẳng sang Gaya, như vậy ta buộc phải bay sang Kolkata, một chặng đi vòng, vừa tốn tiền vừa tốn sức lực và thời gian hơn nhiều. Dành một ngày thăm Bồ Đề Đạo Tràng rồi thầy Huyền Diệu thuê xe đưa chúng tôi đi xuyên qua biển mây mù về phía biên giới với Nepal. Trong bóng đêm thâm u của vùng núi Nepal, nhiệt độ xuống dưới 10oC, không ai không xúc động khi nhìn thấy cổng chùa Việt Nam, nhìn thấy những tượng hình uy nghi của chính điện, của các tòa nhà văn phòng và cư xá trong một dinh cơ lớn.
Lúc ban mai ửng hồng, rồi một ngày nắng đẹp, toàn bộ khuôn viên Việt Nam Phật Quốc Tự sáng bừng lên. Nhìn sang bên tả bên hữu, chùa Thiếu Lâm Trung Quốc, chùa Tây Tạng do người tha hương ở Đức sang xây, chùa Hàn Quốc gần đó, chùa Thái Lan, Myanmar, Nhật Bản xa xa... Giữa cộng đồng những ngôi chùa phô phang kiến trúc đặc trưng các dân tộc, chùa Việt Nam vẫn nổi lên tính hài hòa quần thể và bản sắc riêng.
Giống như ở chùa Việt Nam bên xứ Bồ Đề Đạo Tràng, chính điện chùa ở Lâm Tì Ni (Lumbini) cũng có ba pho tượng Phật bằng gỗ mít, tượng hình Phật ở hiện tại, quá khứ và vị lai. Ở gian trong có bàn thờ các bậc chân tu qua các thời đại, đối diện với bàn thờ các anh hùng liệt sĩ qua mọi thời đã hi sinh vì Tổ quốc. Từ chính điện ở trên cao nhìn xuống sẽ thấy ngay chính giữa khuôn viên chùa là một cây cầu bắc trên một hồ nước hoa sen hoa súng.
Cây cầu này đặc sắc ở chỗ nó uốn lượn mang hình bản đồ VN, nếu bước chân lên đó, ta có thể tìm thấy địa phận tỉnh thành quê hương mình. Cũng từ chính điện nhìn xuống sẽ thấy ở góc trái là ngôi chùa Một Cột bề thế, kích cỡ có lẽ phải gấp đôi chùa Một Cột nguyên bản ở Hà Nội. Gấp đôi, cho nên chùa Một Cột ở đây dáng vẻ uy nghi bề thế.
Ta có thể đã đọc cuốn sách của thầy Huyền Diệu viết về việc xây một chiếc cầu VN cho người dân Nepal ở vùng Lâm Tì Ni, từ nay mùa lũ người địa phương qua suối mà không lo bị cuốn trôi như dạo trước. Ta có thể đã biết thầy Huyền Diệu là người hoạt động không mệt mỏi vì môi trường, đã bảo vệ đàn chim hồng hạc trong cả vùng, nhưng phải tận mắt nhìn thấy những con chim hồng hạc trong vườn chùa mới cảm hết những nỗ lực.
Con hồng hạc nhỏ có cha mẹ bị rắn cắn ngày ngày cặm cụi kiếm ăn trong lạch nước góc chùa, tối tối nghe tiếng chó sói tru lên quanh chùa thì tự động chui vào chuồng bảo vệ, trông như một tấm màn chống muỗi rộng chừng mười mét vuông. Con hồng hạc lớn thì chó sói cũng phải sợ, mỗi khi thấy bóng thầy Huyền Diệu đi về am cỏ tranh ở góc chùa là hồng hạc đi theo, lảng vảng quanh am cỏ, thậm chí chui vào trong am, tinh nghịch dùng mỏ gỡ kính mắt của nhà sư đang nằm nghỉ trên võng.
Là chủ tịch Hội đồng Phật giáo thế giới ở xứ Lâm Tì Ni (di sản văn hóa thế giới của UNESCO), thầy Huyền Diệu dùng ảnh hưởng của mình để thuyết phục ban quản lý toàn xứ dời những hộ dân ra xa quần thể chùa chiền, dời khu chợ và hàng quán cách xa khu chùa 4km. Như vậy Lâm Tì Ni tránh được nguy cơ ô nhiễm môi trường mà xứ Bồ Đề Đạo Tràng đang phải gánh chịu.
Phải đi dạo khắp vùng Lâm Tì Ni mới thấy hết những nỗ lực của nhà sư người Việt. Chiều muộn, ta đến thăm quần thể di tích nơi Đức Phật ra đời, thăm hồ nước mà bà Maya Devi, thân mẫu của Phật, đã tắm trước khi sinh, thăm cột đá hoàng đế Ashoka ghi lại rành rành dấu tích Phật đản...
Rồi bước chân ra khỏi khu di tích, dạo bước giữa vùng hồ rộng lớn và những rừng cây trải ra xa tít, đấy là lúc cảm nhận sâu sắc cái ý nghĩa thiên đường. Thanh bình nữa, an lạc nữa. Dường như ở nơi tận cùng thế giới, nơi góc khuất của dãy Himalaya, ta được nếm trải giây phút thanh sạch hiếm hoi mà khó nơi nào trên thế gian này có thể cho ta được.
Tôi đã viếng thăm Bồ Đề Đạo Tràng cả thảy năm lần. Lâm Tì Ni thì đây mới là lần thứ hai. Năm 1992, toàn bộ vùng Lâm Tì Ni xung quanh di tích Phật ra đời chỉ là một cánh đồng hoang vu, cỏ lau trắng toát trải ra bất tận. Có chỗ đầm lầy phải đi vào bằng thuyền. Tôi đứng giữa ngàn lau, có chút hoài cổ, nơi linh thiêng từng có những thiền viện Phật giáo buổi hoàng kim giờ trắng bạc lau sậy thế này đây.
Lúc đó làm sao tưởng tượng ra 14 năm sau mình được đứng giữa một giáo xứ hồi sinh, lồng lộng 20 ngôi chùa cao vút. Cả xứ Lâm Tì Ni, đến cả nhà vua Nepal giờ vẫn nhắc công thầy Huyền Diệu, người đầu tiên đến dựng chùa Việt Nam cho các nước khác theo dấu chân mà đến mở mang tiếp. Không chỉ là giáo xứ, nơi đây bây giờ thật sự là một Liên hiệp quốc Phật tự.
Bạt ngàn lau trắng đã phải lùi bước trước nhà sư VN. Người tiên phong đi mở đất ở Lâm Tì Ni, phát quang cánh đồng, rắn hổ mang to như bắp chân bỏ chạy hàng đàn. Hàng đàn sói bỏ chạy vào rừng, đêm đêm mò ra tru lên nhớ vùng đất cũ. Dựng lều bạt đốt lửa xua thú. Đào móng, xây nền. Một ngôi chùa dựng lên. Những ngôi chùa dựng lên. Cả một xứ Lâm Tì Ni được tái thiết. Một phép lạ. Một sự mầu nhiệm.
Năm 1994, chia tay thầy ở Bồ Đề Đạo Tràng, chùa ở xứ này khi ấy còn ngổn ngang, chính điện chưa xây được, rừng cây mới cao ngang đầu người, thầy lại bảo đang có kế hoạch xây một chùa nữa ở Nepal. Nhiều người từng bảo thầy là Mr. Utopia (ngài Không Tưởng). Lúc ấy tôi cũng đùa gọi thầy là ngài Không Tưởng. Trời ơi, xây cái chùa xứ Ấn còn chưa xong, thầy đã lo chuyện xa xôi, vươn sang tận Nepal làm gì.
12 năm sau trở lại, cả hai ngôi chùa đều đã thành hình, giấc mơ không tưởng đã thành sự thật. Nhưng tôi vẫn mang tặng thầy bản dịch cuốn sách của Thomas More, nhà văn Anh từ thế kỷ XVI, tựa sách tiếng Anh là Utopia, tiếng Việt là Địa đàng trần gian. Cả hai khái niệm đều đúng với thầy Huyền Diệu và những gì thầy đã làm trên hai thánh địa Phật giáo.
Thầy Huyền Diệu mời các nhà văn VN lúc nào thu xếp được thì đến hai nơi này ngồi mà viết. Như một hình thức trại sáng tác mà các nhà văn ta hay tổ chức. Một thứ Writer - in - residence mà các nhà văn nước ngoài hay làm.
Tôi đã chứng kiến chùa Bồ Đề Đạo Tràng khi còn là một sinh linh trứng nước, giờ đã lớn cao vạm vỡ trưởng thành. Tôi đã biết Lâm Tì Ni khi chùa VN còn chưa có dấu hiệu ra đời, giờ lại cũng đã kịp bề thế trưởng thành. Nhờ sự mầu nhiệm. Thầy Huyền Diệu bảo: Nhờ hồn thiêng sông núi.

