PDA

Xem bản đầy đủ : Ý Nghĩa Niệm Phật


gioidinhhue
20-04-2009, 17:57
Ý NGHĨA NIỆM PHẬT DI ĐÀ

HT. Thích Trí Quảng


Đức Phật đưa ra nhiều pháp môn tu khác nhau để thích ứng với nhiều nghiệp chướng trần lao của chúng sinh ở Ta bà. Tuy nhiên, các pháp môn tu không ngoài mục tiêu ngăn chận phiền não, trần lao cho chúng sinh và giúp mọi người được giải thoát.


Đức Phật giới thiệu trong mười phương có nhiều Đức Phật và nhiều thế giới Phật là những Tịnh độ khác nhau. Chúng ta xem nhân duyên và hoàn cảnh mình thích hợp với Tịnh độ nào, với vị Phật nào, thì nương theo thần lực của vị Phật đó mà tu hành để được giải thoát.


Trong tất cả các Đức Phật mười phương, Phật Thích Ca cho biết chúng sinh ở Ta bà có duyên lớn đối với Phật Di Đà. Vì thế, ngài khuyên chúng ta nên niệm hồng danh Phật Di Đà và vãng sinh về thế giới Cực Lạc của Phật Di Đà. Đó chính là con đường tu của pháp môn Tịnh độ được truyền bá rộng rãi; nhưng nhiều người tu theo pháp môn này, mà ít người đạt được kết quả tốt. Vì đa số người không hiểu lời Phật dạy ẩn chứa ý sâu xa bên trong để ứng dụng vào cuộc sống tu hành. Họ tu theo cách bắt chước, nghe nói chỉ niệm hồng danh Phật mười tiếng cũng vãng sinh; trong khi thực tế niệm Phật cả vạn tiếng, nhưng nghiệp vẫn trần đầy trong cuộc sống là đã hiểu sai lời Phật dạy, tu sai pháp.


Một trong những cách tu Tịnh độ là pháp niệm hồng danh Phật Di Đà. Nhiều người không hiểu, tưởng niệm Phật là miệng kêu tên Phật và tay lần chuỗi. Niệm là nhớ nghĩ; niệm Phật là nhớ nghĩ đến Phật, lấy tâm chúng ta gắn liền với Phật. Vì thế, không cần niệm ra tiếng, nhưng niệm Phật trong lòng, lúc nào cũng nghĩ đến Phật thì 84.000 phiền não trần lao sẽ bị diệt trừ.


Trần lao là tất cả những việc phức tạp, gây trở ngại khó khăn cho chúng ta trong cuộc sống. Chúng ta niệm Phật thì phiền não trần lao bị tiêu diệt, nghĩa là hoàn cảnh xấu ác không tác hại, làm tâm ta khổ. Tu trên căn bản này là tu tâm. Hoàn cảnh khổ, nhưng tâm không khổ, vì ta đang nhiếp tâm nghĩ tưởng đến Phật và thế giới Phật, làm sao khổ được.


Loại bỏ khỏi tâm mình tất cả hình ảnh xấu, người xấu, những việc hơn thua phải trái trên cuộc đời; vì nhớ nghĩ đến những thứ đó làm tâm chúng ta bất an. Người niệm Phật chủ yếu đem hình ảnh cao quý của Phật, Bồ tát, Thánh chúng vào tâm, sẽ được an lạc liền.


Dù hoàn cảnh có khó khổ đến đâu, nhưng tâm không khổ; vì tâm đang hướng về Phật, và đang làm việc của Phật, tu hạnh Bồ tát. Tu như vậy, được Phật lực gia bị, cuộc sống chúng ta sẽ thay đổi tốt đẹp. Thay đổi trước tiên là người niệm Phật phải được tâm an vui. Thật vậy, thế giới của Phật Di Đà có tên là Cực Lạc tiêu biểu cho cái vui cùng cực. Niệm Phật Di Đà, nghĩ đến ngài là nghĩ đến cái vui cao tột ấy, đương nhiên chúng ta được an vui.


Và tâm được an lạc, luôn hướng về Phật, về đức tánh trọn lành và việc làm cao quý của Ngài, chắc chắn Phật cũng nghĩ đến ta. Trên bước đường tu, hay trong thực tế cuộc sống, chúng ta có thể nghiệm thấy rõ điều này. Người nghĩ đến ta, thương ta, ta nhận được tín hiệu an lành. Người nghĩ ghét ta, ta nhận được tín hiệu bất an. Theo kinh nghiệm của riêng tôi, nếu cảm thấy bất an là biết đang nhận tín hiệu xấu đưa tới, đó là oan gia nghiệp chướng tội lỗi đã tạo đời trước sẽ đến đòi. Biết rõ phút giây đó, nghiệp ác mình sinh ra thì phải nhiếp tâm niệm Phật.


Nếu không ngồi yên, nhiếp tâm niệm Phật được, nên lạy sám hối. Cả ba nghiệp thân khẩu ý đều tập trung về Phật, miệng niệm Phật ra tiếng, thân lạy Phật, tâm nghĩ đến Phật, tự động trần lao nghiệp chướng, tức ám ảnh tâm lý biến mất. Nhưng khi tu hành tốt rồi, nghiệp chúng ta đã thanh tịnh, hễ nghĩ đến Phật hay Tịnh độ, thì Phật và Tịnh độ liền hiện ra, tín hiệu xấu tự mất.


Để hình ảnh Phật in vào tâm, quý thầy thường để tượng Phật Di Đà hay tam Thánh, hoặc hình ảnh thế giới Cực Lạc ở trước mặt để hằng ngày chiêm ngưỡng. Và nhìn tôn tượng Ngài đến độ nhập tâm thì các thầy nhìn đâu cũng thấy Phật, thấy thế giới Cực Lạc, là thấy bằng tâm. Không nhiếp tâm niệm Phật, không tạo thành thói quen, trần lao nghiệp chướng dễ sinh khởi. Người niệm Phật phải có độ cảm sâu sắc về Phật, về thế giới Phật và niệm Phật thuần thục, dù đang sống ở Ta bà, vẫn an vui, tự tại, vì trấn áp được phiền não, trần lao nghiệp chướng.


Niệm Phật, sống với thế giới Phật, tâm chúng ta an lành, thì hiện tướng giải thoát, dễ thương; chắc chắn không ai gây khó khăn cho ta. Vì vậy, khi đến nơi nào không vui là biết tâm mình chưa tốt, chưa an, nên không được người thương mến, quý trọng. Gặp tình huống như vậy, tôi thường ngưng ngay công việc, để tâm tiếp cận với thế giới Phật. Vì tiếp cận chúng sinh, tâm chúng ta chưa thanh tịnh, gặp việc không vừa ý, phiền não phải phát sinh.