Diệu Nhật
05-04-2009, 22:32
http://www2.vietbao.vn/images/vn65/xa-hoi/65077886-small_83963.jpg Thầy Huyền Diệu. Câu chuyện về thầy Huyền Diệu, một nhà tu hành người Việt có công lớn trong việc lập lại hoà bình ở Nepal.

Đọc bản tin về hiệp ước hoà bình giữa phe du kích quân Maoist và chính phủ Nepal vừa ký kết, chấm dứt cuộc nội chiến kéo dài 10 năm, giết hại 13.000 người, và mở ra một thời đại mới cho đất nước nhỏ bé dưới chân dãy Himalaya, tôi bồi hồi nhớ lại cả quá trình kiên trì vận động hoà bình của thầy Huyền Diệu, mà mình được theo dõi sát sao và đóng góp một phần nhỏ bé… từ xa.

Tết an bình trong thời loạn lạc

Tháng 3 năm 2004, vợ chồng tôi ở trong chùa Việt Nam Phật Quốc tự, ngôi chùa quốc tế đầu tiên do thầy Huyền Diệu - nhà tu hành người Việt Nam sáng lập tại thánh địa Lumbini, nơi Đức Phật Thích Ca giáng trần. Trong hơn một tháng trời ở đó, tuy còn xa những nơi có chiến trận, chúng tôi cũng cảm nhận rõ ràng không khí chiến tranh. Đường điện thoại thường xuyên bị cắt đứt, những cuộc cấm vận thường xuyên khiến giao thông ngừng trệ. Hôm rời Lumbini trở về Việt Nam, chúng tôi phải đi xe lôi khoảng 25km ra sân bay địa phương, rồi từ đó đáp máy bay lên thủ đô Kathmandu, để từ Kathmandu bay về Thái Lan. Trên đường đi, chúng tôi gặp những chiếc xe tải bị đốt cháy đen vì đã dám vi phạm lệnh cấm vận của phe du kích.

Thực ra từ hơn 10 năm trước, sau cuộc khủng hoảng chính trị kéo dài trong thời gian đầu của chế độ quân chủ lập hiến Nepal, đặc biệt là việc nhóm Maoist ly khai khỏi Đảng Cộng sản Nepal và phát động chiến tranh du kích nhằm lật đổ vương quyền, thầy Huyền Diệu đã cảnh báo với nhà vua và các chính đảng về nguy cơ một cuộc nội chiến kéo dài, cần phải chặn đứng ngay bằng thương thuyết hoà giải, nhưng không mấy ai tin lời thầy.

Phần lớn chính khách coi nhóm Maoist chỉ là lũ phiến quân nhỏ bé có thể dễ dàng dẹp tan bằng vũ lực. Thực tế đã chứng minh lời thầy. Quân du kích đã ngày càng mạnh mẽ, kiểm soát nhiều vùng rừng núi, bao vây và cắt liên lạc giữa các thành phố, tấn công quân đội và các đồn cảnh sát. Một số cuộc đàm phán chỉ đem lại ngừng bắn tạm thời ngắn hạn và sau mỗi lần thì quy mô và tính chất khốc liệt của cuộc chiến càng tăng lên.

Chính trong những ngày căng thẳng ấy, thầy Huyền Diệu đã trao đổi với tôi mà thầy coi như một người bạn và một số đệ tử của thầy, về kế hoạch vận động hoà bình cho Nepal. Là người được cả chính giới lẫn dân chúng Nepal tôn kính vì công lao mở đầu việc khôi phục thánh địa Lumbini (từ chỗ hoang vu điêu tàn, nay Lumbini đã thành di sản văn hoá thế giới với một hệ thống chùa và tu viện quốc tế hoành tráng - thầy giữ vai trò Chủ tịch Liên đoàn Phật giáo quốc tế ở đó), vì những nghĩa cử đối với dân trong vùng (thầy đã xây dựng cây cầu Tình thương Việt Nam qua dòng sông oan nghiệt từng cướp đi nhiều mạng sống trong mùa mưa lũ), vì công cuộc bảo vệ đàn chim hạc và môi sinh Lumbini… Thầy có lòng tin ở "sự nhiệm màu" của thiện tâm, và sức mạnh tâm linh của Thánh địa Lumbini, của tinh thần đại từ đại bi mà Đức Thích Ca rao truyền.

Ngày 12/6/2004, nhân ngày lễ Phật đản, thầy gửi lá thư ngỏ cho nhà vua, thủ tướng và tất cả các đảng phái chính trị Nepal, mời các bên tới Việt Nam Phật Quốc tự ở Lumbini để gặp gỡ bàn về một giải pháp cho hoà bình. Thầy đề nghị các vị chính khách tới sống một tuần trong chùa, cầu nguyện và thiền định để tâm lắng dịu trước khi bàn cãi. Bức thư được công bố trong buổi họp báo ở thủ đô Kathmandu, tại Câu lạc bộ Nhà báo, với sự có mặt của đại diện nhiều đảng phái, đã như hồi chuông đầu tiên thức tỉnh lòng hoà hiếu giữa ngọn lửa căm thù và đối kháng.

Báo chí Kathmadu đưa tin về sự kiện này với hàng tít lớn: "Nhà sư Việt Nam kêu gọi cầu nguyện cho hoà bình Nepal", "Giải pháp hoà bình của nhà sư: thiền định ở Lumbini"... Kết quả là một số chính đảng đã bí mật sắp xếp cho cuộc gặp gỡ ở Lumbini. Tiếc thay, cuộc gặp đã không diễn ra do thiếu sự tế nhị và kín đáo cần thiết.

Cuộc nội chiến tiếp tục leo thang và rộ lên vào cuối năm 2004. Mọi người chờ đợi có cuộc ngừng bắn vào dịp lễ Dasain (lễ mừng Năm Mới của Nepal, vào khoảng tháng 2 Tây lịch), nhưng cho đến lúc ấy vẫn không có dấu hiệu gì khả quan. Các bạn người Nepal của thầy, trong đó có một số lãnh tụ chính đảng, yêu cầu thầy lên tiếng. Họ hứa sẽ tổ chức một cuộc họp ở Kathmandu để thầy đưa ra lời kêu gọi ngừng bắn.

Cuộc họp ở Trung tâm văn hoá Kathmandu diễn ra rất thuận lợi. Tuy không tin tưởng vào thiện chí của phe Maoist, Chính phủ cuối cùng cũng đồng ý với thầy sẽ không đơn phương nổ súng trong dịp 9 ngày lễ Năm Mới mà chỉ bắn trả khi bị tấn công. Sau dịp lễ, một số người Nepal tìm đến cảm ơn thầy vì sau gần mười năm loạn lạc, đây là lần đầu tiên họ được về ăn tết ở quê nhà trong vùng Maoist kiểm soát.

Cùng lúc ấy, một hội nghị quốc tế lớn được dự kiến diễn ra từ ngày 30 tháng 11 đến 3 tháng 12 năm 2004 tại Lumbini dưới sự bảo trợ của Chính phủ Nepal, Quỹ Uỷ thác Phát triển Lumbini và nhiều tổ chức quốc tế khác. Mục tiêu của hội nghị, với sự tham dự của các lãnh tụ chính trị Nepal và nhiều đoàn đại biểu Phật giáo các nước, là nhằm củng cố nền ngoại giao của Nepal, tìm kiếm sự trợ giúp mạnh mẽ hơn của cộng đồng thế giới cho đất nước nhỏ bé và nghèo nàn này. Rất nhiều nỗ lực đã được bỏ ra để chuẩn bị hội nghị, nhưng điều tiên quyết là hội nghị phải tránh được sự phá hoại của phe Maoist.

Các nhà tổ chức hội nghị và các chính khách một lần nữa thỉnh cầu thầy Huyền Diệu đích thân gặp quân du kích để yêu cầu họ ngừng chiến trong thời gian diễn ra hội nghị, ít ra là tại quận Rupandehi - quận sở tại của Thánh địa Lumbini.

Thầy Huyền Diệu đã nhận lời. Nhưng thầy không biết làm sao tiếp xúc với các lãnh tụ phe Maoist vốn không ra mặt. Thầy quyết định lập tức bay lên thủ đô Kathmandu để nhờ báo giới chuyển thông điệp của mình tới phe Maoist. Thầy tin rằng đó là con đường ngắn nhất để giải quyết vấn đề.

Trong cuộc họp báo kéo dài một giờ rưỡi, thầy nói rõ mình không phải là đại diện của chính quyền, mà cất tiếng nói của riêng mình, vì danh dự của đất nước Nepal và tương lai của dân tộc này. Thầy long trọng nhờ báo chí gửi tới lời yêu cầu ngừng các vụ nổ bom và đình công trong vùng Rupandehi.
Và như một phép lạ, chỉ 4 giờ sau cuộc họp báo, qua sóng FM radio và các hãng thông tấn, mọi người được biết các lãnh tụ Maoist đã bãi bỏ lệnh tổng đình công 3 ngày ở Rupandeh