Thí dụ tu hành phát tâm thương người, muốn giúp đỡ, bố thí, cúng dường là tâm tốt sinh ra. Tâm muốn cúng dường, sẽ có nhiều thầy đến quyên góp; tâm muốn bố thí, có vô số chúng sinh đến xin. Khi khởi tâm thì tốt, nhưng khi ứng dụng thì tâm xấu sẽ sinh ra. Thật vậy, có ý cúng dường, hay giúp đỡ, mà nhiều người đến xin, đến quyên góp vượt quá sức, khiến chúng ta bực tức, khó chịu; nghĩa là nghiệp và phiền não đã phát sinh trong khi làm việc tốt.


Để tâm xấu không sinh ra, tôi theo lời Phật dạy : “Làm việc tốt, đừng cho người biết và đừng nói chúng ta tốt”. Chúng sinh sai lầm vì làm không bao nhiêu, sức có giới hạn, lại muốn khoe cho mọi người biết mình là người số một, nên phần nhiều bị thất bại. Tu Tịnh độ, khởi tâm bố thí, cúng dường, không cho người khác biết; âm thầm đi khắp nơi, thấy nơi nào muốn cúng, người nào muốn giúp, chúng ta làm. Nếu khoe rằng đã cho chỗ này một số tiền lớn, chỗ khác biết đến xin, không cho cũng phiền. Tỏ ra ta đây có nhiều phước, tự chuốc họa vào thân. Sống bình thường, nhưng tu hành làm được việc phi thường và từ giã cõi đời, ra đi nhẹ nhàng, là biết người này đã được vãng sinh Tịnh độ. Phật dạy Bồ tát tu hành nên dấu kín hạnh Bồ tát, bên ngoài hiện tướng phàm phu; nghĩa là Bồ tát cũng sống bình thường như mọi người, nhưng thành tựu những việc khó làm.


Niệm Phật Di Đà, tất yếu phải nghĩ đến công hạnh của Ngài. Một trong những công hạnh cao quý trên bước đường khởi tu của Phật Di Đà là không màng phú quý lợi danh. Niệm hồng danh Ngài, chúng ta cũng tập từ bỏ quyền lợi vật chất thế gian. Trong Kinh Bảo Tích có nói về tiền thân của Phật Di Đà là vua Vô Tránh Niệm đã bỏ ngai vàng đi tu và được đổi danh hiệu là Pháp Tạng Tỳ kheo; nghĩa là Ngài tiêu biểu cho kho pháp của Phật. Niệm Phật Di Đà, liên tưởng đến hạnh của Ngài như vậy, tôi đọc kinh không biết mệt mỏi, mong thu nhiếp được tạng pháp vào trong tâm trí, mong có được trí tuệ bao la như Ngài. Chúng ta niệm Phật Di Đà, từ bỏ vật chất để phát huy sự nghiệp tinh thần như Đức Di Đà xưa kia bỏ vương vị được Vô thượng Bồ đề; không phải bỏ vật chất để rồi trắng tay.

Phật Di Đà có vô lượng công đức, chúng ta niệm Ngài thì được vô lượng công đức của Ngài gia bị. Chúng ta không lo lắng, tính toan, cuộc sống vẫn tốt. Tôi chứng nghiệm điều này rất rõ. Dù hoàn cảnh khó mấy, dù Giáo hội giao nhiều việc, tôi cũng không lo; vì lo cũng không tới đâu. Niệm Phật có Phật lo, mọi việc tự tốt. Thật vậy, tôi thấy rõ tất cả Phật sự mà được Phật lo, Phật sẽ khiến người tốt tự động tìm đến hỗ trợ. Từng bước niệm Phật, quán tưởng tu hành, được Phật lực gia bị, thường có quyết định đúng hơn người khác. Hòa thượng Trí Tịnh cho biết ngài chuyên tâm niệm Phật, không suy nghĩ, tính toán thì thấy việc trần gian chính xác hơn; còn để tâm theo dõi lại không thấy đúng. Vì thế, việc càng khó, càng phải nhiếp tâm niệm Phật, sẽ vượt qua được mọi chướng ngại và cuối cùng, bỏ xác thân này, cần nhiếp tâm niệm Phật hơn nữa để được vãng sinh về thế giới Phật.

Điều thứ ba là niệm hồng danh Phật Di Đà, nghĩa là niệm trí tuệ của Ngài, vì Di Đà còn có nghĩa là Vô lượng quang. Nhờ ánh quang hay trí tuệ của Phật Di Đà rọi vào tâm, làm tâm ta sáng tỏ; từ đó, ta nhìn việc, nhìn người chính xác. Người tu Tịnh độ đúng, mỗi ngày tâm sáng suốt thêm, biết việc chưa từng biết; nhưng biết theo Phật, khác với cái biết theo chúng sinh. Biết theo chúng sinh thì phiền não. Biết theo Phật, hông cần suy nghĩ, nhưng có ánh quang Phật soi sáng tâm, biết mọi việc từ nguyên nhân đến kết quả. Biết người đến với ta là người xấu, hay người oan gia nghiệp chướng đến đòi nợ, hoặc là người tốt đến giúp đỡ, thì tùy theo đó mà giải quyết một cách đúng đắn nhất; không bị họ lừa dối, không bị họ ám hại, hoặc không bỏ lỡ cơ hội gieo trồng căn lành cho người tốt cũng như người xấu, v.v… Không được Phật lực gia bị, không nhận ra người tốt, kẻ xấu, chắc chắn bị thất bại.


Điều thứ tư là niệm Phật đến nhất tâm, được Phật lực gia bị, không còn sợ hãi, lo lắng, buồn phiền, tâm chúng ta được bình ổn, thân mới khỏe mạnh. Niệm Phật, có sức khỏe tốt, làm việc nhiều, nhưng không bệnh đau là biết đã tiếp nhận được công đức lực của Phật Di Đà. Vì niệm Phật đúng pháp, sẽ nương được lực của Phật ở Cực Lạc mà làm việc ở Ta bà thì người thường sao có thể sánh kịp.