Diệu Nhật
05-04-2009, 22:33
http://www2.vietbao.vn/images/vn45/doi-song/45218806-14.jpg Thầy Huyền Diệu và tác giả tại chùa Việt Nam Phật Quốc tự Vào một buổi trưa khi xe chúng tôi đang chạy bon bon trên con đường nhựa băng qua cánh đồng lúa rộng lớn bao quanh khu vực Lâm Tỳ Ni, tôi chợt nhìn thấy một đôi chim khổng lồ màu xám đang bình thản tìm ăn bên cạnh những người nông dân đang làm ruộng. Chim này khi đứng vươn lên, cao hơn cả những người nông dân đứng bên cạnh.
Xe chạy một đoạn nữa tôi lại thấy một đôi chim khác cũng y hệt. Tôi biết đây là loại chim hồng hạc vào loại quý hiếm của thế giới, ở Việt Nam chúng ta cũng có loại chim hạc tương tự bay về trú đông ở Tam Nông - Đồng Tháp nhưng vóc dáng nhỏ hơn. Tôi khẩn thiết yêu cầu xe dừng lại để chạy đến gần chụp hình vì tôi từng đến Tam Nông rình và chờ cả một ngày nhưng chẳng được thấy một bóng chim nào chứ đừng nói là chụp được hình. Tuy nhiên có người nói rằng lát nữa đến Việt Nam Phật Quốc tự sẽ tha hồ được chụp. Người ấy nói thêm: những con hạc này có ở đây và đi đứng nhởn nhơ bên cạnh con người như vậy là do từ thầy Huyền Diệu mà ra.
Tôi gặp thầy Huyền Diệu ngay sau đó tại chùa Việt Nam Phật Quốc tự. Thầy Huyền Diệu kể: "Khi mới đến Lâm Tỳ Ni tôi nhận thấy nơi này không có nhiều loài chim. Đến năm thứ nhì, một buổi sáng từ trong lều bạt bước ra, tôi sửng sốt khi nhìn thấy hai con chim cao lớn lạ thường đang đứng ngay trước lều. Tôi cao 1 mét 68 thế mà hai con chim này lại đứng cao hơn cả tôi. Cảm giác đầu tiên là sự khiếp sợ. Tôi vội vã bỏ chạy vào lều rồi lập tức thủ sẵn một khúc cây để có thể tự vệ. Tôi liên tưởng đến những con chim ăn thịt người trong truyền thuyết. Nhưng khi quan sát kỹ, hai con chim có bộ lông xám và vòng cổ đỏ duyên dáng này có vẻ hiền lành, ánh mắt nhìn ra chiều thân thiện, tôi an lòng. Lát sau chúng bay đi, con trước con sau nhịp nhàng vỗ cánh như lướt trên bầu trời với dáng vẻ cao quý đẹp đẽ không thể tả. Tôi vào thư viện tra tự điển và khám phá đây là loài chim hồng hạc - tên khoa học là Sarus Crane - với chiều cao trung bình khoảng 1 mét 7 và nặng trên dưới 9 kg, là giống chim cao nhất thế giới và sống riêng rẽ từng cặp. Quả là một hình ảnh tượng trưng cho hạnh phúc và biểu tượng của sự hòa hợp trong cuộc sống".
http://www2.vietbao.vn/images/vn45/doi-song/45218806-anh-31.jpg
Chim hồng hạc luôn quấn quýt bên thầy Huyền Diệu
Từ đó đôi chim này luôn quấn quýt bên thầy Huyền Diệu. Rồi dần dần nhiều cặp chim khác bay về. Chúng làm tổ và đẻ trứng ngay trên cánh đồng chung quanh chùa Việt Nam. Dân làng ở quanh khu vực này lại không biết sự quan trọng của loài hồng hạc nên hay săn bắt hoặc lấy trứng của chúng. Thầy Huyền Diệu phải mở cuộc vận động đến mọi người từ cấp chính quyền đến người dân nói lên tầm quan trọng của loài chim quý hiếm này. Mọi người đồng tình và lập ra các tổ bảo vệ chim. Khi chim đẻ còn phải lập chòi gần đó canh giữ. Nhờ vậy chim rủ nhau về càng ngày càng nhiều hơn. Thầy Huyền Diệu cho biết hiện nay đã có đến 66 con chim hạc đang sinh sống ở đây.
Tôi ra vườn của chùa thấy ngay một đôi chim hạc to lớn và xinh đẹp đang an nhàn đi lại. Vài người đến gần chụp hình, chúng đứng yên cho chụp với cái đầu đỏ nghiêng qua nghiêng lại trông rất duyên dáng. Có một chị phật tử thấy chúng quá xinh xắn và hiền lành, định đến gần vuốt ve bị chúng phản ứng ngay. Tuy vậy, với thầy Huyền Diệu hoặc với các tăng ni khác trong chùa thì chúng tỏ ra vô cùng thân thiện.
http://www2.vietbao.vn/images/vn45/doi-song/45218806-anh-34.jpg

Tác giả và 2 chim hạc tại chùa VNPQT
Trên đường trở về khi đi ngang qua các ngôi chùa quốc tế lộng lẫy uy nghi ở chung quanh khu vực Lâm Tỳ Ni, tôi chợt nghĩ: những ngôi chùa này cũng như những con chim hạc cao quý và hiền lành kia lần lượt tụ về thánh địa Lâm Tỳ Ni như một nghiệp duyên giống như nhiều con người xa lạ từ khắp nơi trên thế giới lần lượt tụ về đây.
oOo
Tôi gặp rất nhiều người Việt ở vùng đất Phật. Họ đến từ Việt Nam, từ Mỹ, từ Úc, Canada, châu Âu... Họ có thể là tăng ni, là phật tử và cũng có thể là người dân thường. Điều làm tôi ngạc nhiên là một số lớn trong những người ấy sau khi qua đây một vài lần bỗng dưng phát tâm ở hẳn lại vùng đất nghèo khó, thiếu thốn và khắc nghiệt này - mùa nóng thì nhiệt độ lên đến 56 độ C, mùa lạnh có khi xuống dưới 10 độ C - để tu hành hoặc làm công quả hoặc xây chùa (đã có khoảng 10 ngôi chùa Việt Nam tại vùng đất Phật).
Tôi chỉ được hơn 10 ngày bước chân vào xứ sở của Phật thế mà lòng thấy cứ tăng dần lên một cảm giác lâng lâng sung sướng, quên hết mọi lo toan nặng nề của cuộc đời. Cảm giác nhẹ lâng đó cứ dai dẳng trong tôi và càng lúc càng mạnh lên đến mức tôi nghĩ rằng hay là mình cứ ở mãi tại đây và... theo về với Phật. Tôi chợt hiểu được tại sao có nhiều người tự nguyện ở lại. Tôi đang trở thành như họ rồi ư?
Tôi bỗng giật mình. Còn nhiều nhiệm vụ ở cơ quan chưa làm xong, còn nhiều việc của gia đình phải lo toan, còn nhiều món nợ (cụ thể) với ngân hàng phải trả... Tôi quá nặng nợ với cuộc đời. Thế là tôi phải tiếc nuối giết chết cái cảm giác lâng lâng sung sướng mà mình không dễ gì có được để trở về với cuộc đời trần tục sân si của mình.