Tóm lại, niệm Phật Di Đà, tu Tịnh độ đúng pháp, tâm an vui, thân khỏe mạnh, trí sáng suốt, tạo được nhiều công đức, người nhìn thấy phải phát tâm. Người niệm Phật như vậy, ở cuộc đời đã làm được nhiều việc lợi ích cho người, Tịnh độ đã hiện hữu với họ ngay trong cuộc sống hằng ngày và khi từ bỏ thế giới mộng huyễn này, chắc chắn họ sẽ trở về thế giới vĩnh hằng bất tử là Tịnh độ của Phật Di Đà.

gioidinhhue
21-04-2009, 17:42
27. Thật thà (Buổi sáng 08-05-95)


Ý nghĩa quan trọng nhất trong kinh Kim Cang là: tu học Ðại Thừa Phật pháp phải tu học trong đời sống hằng ngày. Nói một cách khác tức là dạy cho chúng ta làm thế nào để sống cuộc đời của chư Phật, Bồ Tát. Phật, Bồ Tát sống cuộc đời đại trí huệ, đại giác ngộ, đời sống như vậy mới là chân thực hạnh phúc mỹ mãn.
Niệm Phật chẳng thể thành tựu là vì chẳng thật thà (chẳng chắc thật). Chẳng thật thà là chẳng biết sống cách nào, khi sanh ra đời hồ đồ lộn xộn, chết đi cũng hồ đồ lộn xộn. Như vậy đúng là rất đáng thương, cũng như trong kinh thường nói: ‘những người đáng thương xót’.
Sau khi có trí huệ Bát Nhã, hiểu rõ chân tướng của nhân sanh mới biết thật thà, một lòng một dạ niệm Phật cầu sanh Tịnh Ðộ. Ai có thể tiếp nhận thì người đó sẽ được lợi ích. Nếu chẳng chấp nhận, chẳng thể chắc thật niệm Phật cầu sanh Tịnh Ðộ, chính là như kinh Ðịa Tạng có nói: ‘Chúng sanh trong Diêm Phù Ðề khởi tâm động niệm chẳng có gì là chẳng tạo tội’. Ðã tạo tội nghiệp thì đời sau nhất định sẽ còn luân hồi trong lục đạo, bất luận là tu hành tốt đến đâu, nếu chẳng thể thoát ra khỏi tam giới thì đều là chẳng thành tựu.
Mục đích chúng tôi giảng kinh Kim Cang là vì muốn khuyên mọi người, dạy cho mọi người hiểu rõ chân tướng sự thật, phải chết lòng trọn ý thật thà niệm Phật cầu sanh Tịnh Ðộ. Những gì nói trong kinh Kim Cang cho đến những gì đức Phật nói trong hai mươi hai năm giảng kinh Bát Nhã đều cũng là vì dạy chúng ta phải nhìn thấu, buông xuống. Tại sao bốn chữ ‘nhìn thấu, buông xuống’ này đã giảng trong suốt hai mươi hai năm? Hãy nghĩ xem ai nghe xong liền nhìn thấu, liền buông xuống được? Nghe thì cũng nghe rồi, nói thì cũng nói xong nhưng vẫn chẳng nhìn thấu, chẳng buông xuống như cũ. Trong tâm từ sáng đến tối vẫn suy nghĩ lung tung, lời nói hành động vẫn phê bình kẻ khác, chẳng biết kiểm điểm bản thân mình, đây đúng là nhìn chẳng thấu, buông xuống chẳng nổi.


28. Thừa nguyện tái lai (Buổi sáng10-05-95)


Tự mình chẳng chịu hết lòng tu hành, nghiệp báo thân thể của bạn là được định sẵn trong số mạng. Nếu tự mình chịu hiến thân vì Phật pháp, hiến thân vì hết thảy chúng sanh thì thân thể này chẳng phải là của bạn nữa mà là thừa nguyện tái lai (nương vào nguyện trở lại).
Vì vậy chẳng cần phải đợi đến lúc từ Tây phương Cực Lạc thế giới trở lại đây, chỉ cần bây giờ nguyện lực vừa chuyển thì có thể chuyển biến thân nghiệp báo của mình thành thân của nguyện lực, đây chính là thừa nguyện tái lai. Thừa nguyện tái lai là ngay trong một niệm có thể làm được, trong đây một chút xíu giả dối chẳng thể xen vào, phải là thuần chánh chẳng vọng, xen vào một tí giả dối thì vẫn phải thọ nghiệp báo.


29. Sửa lỗi (Buổi sáng12-05-95)


Bất luận là xuất gia hay tại gia, hễ là đệ tử Phật tiếp nhận sự cúng dường tài vật nhất định phải đáp trả lại bằng pháp cúng dường. Lúc Phật còn tại thế dùng chế độ trì bát, lúc tiếp nhận cúng dường nhất định phải thuyết pháp cho người ta nghe, đây tức là báo đáp ân của thí chủ. Trong bất cứ trường hợp nào chúng ta tiếp nhận sự cúng dường đều phải biết quy củ, phải biết vì người thuyết pháp. Nếu chẳng có người khải thỉnh thì có thể không thuyết. Có người mời thì nhất định phải thuyết pháp. Nguyên tắc quan trọng nhất của sự thuyết pháp là chỉ rõ những lỗi lầm thông thường của đại chúng, giúp họ sửa sai, như vậy mới có ích lợi. Thế nên chẳng cần phải nói huyền thuyết diệu, chẳng cần phải nói những lời nói dư thừa chẳng có ích lợi.
Nhà Phật thường nói đến ‘khai ngộ’ và ‘tu hành’, mọi người đều biết danh từ thuật ngữ này, nhưng người hiểu được hàm nghĩa bên trong thì chẳng nhiều. Trong khi đọc kinh sẽ có chỗ ngộ, niệm Phật cũng sẽ có chỗ ngộ, thực ra trong đời sống, lúc đãi người tiếp vật cũng sẽ có lúc ngộ được. Chỗ ngộ được này nghĩa là gì? Nghĩa là phát hiện lỗi lầm. Phát hiện được lỗi lầm tức là khai ngộ, sửa đổi sai lầm trở lại tức là tu hành. Tu hành chẳng phải nói mỗi ngày niệm bao nhiêu cuốn kinh, niệm bao nhiêu Phật hiệu, lạy bao nhiêu lạy. Thật sự mà nói đó đều là hình thức, hình dáng mà thôi. Công phu chân thật là ‘biết lỗi’, ‘sửa lỗi’, có thể làm được bốn chữ này, ngày hôm nay bạn sẽ cảm thấy rất sung mãn, chẳng luống uổng.
Chẳng những người tu hành phải tuân thủ chặt chẽ, chúng ta xem trong Liễu Phàm Tứ Huấn người thế gian có ông Triệu Duyệt Ðạo mỗi ngày đều phản tỉnh, đều kiểm điểm, tìm lỗi lầm của mình để sửa đổi, chẳng để tái phạm. Nhưng người học Phật ngày nay trong miệng thì nói huyền thuyết diệu, thực tế công phu thì hoàn toàn chẳng có, cho nên chúng ta thấy người xuất gia thành tựu chẳng bằng người tại gia. Người tại gia học Phật đích thật có một số có thể buông xuống hết thảy; trái lại người xuất gia học Phật, trong miệng nói toàn là Phật pháp, đều là nói huyền thuyết diệu, nhưng những gì trong tâm suy nghĩ và hành động đều là nghiệp nhân luân hồi. Nói thì là phá mê khai ngộ, nhưng trên thực tế những gì tự mình làm đều là mê hoặc điên đảo.
Công phu chân thật phải bắt đầu từ việc kiểm điểm lỗi lầm, tiêu chuẩn này là những lời dạy của đức Phật trong kinh điển. Thế nên tại sao chúng ta phải học thuộc lòng kinh điển? Chính là để nhớ rõ tiêu chuẩn này, nếu nhớ chẳng rõ tiêu chuẩn ấy thì chẳng thể phân biệt thị phi, thiện ác, cứ thường xem sai cho là đúng, đúng cho là sai, đây tức là: ‘điên đảo, sai loạn’. Thế nên nhất định phải nhớ thuộc lòng kinh điển, phải hết lòng tự cứu mình. Nếu có thể siêu việt luân hồi ngay trong đời này, vãng sanh Tịnh Ðộ thì tự mình thực sự đã được cứu. Nếu chẳng thể vãng sanh Tịnh Ðộ, đời này đã luống uổng, những gì tu được trong đời này cũng chẳng có ích gì, tại vì chẳng bù nổi những ác nghiệp đã tạo -- khởi tâm động niệm, ngôn ngữ tạo tác đều là tham, sân, si, mạn, đố kỵ, chướng ngại. Chư vị nghĩ coi nếu sức lực này mạnh thì sẽ đi vào tam đồ, muốn giữ được hai đường nhân, thiên chẳng phải dễ dàng đâu.