Diệu Nhật
05-04-2009, 22:33
Xây một ngôi chùa Một Cột giống như nguyên bản ở Hà Nội: có cổng tam quan, có những tảng đá lớn đưa về làm non bộ, sẽ thuê thợ đục trên những tảng đá đó một số bài thơ cổ thời Lý, Trần.


Bút ký của Nguyễn Lê Bách

http://www2.vietbao.vn/images/viet2/van-hoa/20767400_images1494970_dieuhuyen1.jpg (http://vietbao.vn/images/viet2/van-hoa/20767400_images1494970_dieuhuyen1.jpg) Thầy Huyền Diệu (áo nâu) và tác giả trong bữa cơm chay tại Việt Nam Phật quốc tự. Do hoàn cảnh công tác nên tôi đã có dịp đến tham quan những thánh địa gốc của nhiều tôn giáo. Trong số đó, đạo Phật được coi là gần gũi nhất với người Việt Nam mình. Từ hàng ngàn năm nay, đạo Phật đã phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam, có số người theo đạo nhiều nhất. Có thể nói hầu như ở làng quê nào ở nước ta cũng có một ngôi chùa cổ kính, còn ở các thành phố thì có tới 6, 7 ngôi chùa lớn nhỏ. Tuổi thơ của mỗi người Việt Nam mình thường gắn liền với kỷ niệm theo mẹ, theo bà đi lễ chùa trong dịp Tết hoặc ngày rằm, mồng một hàng tháng. Vì thế, khi được cử đến công tác dài hạn ở Ấn Độ, tôi quyết tâm phải có một chuyến hành hương về đất Phật, vừa là chiêm ngưỡng, bổ sung cho kiến thức, vừa để thỏa lòng mong ước của tâm linh.
Trên đất nước này, có 3 địa danh liên quan đến đạo Phật: Bodhgaya là nơi hoàng tử Siddhartha Gautam (trong kinh Phật được gọi là Tất Đạt Đa) tu niệm, ngồi thiền dưới gốc cây bồ đề đạt đến độ siêu thoát và trở thành đức Phật; Sarnath là nơi đức Phật đến giảng bài kinh đầu tiên và Kushinagai là nơi đức Phật qua đời. Bên cạnh Ấn Độ –ở Nepal- còn có Lumbini (Lâm Tì Ni) là nơi hoàng tử Tất Đạt Đa ra đời. Tôi quyết định chọn đi Bodhgaya trước bởi điều kỳ diệu là ở nơi đó có một ngôi chùa Việt Nam do một nhà sư Việt Nam xây dựng và trụ trì.
Đi xe lửa một đêm từ thủ đô New Delhi đến ga Bodhgaya (thuộc bang Bihar), sau đó thêm 15km trên xe ngựa, tôi đến đất Phật vào một buổi sáng đẹp trời. Từ xa đã nhìn thấy Bồ Đề Đạo Tràng và Kim Cương Tòa với kiểu tháp 4 mặt, cao vòi vọi trên nền trời. Xe ngựa đi chầm chậm, qua một loạt chùa của các nước: chùa Nepal, Nhật Bản, Myanmar, Thái Lan, Sri Lanka, chùa Tây Tạng... Do đây là đất Phật nên UNESCO đã có kế hoạch xác định vùng này thuộc di sản văn hóa của nhân loại. Vì thế các nước theo đạo Phật đã bỏ tiền ra xây chùa theo kiểu kiến trúc của đất nước mình.
Chùa Việt Nam đây rồi. Từ xa, đã nhìn thấy hàng chữ “Việt Nam Phật Quốc Tự” màu đỏ, kẻ trên gác chuông của một ngôi nhà 3 tầng. Ở cổng vào, có một bản đồ Việt Nam đắp nổi bằng xi măng trên tường bên cánh cửa. May mắn cho tôi là nhà sư trụ trì đang có nhà. Thầy Huyền Diệu (pháp danh của thầy) vồn vã, ân cần đưa tôi vào chùa.
Thầy quy y từ nhỏ ở miền Nam, quê ở Long Thành, Đồng Nai. Tên khai sinh thầy là Lâm Trung Quốc –và trong một lần đàm đạo sau này, thầy nói rõ cho tôi hay chữ “Trung” trong tên thầy viết theo chữ nho, có chữ “tâm” ở dưới, có nghĩa là “trung thành” chứ không phải là “trung tâm”. Thời kỳ chống Mỹ, thầy tham gia phong trào Phật tử yêu nước nên bị chính quyền ngụy trục xuất sang Pháp. Tại Pháp, thầy vừa làm vừa học và đã có bằng tiến sĩ thần học ở trường Đại học Sorbone nổi tiếng.
Thầy đi hành hương sang Bodhgaya và khi thấy các nước đều có chùa ở đó, thầy đã nguyện dưới gốc cây bồ đề thiêng rằng sẽ phải xây bằng được một ngôi chùa Việt Nam ở đó. Bắt đầu từ đấy là một chuỗi năm tháng gian khổ, Thầy phải tạm trú và cầu kinh trong ngôi chùa của Myanmar. Sự thông thái về kinh kệ và ngoại ngữ của thầy khiến thầy được nhiều trường đại học lớn ở Nhật Bản, Tây Âu, Bắc Mỹ mời làm giáo sư thỉnh giảng. Tiền dành dụm được, cộng với ít tiền quyên góp của các Phật tử Việt Nam ở các nước, thầy bắt đầu mua đất và vật liệu xây dựng.
Ròng rã tích cóp như vậy trong vòng 20 năm, chỉ một mình thầy lo toan mọi việc, từ bản vẽ, làm thủ tục xin phép, thuê thợ, chỉ huy thi công... và đến giữa năm 1992, thầy đã dựng được một ngôi chùa 3 tầng, có nhiều phòng, và đặt tên là “Việt Nam Phật Quốc Tự”.