30. Tâm thanh tịnh (Buổi sáng 13-05-95)


Những thức ăn chúng ta thường dùng phải nên cẩn thận để ngừa trúng độc. Nên biết phương pháp giải độc có hiệu quả nhất là tâm thanh tịnh, tâm đại từ đại bi. Ðem bất cứ độc dược nào cho Phật, Bồ Tát cũng chẳng tạo nên tác dụng gì hết, nguyên nhân là ở chỗ nào? Vì tâm quý ngài thanh tịnh, từ bi. Thế nên tâm từ bi là thuốc giải độc công hiệu nhất. Còn chúng ta khi khởi tâm động niệm gì cũng tự tư tự lợi nên rất dễ bị những chất độc này cảm nhiễm.
Gần đây chúng tôi nhìn thấy một số người nhất tâm chuyên chú, bất kể là già hay trẻ (lão cư sĩ Lưu Thừa Phù chín mươi mấy tuổi là thí dụ rõ ràng nhất), bạn hãy xem sự biến hóa trên thân thể, trên tinh thần, tướng mạo của họ. Ðiểm này chứng minh những gì Phật nói đều chẳng giả, đó gọi là chứng chuyển, một trong tam chuyển pháp luân -- chứng chuyển là làm chứng minh. Thế nên chúng ta muốn thân thể khoẻ mạnh, muốn được ít bịnh, ít phiền não, nếu chẳng tu tâm thanh tịnh, chẳng tu tâm từ bi thì chẳng có cách gì làm được hết.


31. Chuyển biến phước đức thành công đức (Buổi sáng 14-05-95)


Khi gặp chuyện trong thế gian thì chúng ta làm, đó là tu phước. Lúc làm việc thì đừng sợ chịu thiệt thòi, làm nhiều là tu nhiều phước, như vậy thì có gì chẳng tốt? Lúc làm chẳng nên chấp trước, chẳng nên để trong tâm, trong tâm một dấu vết gì cũng chẳng lưu giữ lại, như trong kinh Kim Cang có nói: ‘Nên không trụ vào đâu để sanh cái tâm ấy’ (Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm). Ðó mới là phước báo chân chánh, phước đức biến thành công đức. Nếu trong tâm cứ thường nghĩ: ‘Tôi đã từng làm được bao nhiêu việc’, đó tức là pháp thế gian, là phước báo hữu lậu sẽ có quả báo rất nhỏ.
Lúc còn trẻ nên tu một chút phước, đến lúc tuổi già thì bạn sẽ hưởng phước, sẽ có rất nhiều người đến lo lắng cho bạn. Lúc trẻ chẳng chịu tu phước đến lúc già chẳng có ai lo lắng cho thì bạn vẫn phải lao nhọc, những nhân duyên quả báo này thiệt là tơ hào chẳng sai.


B. Luận sự sanh tử trọng đại


1. Liễu sanh tử (Buổi sáng 27-01-95)
Phổ Hiền Bồ Tát dạy:
‘Thị nhật dĩ quá, mạng diệc tùy giảm’
(Một ngày đã qua, mạng cũng giảm theo).
Người sáng mắt nhìn thấy quang âm mòn mỏi, thời gian mỗi ngày trôi qua, mỗi ngày giảm bớt. Nói một cách khác thì tức là ngày càng gần kề cái chết.
Ðạo nghiệp của chúng ta có tiến bộ theo thời gian hay không? Chỉ có chân thật tu trì mới có thể liễu sanh tử, xuất tam giới. Nếu chẳng thể liễu sanh tử, xuất tam giới thì đời này sẽ luống uổng. Cho dù niệm Phật tu phước thì là như Phật thường nói ‘tam thế oán’ (oán ba đời). Oán ba đời chẳng phải là chuyện tốt, đời này niệm Phật tu phước, đến đời sau hưởng phước thì sẽ trở nên hồ đồ; khi hồ đồ sẽ tạo tội nghiệp, sẽ chịu khổ báo. Những người quyền quý giàu to đều là do đời trước trong nhà Phật từng niệm Phật tu phước nhưng chẳng thể liễu sanh tử. Trong đời này có quyền thế, làm xằng làm bậy, khi tạo tội nghiệp so với những người thường đều nặng hơn rất nhiều. Thế nên chúng ta phải nhìn xa một chút, một người chân chánh giác ngộ phải lấy việc liễu sanh tử làm mục tiêu.
Muốn được liễu sanh tử pháp duy nhất trong các pháp Ðại thừa mà chúng ta dám chắc [mình có khả năng thành công] là pháp niệm Phật cầu sanh Tịnh Ðộ. Nếu muốn chân chánh làm được thì phải ghi nhớ lời của Phổ Hiền Bồ Tát -- học Bồ Tát đạo, tu Bồ Tát hạnh. Mỗi khi gặp một vị thiện tri thức trong năm mươi ba lần tham vấn Thiện Tài đồng tử đều hỏi về hai vấn đề này. Cái gọi là Bồ Tát đạo chính là cách giữ tâm, trong những bài giảng chúng ta thường nói: ‘Tâm, Nguyện, Giải, Hạnh phải giống Phật’. Tâm và Nguyện tức là Bồ Tát đạo, Giải và Hạnh tức là Bồ Tát hạnh.
Học Phật thì phải học giống Phật, cho dù chẳng thể làm giống y hệt thì cũng phải làm chẳng khác nhiều lắm, như vậy mới gọi là học Phật. Trong thế gian có một số người chuyên làm việc ‘Phật học’ chứ chẳng phải là học Phật. Phật học là gì? Tức là có Giải chẳng có Hạnh, chỉ nghiên cứu Phật pháp như một thứ học vấn nhưng chẳng thể làm theo, họ chẳng có tâm này, và cũng chẳng có cái nguyện này, đó là Phật học; người có Tâm, có Nguyện khi hiểu được bao nhiêu thì họ sẽ làm bấy nhiêu, như vậy mới là một người học Phật. Vì vậy ‘học Phật’ có thể liễu sanh tử, ‘Phật học’ chẳng thể liễu sanh tử, chúng ta phải hiểu rõ hai việc này.
Kinh giáo trong nhà Phật là dung thông – viên dung, thông đạt vô ngại, cho nên thông [đạt] một kinh thì hết thảy kinh đều thông. Không những kinh giáo là dung thông, pháp thế gian, xuất thế gian cũng thông, vì tất cả đều từ chân tâm bản tánh của mình biến hiện mà thành, nó đều có cùng một căn nguyên, không có đạo lý chẳng thông. Tại sao chẳng thông? Chẳng thông là vì có chướng ngại, chướng ngại chính là mê hoặc, điên đảo, phân biệt, chấp trước, chỉ cần phá trừ chướng ngại thì pháp thế gian và xuất thế gian đều viên dung và thông đạt vô ngại.
Quán Thế Âm Bồ Tát hiểu rõ đạo lý này nên được đại tự tại. Tại sao Ngài có thể biết được? Do quán chiếu mà hiểu được. Quán chiếu nghĩa là gì? Lúc sáu căn tiếp xúc với sáu trần bên ngoài chẳng có phân biệt, chẳng có chấp trước, chẳng có vọng tưởng, tất cả đều rõ ràng minh bạch, như vậy gọi là quán chiếu. Nếu có một chút ý tứ ở trong đó thì chẳng gọi là quán chiếu.
‘Quán chiếu’ thực ra là tự tánh tịnh, tức là ‘kiến văn giác tri’ (thấy - nghe - hay - biết) của tự tánh, cho nên có thể thấy được chân tánh. Phàm phu mê mất tự tánh, chỉ dùng tình thức – nghĩa là tám thức, năm mươi mốt tâm sở, đó là ‘tình kiến’ – tình kiến nghĩa là như người ta thường gọi: ‘có xen lẫn cảm tình’. Cảm tình là gì? Tức là phân biệt, chấp trước, vọng tưởng. Ðem theo ‘kiến văn giác tri’ của những thứ này là kiến giải của phàm phu. Do đó có thể biết khi lìa khỏi hết thảy phân biệt, chấp trước, vọng tưởng thì là kiến giải của Phật, Bồ Tát. Kiến giải của Phật, Bồ Tát gọi là quán chiếu, gọi là chiếu kiến. Vì vậy nếu dùng kiến giải của phàm phu để tu hành thì tuyệt đối chẳng thể siêu việt lục đạo.
Phàm phu rất khó lìa khỏi tình kiến, nếu dùng tình kiến để tu học thì hết thảy pháp môn chẳng có pháp nào được thành tựu hết, chỉ có tu học Tịnh Ðộ mới có thể. Nhưng chúng ta nên biết tu Tịnh Ðộ là phải dùng công phu niệm Phật đè nén tình kiến, được vậy thì mới có thể vãng sanh. Nếu đè nén chẳng nổi thì không thể vãng sanh. Cũng có nghĩa là phiền não chưa đoạn, chỉ là tạm thời đè nén mà thôi. Nếu trong sát na lâm chung mà phiền não chẳng hiện hành thì sẽ thành công. Nếu phiền não khởi lên ngay lúc đó thì chẳng thể vãng sanh. Thật ra niệm Phật cũng là ‘quán chiếu’, người biết dụng công so với người tham thiền chẳng có gì khác nhau. Trong ‘Ðại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông Chương’ có dạy: ‘nhiếp trọn sáu căn’, nếu làm được nhiếp trọn sáu căn thì giống hệt như tham thiền; thí dụ chúng ta chỉ làm được ‘tịnh niệm tiếp nối’ mà chẳng biết làm thế nào để ‘nhiếp trọn sáu căn’ thì chẳng giống với tham thiền.

gioidinhhue
21-04-2009, 18:00
C. Khuyến khích thành kính nhân sanh


1. Thành kính (Buổi sáng 04-02-95)


Cầu học, cầu đạo đều dùng một chữ ‘cầu’, tự mình phải cầu cho được, nếu tự mình chẳng chịu [tìm cầu] thì chẳng có ai nói cho bạn đâu. Vì chúng sanh chẳng biết và cũng chẳng biết cầu nên chư Phật, Bồ Tát đại từ đại bi hiện thân thuyết pháp, thay thế chúng sanh thỉnh cầu. Trong kinh điển chúng ta thấy những người ‘đương cơ’ là người thay thế chúng sanh [thỉnh] cầu pháp. Trong kinh Vô Lượng Thọ, A Nan đứng ra khải thỉnh tức là thỉnh pháp thay cho chúng sanh.
Ðạo và Học nhất định phải có cầu mới nói, dụng ý ở đây là ‘trọng đạo’ – tôn sư trọng đạo. Chỉ có ‘tôn’, có ‘trọng’ thì người học mới đạt được lợi ích. Cũng như Ấn Quang đại sư dạy: ‘Một phần thành kính được một phần lợi ích, hai phần thành kính thì được hai phần lợi ích’. Mười phần thành kính thì người ta sẽ khai ngộ, được lợi ích to lớn. Bởi vậy nên người xưa thường nói: ‘không thành thì không ngộ’. Chẳng có tâm thành kính thì lợi ích gì cũng chẳng đạt được, cho dù đến nghe thì chẳng qua chỉ là việc học thông thường mà thôi, chẳng thể nào đạt được lợi ích chân thật.
Lợi ích chân thật là điều mà nhà Nho gọi là ‘biến hóa thân thể’ (biến hóa khí chất) và nhà Phật gọi là chuyển thức thành trí. Nếu có thể biến hóa thân thể thì tức là chuyển phàm thành thánh. Nếu nghe không hiểu thì chỉ là nghe trên lời nói, văn tự, chẳng có liên quan gì đến tâm tánh của mình. Nếu chẳng có một chút xíu thành kính thì chỉ được một tí lợi ích bên ngoài mà thôi. Nếu mọi người lưu ý một chút thì sẽ thấy những hiện tượng này rất rõ ràng.
Có thể chúng ta tự mình sẽ nghĩ: ‘Tôi đích thật đối với lão sư rất cung kính, đối với Phật pháp cũng rất cung kính, bản thân cũng rất thâm nhập, vậy thì tại sao chẳng đạt được lợi ích?’. Hãy thử nghĩ: chúng ta đối với người ác thì sao? Ðối với người mình ghét thì sao? Có thể cung kính hay chăng? Trong chân tâm chẳng có phân biệt, có phân biệt thì chẳng là chân tâm. Tôi đối với người này cung kính, đối với người kia chẳng cung kính, cái tâm này là giả, là hai tâm. Thế nên vấn đề phát sanh ở chỗ chẳng có tâm thành kính, chẳng có tâm cung kính.
Tâm cung kính chân chánh tức là nhất tâm, tức là tâm bình đẳng, tâm thanh tịnh. Bất luận biểu hiện được kiền thành như thế nào, nếu trong tâm còn phân biệt, chấp trước, thì chẳng phải là nhất tâm. Có phân biệt tức là chẳng bình đẳng; chấp trước tức là nhiễm ô, chẳng thanh tịnh, đây là mấu chốt tại sao nghe pháp, đọc kinh chẳng được lợi ích chân thật.