http://www2.vietbao.vn/images/viet2/van-hoa/20767400_images1494972_dieuhuyen2.jpg (http://vietbao.vn/images/viet2/van-hoa/20767400_images1494972_dieuhuyen2.jpg) Thầy Diệu Huyền thuyết pháp tại Việt Nam Phật quốc tự. Hôm tôi đến, trong chùa còn có 2 nhà sư Myanmar đang được thầy hướng dẫn chuẩn bị luận án cử nhân khoa học (MSc) về Phật học. Tất cả những ai là người Việt Nam đến thăm chùa, đều được thầy Huyền Diệu mời lưu lại trong chùa 3 ngày miễn phí. Gạo có sẵn, cũng là từ giống lúa cày cấy trong diện tích đất của chùa, chừng 2 ha. Rau quả trong vườn cũng do thầy tự trồng: bí, mướp, đu đủ, các loại rau. Đến bữa, khách tự đi nấu, có phòng ăn, bếp ga...sẵn sàng. Buổi tối, khách được đưa về từng phòng với thiết bị đầy đủ: chăn, nệm, gối, quạt trần, có phòng tắm và vệ sinh riêng, kể cả bình đun nước nóng bằng điện. Các phòng không đánh số 1, 2, 3... mà được đặt tên các Phật tử yêu nước ở miền Nam trước đây: “Phòng Quách Thị Trang”, “Phòng Thích Quảng Đức”...Đã từng có đoàn đông tới 30, 40 người từ trong nước sang hành hương, nhưng trong chùa có đủ phòng để ở.
Tôi thực sự xúc động Khi hỏi thầy về tấm bản đồ đắp nổi ở cổng chùa –mà lại đắp ở một bên tường ngang cánh cửa- và nghe thầy giải thích: ”Trong trăm ngàn chúng sinh đến chiêm bái đất Phật này, biết đâu có những người mù lòa, khiếm thị. Họ sờ tấm bản đồ để xác định là đã đến chùa Việt Nam”.
Ba ngày là thời gian đủ để đi thăm những di tích của đức Phật ở trong vùng. Thầy đưa tôi đi thăm hang đá ở Khổ Hạnh Lâm (Dungsiri), nơi đức Phật đã tu 6 năm đầu tiên theo kiểu hành xác, thăm sông Nairangana, nơi đức Phật được cô Tu Sà Đa (Sujata) cho một bát cháo và Người tỉnh ngộ rằng không thể tiếp tục cực đoan theo kiểu hành xác mà phải ăn để mà sống, mà truyền đạo cho đời.
Đặc biệt, thầy Huyền Diệu dẫn tôi đến thắp hương ở gốc cây bồ đề hơn 2.500 năm tuổi, chính là nơi mà hoàng tử Tất Đạt Đa đã ngồi thiền, giác ngộ, đạt đến độ diêu thoát để trở thành đức Phật. Quanh gốc cây cổ thụ, đã xây bệ, có nơi thắp hương, làm lễ. Thầy còn hướng dẫn tôi đi thăm chùa các nước, giảng cho tôi về kiểu kiến trúc của từng chùa. Chùa Nhật Bản với pho tượng Phật cao hàng chục mét bằng đá trắng, tốn phí xây dựng tới hơn một triệu đô la Mỹ. Chùa Thái Lan với những mái cong vút, nhọn hoắt. Các chùa khác, mỗi chùa là một kiểu kiến trúc riêng biệt, mà bước vào cổng đã có thể nhận ra là của nước nào.
Trở lại Việt Nam Phật Quốc Tự, thầy đưa tôi vào phòng khách xem sơ đồ kiến trúc. Thầy chỉ ra ngoài sân, nơi đã xây móng và cho biết sẽ xây một ngôi chùa Một Cột giống như nguyên bản ở Hà Nội. Sẽ có cổng tam quan, có những tảng đá lớn đưa về làm non bộ, sẽ thuê thợ đục trên những tảng đá đó một số bài thơ cổ thời Lý, Trần (Mới đây, tôi nhận được thư thầy báo tin đã mua và chở được đá về. Thầy hẹn tôi có dịp nào sang, giúp thầy viết những bài thơ đó lên đá để thuê thợ Ấn Độ đục vào đá).
Buổi tối ngày thứ ba, thầy mời tôi lên dự một buổi cầu kinh. Chao ôi, giữa cái không gian vắng lặng của một miền quê Ấn Độ, được nghe tiếng chuông chùa Việt Nam, sao nó gợi nhớ gợi thương đến nao lòng. Tôi quỳ phía sau thầy, nghe tiếng đọc kinh trầm bổng mà lòng thì da diết hướng về một miền quê ở trong nước, để biết rằng mình chưa rũ sạch được bụi trần, tuy bước đầu cảm nhận được những chữ “từ, bi, hỉ, xả” của đạo Phật.
Thầy Huyền Diệu tặng tôi một chiếc lá bồ đề ép khô, chiếc lá rụng xuống từ chính cây bồ đề thiêng liêng mà hoàng tử Tất Đạt Đa đã ngồi suy ngẫm, giác ngộ. Thầy ân cần dặn tôi :”Anh nói lại với đồng bào trong nước, Việt Nam Phật Quốc Tự xây lên trước hết là dành cho người Việt Nam mình, không nhất thiết cứ phải là Phật tử. Ai có dịp du lịch sang đây xin cứ đến chùa, chùa còn nghèo nhưng luôn mở rộng cửa, sẵn sàng mời 3 ngày cơm chay để có thời gian đi chiêm bái những di tích của đất Phật.”
Với tấm lòng luôn nghĩ về những người nghèo, và với trình độ uyên thâm, thầy Huyền Diệu hiện còn giữ một trọng trách là Phó Chủ tịch Hội Phật giáo Quốc tế, và mới đây thầy còn gọi điện thoại từ Nepal cho tôi, báo tin đã hoàn thành ngôi chùa thứ 2 –đặt tên là “Việt Nam Phật Quốc Tự Lumbini”-, chính là nơi mà hoàng tử Tất Đạt Đa ra đời.
Về lại Việt Nam, tôi trang trọng đặt chiếc lá bồ đề lên bàn thờ, bồi hồi nhớ lại một chuyến du lịch đầy ắp những ấn tượng sâu đậm, nhớ lại thầy Huyền Diệu –nhà sư Việt Nam đang cần mẫn xây đắp cho hình ảnh Việt Nam trên đất Ấn Độ và Nepal xa xăm.

Diệu Nhật
05-04-2009, 22:34
Người Việt khôi phục thánh địa Phật giáo ở Nepal
TP- Ngày 17/12/2005, tại Nepal, một ngôi chùa Việt Nam đã được long trọng khánh thành nhờ tâm sức 12 năm trời của thầy Huyền Diệu, người nổi tiếng với việc xây chùa Việt Nam ở Án Độ.
http://www.tienphong.vn/tianyon/ImageView.aspx?ThumbnailID=43960 Thầy Huyền Diệu trong một lần về thăm Tổ quốc, ông Vũ Kỳ (nguyên thư ký của Bác Hồ) và tác giảVăn hóa chùa Việt Nam như một điểm sáng khai hóa cả một vùng được dân sở tại ca ngợi, tri ân.
…Thầy quê Bến Tre. Sinh năm 1948. Cha nhà Nho, mất sớm. Đặt tên con là Lâm Trung Quốc, dặn lại vợ: Gửi gắm hy vọng nơi con – “Trung với Nước”. Quốc ốm quặt quẹo.
Năm lên sáu theo mẹ xuất gia, theo quẻ tử vi, nương nhờ nơi cửa Phật may ra khỏi chết yểu. Thầy Hoàng Nhơn trên chùa Thất Sơn còn đặt phật danh Thích Huyền Diệu mong ở tương lai làm nên nhiều điều tốt đẹp.
Quê hương “đồng khởi” – chùa chiền bị đốt phá, sư sãi bị bắn giết. Bà Nguyễn Thị Ngưu cùng con ra Đồng Nai tránh nạn.
Ngày 6/11/1963, chú tiểu Huyền Diệu tham gia bảo vệ Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu tại ngã tư đường Phan Đình Phùng – Lê Văn Duyệt Sài Gòn, bị chính quyền Diệm - Nhu kết án trục xuất biệt xứ.
Anh sang Pháp kiếm sống, vào học đại học Sorbonne, đậu hai bằng Tiến sĩ, thành giáo sư thỉnh giảng của nhiều trường đại học. Và vẫn tiếp tục tu hành, giảng đạo.
Xây chùa ở Ấn Độ
http://www.tienphong.vn/tianyon/ImageView.aspx?ThumbnailID=43961 Thầy cả U.Nyaneinda mặc áo đỏ ngồi sau trên lưng voi
Năm 1969, được một giáo sư Pháp giúp đỡ, anh sinh viên phật tử Huyền Diệu thực hiện được mơ ước cháy bỏng từ lâu – hành hương về đất Phật, tới chiêm bái tại tất cả các thánh tích của Đức Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni. Như Na Lan Đa (Sarnath) nơi Phật giảng bài kinh đầu tiên.
Câu Thi Gia (Kushinagar) nơi Phật lui về nghỉ và nhập Niết Bàn ở tuổi 80 v.v… Nhưng không đâu anh trăn trở, nhiều như ở Bồ Đề Đạo tràng, nơi Đức Phật tọa thiền 49 ngày suy ngẫm mà giác ngộ con đường cứu nhân độ thế.
Nơi góp mặt đủ chùa các nước sùng đạo Phật thì Việt Nam mình cũng phải có, dù chỉ bằng tranh tre để giới thiệu văn hóa chùa dân tộc đã vài ngàn năm “Phật tại tâm”, để người mình từ bốn phương hành hương về đây làm nơi nghỉ chân…
Vậy là anh thành tâm ngồi cầu nguyện dưới gốc cây bồ đề để Trời Phật và Hồn thiêng Tổ quốc độ trì giúp anh một ngày đạt được ước nguyện.
Ngày ấy 18 năm sau mới thành sự thật: Anh đủ tiền tậu được đám đất và làm lễ động thổ – 24/5/1987. Tiền đi dạy thuê, hảo tâm của mọi người được đến đâu xây tiếp đến đó theo một thiết kế “độc đáo chùa Việt Nam”.
Vườn chùa nằm giữa cánh đồng. Mái chùa cong vắt ẩn giữa cây lá xanh tươi. Bước qua cổng tam quan là đầy ắp quang cảnh, không khí chùa chỉ có ở quê ta, từ kiến trúc tổng thể vườn chùa đến lối đi, luống rau, ruộng lúa…
Chùa các nước xây bên mặt phố, kiến trúc đồ sộ, thâm nghiêm, u tịch. Chùa ta ngược lại – nhỏ thôi nhưng vươn cao trên ngàn cây những mái cong bất khuất.
Bản đồ hình chữ S đắp nổi từ xa vài cây số đã nhìn rõ trên biển dẫn đường vào chùa. Sau chính điện trên tầng hai thờ Phật, còn có bàn thờ Tổ quốc, thờ anh linh người có công với dân, với đạo.
Thầy tâm sự: Từng có mấy phật tử nước ngoài giàu có điện hỏi: “Nghe nói xây chùa xong thầy sẽ treo cờ đỏ sao vàng và ảnh ông Hồ Chí Minh khắp nơi phải không?”. Thầy vặn lại: “Ai nói vậy?”. “Có người nói thế?”. “Thế thì họ nói đúng”.
Thế là điện thoại cúp và rồi khoản hỗ trợ đã hứa cũng cúp luôn, cả vài triệu USD.Lại có những vị “vặn vẹo”, thiếu gì cách đặt tên chùa mà cứ phải đặt Việt Nam Phật Quốc tự, mà lại cả hai chùa đều cùng một tên gọi?