D. Khuyên tin sâu nhân quả


1. Nhân quả (Buổi sáng 26-01-95)


Bát Nhã và Tịnh Ðộ đều đặc biệt nhấn mạnh nhân duyên quả báo – ‘nhân như vậy thì quả như vậy, duyên như vậy thì báo như vậy’ (như thị nhân, như thị quả, như thị duyên, như thị báo). Thế nên khi chúng ta khởi tâm động niệm nếu có thể nghĩ đến quả báo tương lai thì tự nhiên tâm sẽ thâu liễm, tự nhiên sẽ bình tĩnh lại. Nếu chúng ta tạo nhân gây chướng ngại cho người khác, tương lai nhất định sẽ nhận quả báo người khác chướng ngại mình, thiệt đúng là ‘một miếng ăn một miếng uống đều đã định sẵn’ (nhất ẩm nhất trác mạc phi tiền định). Là do ai định sẵn? Là do nhân mình đã tạo định sẵn. Thế nên Phổ Hiền Bồ Tát Thập nguyện vương dạy chúng ta phải tùy hỷ công đức. Tùy hỷ tức là tâm Bồ Tát, tùy hỷ tức là chẳng gây chướng ngại cho người khác.
Tâm đố kỵ, chướng ngại của phàm phu chúng ta rất nặng, vừa thấy người ta có một chút lợi lộc gì, chúng ta liền cảm thấy khó chịu. Có tâm niệm này thì đã là không đúng rồi, nếu còn tìm cách để phá rối họ, phá hoại họ, thì tội nghiệp sẽ rất nặng. Nếu thiện pháp này có thể đem lại lợi ích cho chúng sanh thì tội lỗi này còn nặng hơn nữa, vì đây chẳng phải chỉ gây chướng ngại cho một người mà là chướng ngại rất nhiều người, vì vậy nên chúng ta nhất định phải hiểu rõ những mối quan hệ nhân quả này.


2. Bố thí pháp (Buổi sáng 15-02-95)


Trong ‘Hoa Nghiêm Kinh Biệt Hành Sớ Sao’ có giảng về Quảng tu cúng dường – Cúng dường tài vật chẳng bằng cúng dường pháp. Trong kinh văn có một đoạn khai thị vô cùng hấp dẫn của cư sĩ Duy Ma, trong đó quan trọng nhất là chân chánh bố thí pháp không như chúng ta hiện nay tặng vài quyển kinh sách, tặng vài cuồn băng thâu âm [thuyết pháp] thì gọi là bố thí pháp, chuyện này quá nhỏ bé. Cư sĩ Duy Ma nói: ‘Pháp bố thí là dùng thân làm mẫu mực, như pháp tu hành, làm gương tốt cho tất cả chúng sanh, như vậy mới là pháp bố thí chân chánh’. Ðoạn khai thị này dạy cho chúng ta một điểm rất hay, như vậy chúng ta mới đạt được lợi ích chân thật của Phật pháp.
Thí dụ chúng ta thực sự bố thí tài vật, bố thí pháp, và bố thí vô úy, tu ba thứ nhân này thì sẽ được ba thứ quả báo -- được giàu sang, thông minh trí huệ, khoẻ mạnh sống lâu. Làm cho hết thảy chúng sanh nhìn thấy, để cho họ thấy những quả báo này và hỏi bạn: ‘Làm sao bạn được lợi ích thù thắng như vậy?’, bạn mới nói cho họ biết [muốn được quả báo như vậy thì] phải tu ba thứ nhân này. Cho nên nhất định phải làm cho người khác nhìn thấy. Khi trì giới thì tự mình hết lòng trì giới, đoạn hết thảy ác nghiệp, làm cho tận đáy lòng mình thực sự đạt được thanh tịnh, thiện lương. Cho đến nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, Bát Nhã đều phải thực sự làm cho được, như vậy chính là bố thí pháp.
Nếu bạn làm chẳng được mà nói cho người khác nghe, khuyên người thì chẳng có hiệu quả gì hết, người ta chưa chắc sẽ tin tưởng. Trong kinh đức Phật nói: ‘Chúng sanh sợ quả, Bồ Tát sợ nhân’. Chúng sanh nhìn thấy quả báo thì họ mới phản tỉnh. Nhìn thấy quả báo tốt thì họ sẽ ngưỡng mộ, nhìn thấy quả báo không tốt thì họ sợ hãi. Cho nên chúng ta phải làm hết lòng, đem quả báo bày trước mặt mọi người, để tự họ quan sát, phản tỉnh, sau đó sẽ phát tâm học tập, như vậy mới thực sự là pháp bố thí.


E. Hiểu rõ giáo dục Phật đà


1. Hiểu lý (Buổi sáng 29-01-95)
Việc quý báu nhất của đời người là có một phương hướng, mục tiêu chính xác trong đời sống của mình, tức là có sanh hoạt giáo dục tốt đẹp. Cổ thánh tiền hiền ở Trung Quốc dạy chúng ta làm người tốt, giữ tâm tốt, đây là giáo dục trong một đời. Tu được tốt thì đời sau có thể sanh lên trời, sáu tầng trời Dục giới đều là nơi những người tốt sanh đến.
Ðức Phật dạy cho chúng ta phương hướng, mục tiêu đích thực là cứu cánh viên mãn -- viễn ly tam giới, vĩnh viễn thoát ly luân hồi. Nhưng nhất định phải hiểu rõ lý luận, hiểu rõ lý luận là hiểu rõ chân tướng sự thật. Nguồn gốc của tam giới luân hồi là vọng tưởng, chấp trước, đặc biệt là ngã chấp, có cái Ta (ngã), có cái của Ta (ngã sở) là nguyên nhân tạo nên lục đạo luân hồi. Muốn thoát ra tam giới thì phải phá ngã chấp, ngã sở. Ngã sở là những gì mình có, người ta khởi tâm động niệm gì cũng liên quan đến ‘cái mình có’, khi có quan niệm ‘cái của mình’ này thì sẽ chẳng thể thoát ra tam giới lục đạo luân hồi. Phật pháp Ðại thừa và Tiểu thừa đều nhằm phá cái Ta này, người tu Tiểu thừa đoạn được ngã chấp thì có thể chứng quả A la hán, thoát ra được tam giới.
‘Ta’ còn không có thì làm sao có ‘cái của Ta’? ‘Danh văn lợi dưỡng của Ta’ đã làm hại chúng ta thê thảm. Từ vô lượng kiếp đến nay chúng ta chẳng phải là chưa gặp Phật pháp, và cũng chẳng phải chưa hết lòng tu học qua, vậy thì tại sao ngày nay phải ra nông nỗi này? Chính là bị cái ‘Ta’ này, ‘cái của Ta’ này hại đấy.
Chỗ cao minh của kinh điển Ðại Thừa, đặc biệt là kinh Bát Nhã trong Ðại Thừa dạy bạn mỗi khi khởi tâm động niệm gì cũng vì Phật pháp, vì hết thảy chúng sanh. [COLOR=Blue] Nhưng người thế gian thường đều lo sợ cho miếng cơm manh áo, đời sống sẽ gặp khó khăn, đây đều là ngã chấp -- chấp trước ‘Ta’, những gì ‘của Ta’. Nếu có tâm niệm này thì chẳng phải là người học Phật và sẽ chẳng đạt được lợi ích chân thật của Phật pháp.[/COLOR]
Kinh Kim Cang nói rất hay: ‘Nếu Bồ Tát có tướng Ta, tướng Người, tướng chúng sanh, tướng thọ giả tức chẳng phải là Bồ Tát’, hãy suy nghĩ coi ý nghĩa của câu này là gì? Ý nghĩa chân chánh của câu này là: ‘Nếu[COLOR=Red] mỗi tâm niệm của chúng ta đều còn có ‘Ta’, ‘của Ta’ thì chúng ta chẳng phải là học trò của Phật, đích thực chẳng phải là người học Phật’. Vẫn còn ‘Ta’, còn ‘cái của Ta’ tức là còn lưu luyến thế gian này nên chẳng thể vãng sanh được.[/COLOR]
Tại sao tín đồ Cơ Ðốc giáo có thể sanh lên trời? Là vì tâm niệm của họ có thể đem hết thảy vinh dự đều hướng dâng lên Chúa, nếu họ đem hết thảy vinh dự đều cho là của mình thì họ chẳng thể sanh lên trời, vì cái ‘Ta’ của họ chưa phá hết. Thế nên mọi người hãy suy nghĩ kỹ đạo lý này.


2. Bản chất của Phật giáo (Buổi sáng 10-02-95)


Trong thời đại ngày nay Phật giáo cũng đang cải cách, nhưng nếu chẳng thể giữ vững tinh thần chân chánh của Phật giáo thì Phật giáo sẽ biến chất. Một khi biến chất thì Phật giáo chân chánh sẽ bị tiêu diệt, thế nên phải giữ vững bản chất này. Bản chất là những điều ghi trong tựa đề của [COLOR=Red]kinh Vô Lượng Thọ: ‘Thanh Tịnh, Bình Ðẳng, Giác’, đây là căn bản, không những là căn bản của Tịnh Tông, mà tất cả hết thảy Phật pháp Ðại Thừa đều xây dựng trên căn bản này. Tất cả hết thảy pháp môn đều phải đạt đến mục đích này, tách lìa khỏi mục tiêu này sẽ chẳng là Phật pháp nữa.[/COLOR]
Kinh điển trong Phật pháp có vô lượng kho báu, bản thân bạn phải biết đi tìm kiếm, phát hiện. Bất kỳ một bộ kinh luận nào cũng có kho tàng vô tận, hơn nữa hết thảy kinh luận đều hỗ [tương] thông [đạt] lẫn nhau. Thế nên thông đạt một bộ kinh thì sẽ thông đạt hết thảy kinh điển. Tại sao lại thông đạt hết? Vì [COLOR=Red]mục tiêu của mỗi bộ kinh đều là ‘Thanh Tịnh, Bình Ðẳng, Giác’. Chỉ cần bạn đạt được thanh tịnh, bình đẳng, giác thì bạn sẽ thông suốt hết thảy kinh, chẳng có chướng ngại gì hết.[/COLOR]
Một bộ kinh cũng chẳng thông thì bất kỳ kinh nào cũng chẳng thông, đây là vì lý do gì? Vì chẳng đạt được tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng, vẫn còn mê hoặc điên đảo cho nên chẳng thông. Nếu mọi người hiểu rõ chân tướng sự thật này thì mới hiểu Phật pháp chú trọng ở chỗ chân chánh tu hành, [có chân chánh tu hành] thì mới thông được. Chẳng tu hành chân chánh, nếu chỉ học trên chữ nghĩa, văn tự thì sẽ tuyệt đối chẳng thể thông được.