Thầy giảng giải đại để: Đất nước có trước, đạo Phật có sau, mà đạo ấy – đạo của nước mình, mang bản sắc văn hóa dân tộc mình, có trách nhiệm bồi bổ tinh hoa quốc hồn quốc túy trong đạo pháp mang bản sắc dân tộc – cũng giống như bổn phận con cháu phải kế nghiệp làm rạng rỡ tiếng thơm của cha ông, phải uống nước nhớ nguồn.
Tâm nguyện ấy của thầy càng được dịp thể hiện rõ khi xây Việt Nam Phật Quốc tự thứ hai tại Lâm Tì Ni (Lumbini) nơi Phật sinh.
Khôi phục thánh địa ở Nepal
http://www.tienphong.vn/tianyon/ImageView.aspx?ThumbnailID=43964 Thầy Huyền Diệu, chim Hồng Hạc, chiếc xe đạp... trong gian nhà lá ỏ góc vườn chùa Việt Nam ở Lâm Tì Ni
Lâm Tì Ni được xem là thánh tích của Phật giáo, nhưng đền chùa hầu như đã bị hủy hoại hết.Vua Nepal và nhiều nhân vật nổi tiếng thế giới như ông Uthan – Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc (LHQ) đều lên tiếng kêu gọi góp sức khôi phục Lâm Tì Ni đáng tầm như Mecca của Hồi giáo, Vatican – Thiên chúa giáo, Jerusalem – Do Thái giáo… Song, mọi lời kêu gọi chỉ rơi vào im lặng.
Cũng dịp đầu xuân 1969 trong chuyến hành hương về ấn Độ, thầy Huyền Diệu sang đây thành kính cầu nguyện xin đi trước khôi phục Thánh địa Phật sinh…24 năm sau, năm 1993, sự mầu nhiệm đã linh nghiệm: Quốc vương Birendra và Chính phủ Nepal đưa máy bay riêng sang ấn Độ đón thầy tới Lâm Tì Ni chọn đất xây chùa.
Lòng thành con người đứng trước thử thách ghê gớm: Thầy đang “sa lầy” vì hết tiền xây tiếp chùa ở ấn Độ. Anh em đạo hữu kịch liệt phản đối cho là thầy “hiếu danh” và mạo hiểm, không tưởng vì một mình cắm lều ở giữa rừng hoang đầy thú dữ, rắn độc mà trong túi chỉ vẻn vẹn … 60 đô la.
Nhưng trước hết, tính mạng thầy khó vẹn toàn giữa một vùng đạo Phật đã bị xóa sạch (và, sự thật, sống trong gian nhà dựng tạm, thầy 7 lần bị mưu sát. Lần cuối, hai kẻ ngoại đạo đã nhận tiền thuê, không giết được thầy, chúng lẻn sang chùa Nhật Bản đâm chết nhà sư trụ trì Yutaka Nabatame)…
Sau 12 năm xây dựng với vô vàn khó khăn trở ngại, Việt Nam Phật Quốc tự Lâm Tì Ni đã tổ chức đại lễ khánh thành vào giờ Tỵ ngày Vía Đức Phật A Di Đà 17/11 ất Dậu (10h sáng 17/12/2005).
Tại lễ động thổ xây Việt Nam Phật Quốc tự ngày 23/9/1993, giáo sư Asha Ram Sakya đại diện Chính phủ và Phật giáo Nepal đã bày tỏ: Ngày khởi sự xây cất ngôi chùa quốc tế đầu tiên này sẽ mãi mãi đi vào lịch sử vàng son Phật giáo thế giới vì Việt Nam đã đi tiên phong trong công cuộc khôi phục thánh địa đầy khó khăn này. Hy vọng và khẩn thiết kêu gọi các nước nên lần lượt theo gương sáng của Việt Nam Phật Quốc tự hôm nay…
Tới nay đã có 19 nước xây chùa cùng đặt cơ quan văn hóa tại Lâm Tì Ni được hưởng quy chế miễn trừ ngoại giao khá đặc biệt. Mới vừa đây, Tổng thống Mông Cổ, Hoàng hậu Bhutan đã thân hành sang đây tỏ ý mong được xây ngôi chùa gần Việt Nam Phật Quốc tự; cả Mỹ, Nga cũng dự định góp mặt chùa nước mình.
Tỏa sáng tình thương Việt Nam
Mới hơn chục năm mà cả vùng phía Đông vùng Terai dưới chân dãy Hy Mã Lạp Sơn đã thay đổi hẳn bộ mặt, trở thành khu kinh tế văn hóa mở đầy tiềm năng du lịch và thương mại.
Sự thay đổi lớn lao và quá nhanh về mọi mặt tại đây gắn liền với hai chữ VIETNAM mà người tiêu biểu là thầy Huyền Diệu - được Nhà vua, Chính phủ, chính quyền địa phương và nhân dân (hầu hết theo đạo Hồi, đạo Hin đu, sự kỳ thị đẳng cấp trong xã hội còn rất nặng nề) biết đến và kính nể.
Lũ sông thất thường, luôn cướp đi sinh mệnh của bao người già, trẻ nhỏ, phụ nữ… ngày ngày phải lội qua. Thầy đứng ra lo liệu, cùng địa phương, nhân dân góp công, kêu gọi hảo tâm bắc chiếc cầu, chính quyền sở tại đặt tên Cầu tình thương Việt Nam.
Bộ trưởng Y tế thay mặt Chính phủ Nepal tặng thầy quà và tiền thưởng về xây cầu… Thầy không nhận mà đề nghị xây một “nhà thương người nghèo” ở gần cầu và đồng thời “tác động” lên Bộ Tài chính và Chính phủ.
Thật mừng, bệnh viện người nghèo đã đi vào hoạt động từ cuối năm 2003. Lại có người gọi Bệnh viện tình thương Việt Nam.