3. Giới định huệ (Buổi sáng 09-05-95)


Tu học Phật pháp chẳng thể tách rời ‘Giới Ðịnh Huệ’. Giới tức là giữ pháp luật, giữ quy củ, giữ những lời răn dạy của Thế Tôn ghi trong kinh điển, chúng ta tuân theo mà làm.
Mấu chốt quan trọng nhất trong việc tu hành là ‘Ðịnh’, Ðịnh chính là tâm thanh tịnh. Có thể tu tâm thanh tịnh trong mọi cảnh thuận, cảnh nghịch, chẳng bị hoàn cảnh nhân sự quấy nhiễu, ô nhiễm thì đạo nghiệp của bạn sẽ thành công.
Có Ðịnh thì sẽ có Huệ, Huệ tức là có khả năng biết rõ thị phi, thiện ác, tuy có thể biết rõ sự khác nhau nhưng tuyệt đối chẳng khởi tâm động niệm. Một khi khởi tâm động niệm thì đã lạc vào ý thức rồi, sẽ chẳng còn giới - định - huệ nữa. Vì vậy nên chư Phật, Bồ Tát đối với bất cứ ai đều chẳng oán hận, cho dù có người ác, việc ác đến chướng đạo, chư Phật, Bồ Tát đều xem như tự nhiên, chẳng khởi lên tâm oán hận. Tại sao vậy? Hy vọng người ác có thể sớm ngày giác ngộ, có thể quay lại. Vì [COLOR=Magenta]người ác cũng có Phật tánh cho nên Phật, Bồ Tát đối xử với họ rất tôn kính.[/COLOR]


F. Ðiển tích phải đọc


1. Ngũ kinh nhất luận (Buổi sáng14-05-95)


Học Phật và đã phát tâm xuất gia thì nhất định phải gánh vác sứ mạng hoằng pháp lợi sanh, nếu không thì thành tựu sẽ chẳng bằng người tại gia. Hoằng pháp lợi sanh, một đời có thể học một hai bộ kinh thì cũng đủ dùng rồi, chẳng cần phải học quá nhiều. Bộ kinh mà bạn chọn để tu học này, kinh văn và chú giải đều phải học thuộc lòng, [COLOR=Red]nếu chẳng tuân theo phương pháp của các đại đức đời xưa truyền lại, thì sự thành tựu của chúng ta sẽ thua xa người đời trước.[/COLOR]
Người đời trước học một bộ kinh không những phải học thuộc lòng kinh văn, mà còn phải học thuộc lòng chú giải. Như trong Tông Thiên Thai họ phải học thuộc lòng ba bộ -- kinh Pháp Hoa, ‘Pháp Hoa Kinh Huyền Nghĩa Thích Thiêm’, ‘Pháp Hoa Kinh Văn Cú’, những cuốn này tính là hai bộ; ngoài ra còn một bộ liên quan đến việc tu hành, đó là ‘Ma Ha Chỉ Quán’. Ðây là điều kiện căn bản để học theo phái Thiên Thai; nếu chẳng học thuộc lòng ba bộ này thì chẳng có tư cách để học Thiên Thai. Cho nên người ngày nay chẳng chịu học thuộc lòng kinh sách thì chẳng có cách nào để vượt hơn chư vị tổ sư. Học kinh Vô Lượng Thọ không những phải học thuộc lòng kinh văn của kinh Vô Lượng Thọ mà còn phải học thuộc lòng chú giải của kinh Vô Lượng Thọ.
Trong cả đời tôi chỉ gặp được một người vẫn còn dùng phương pháp dạy học thời xưa này, -- đó là Hải Nhân lão pháp sư ở Hương Cảng. Năm 1977 tôi đến thăm ngài, qua năm sau thì ngài vãng sanh, vãng sanh lúc chín mươi mấy tuổi. Ở Hương Cảng ngài chỉ có sáu học trò mà thôi; ngài chuyên nghiên cứu kinh Lăng Nghiêm, chuyên hoằng Lăng Nghiêm, ở Hương Cảng ngài được xưng là Thủ Lăng Nghiêm Vương. Học trò của ngài phải học thuộc lòng kinh Lăng Nghiêm, phải học thuộc lòng chú giải nên học trò của ngài chỉ có sáu người mà thôi.
Nếu muốn thực sự có thành tựu thì không thể không hạ thủ công phu ở chỗ này. Muốn học kinh Vô Lượng Thọ thì Chú giải kinh Vô Lượng Thọ của lão cư sĩ Hoàng Niệm Tổ rất hay, tốt nhất là có thể học thuộc lòng cuốn này.
Nếu học kinh Quán Vô Lượng Thọ thì chọn ‘Quán Kinh Tứ Thiếp Sớ’, đây là Sớ của Thiện Ðạo đại sư, phải học thuộc lòng cả kinh lẫn chú giải.
Nếu học kinh Di Ðà, kinh Di Ðà có hai thứ chú sớ: ‘Di Ðà Sớ Sao’ và ‘Di Ðà Yếu Giải’. ‘Sớ Sao’ tốt nhất nên thêm ‘Diễn Nghĩa’, Diễn Nghĩa là để chú giải cuốn Sớ Sao. Sớ Sao là do Liên Trì đại sư soạn, Diễn Nghĩa là do học trò của Liên Trì đại sư, Cổ Ðức pháp sư soạn. Sách Yếu Giải thì tốt nhất nên học thêm cuốn Giảng Nghĩa của Viên Anh pháp sư soạn.
Học Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm thì tốt nhất nên chọn ‘Biệt Hành Sớ Sao’, học thuộc lòng hết hai cuốn này.
Học Ðại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông Chương thì chọn Sớ Sao của Quán Ðảnh pháp sư.
Học Vãng Sanh Luận thì chọn chú giải của Ðàm Loan pháp sư.
Phải có khả năng học một môn, theo một nhà thì mới được, nếu chẳng dồn hết sức như vậy thì chỉ là giỡn chơi với Phật pháp mà thôi, chẳng thể tự độ, độ tha. Thế nên đại đức thời xưa nói: ‘Năm năm học giới’, phục vụ thường trú trong vòng năm năm là tu phước, tu bố thí, tu nhẫn nhục; trong năm năm này bạn phải học thuộc lòng những kinh điển mà mình phải học. Trong tòng lâm tự viện ngày xưa, năm năm này bạn chẳng có tư cách để nghe kinh. Trong hoàn cảnh ngày nay, bạn có thể nghe kinh, nhưng bạn phải chú trọng vào việc học thuộc lòng kinh.
Năm kinh một luận nếu có thể học thuộc lòng càng nhiều thì càng tốt, chú giải thì tối thiểu phải chọn một loại. Bạn phát tâm tương lai hoằng dương bộ kinh nào thì phải dồn sức vào kinh ấy, mỗi ngày đều đọc, đọc quen rồi thì tự nhiên sẽ nhớ nằm lòng, chẳng cần phải học cũng thuộc, giới định huệ của bạn có thể hoàn thành bằng cách tu học này. Thực sự có thể dồn sức, dồn công phu vào việc này, thì bạn đâu còn thời gian để khởi vọng tưởng, kiếm chuyện thị phi? Vẫn còn vọng tưởng, thị phi thì bạn chẳng thể tu học bằng phương pháp này. Thế nên cổ đức xưa nay đều ‘chuyên công’ -- dồn sức vào học một môn, đều là một môn thâm nhập mà có được thành tựu.