PDA

Xem bản đầy đủ : Hòa Thượng Quảng Khâm Khai Thị


gioidinhhue
06-05-2009, 09:07
NHỮNG LỜI KHAI THỊ CỦA
HOÀ THƯỢNG QUẢNG KHÂM

Ngày 6 tháng 2 năm 1973, khi đến viếng chùa Đại Tiên, chúng tôi ghi lại cuộc pháp đàm giữa Hoà thượng Quảng Khâm [lời in chữ nghiêng] và Hoà thượng Khai Sâm .
Hoà thượng Khai Sâm :
“Thiện sanh thọ hạ văn thuỷ âm
Cổ kim thắng cảnh hiện mục tiền
Đắc ý vong ưu vô giá bảo
Bổn trân phi Phật diệt phi Tâm”


Tạm dịch ý :


“Lành thay sống chốn lâm tuyền,
Suối reo thông gọi cõi thiền là đây.
Cổ kim thắng cảnh nơi này,
Hiện ra trước mắt vẻ đầy thiên nhiên.
Bảo vật vô giá hiện tiền,
Thoả lòng vứt bỏ ưu phiền nơi đây.
Bảo vật vốn chẳng phơi bày,
Chẳng tâm chẳng Phật, vật này vốn không ”.

Hoà thượng Quảng Khâm :


- Không cần tiền mới có tiền

- Làm người không nhiễm trần.



- Ăn, mặc, ở phải buông bỏ mới thoát ly sanh tử.

- Ý khởi là sanh tử,



Tha hương gặp cố nhân.



Đa tạ Pháp sư lời vàng tiếng ngọc.



- Hoan hỷ khổ hạnh.



- Hoan hỷ lạc hạnh. Mặc cho nó đi, mặc tình nó đến . . .


Thân tâm đều xuất gia, thân xuất gia tâm không xuất gia, thân không xuất gia tâm xuất gia.


Ngồi trên đá nói Pháp


Hoà thượng Khai Sâm:
- Cây nào vỏ cũng màu xanh,
Đơm bông kết trái hai cái phân biệt rõ .
Ba bước thiền sư có thể độ Sư .
Minh tâm kiến tánh, không sát sanh tức thái bình
Tu lợi, tu lợi ; tu không cầu lợi mới thoát sanh tử
Cơm nhạt trong bụng no, mọi việc đều tùy duyên .
Sư Tâm Giác hỏi :
- Trong kinh Lăng Nghiêm có đoạn “ phi huyễn . . . diệc phi . . .”
Sư phụ đáp :
- Sáu căn phân biệt, liền có sanh tử, phàm cái gì có tiếp xúc sáu căn thì có sanh diệt, trở thành đời ác ngũ trược.
- Phân biệt tức là giặc, đúng hay không ?
- Đúng hay không đúng cũng là phân biệt.
- “ Lấy giặc đánh giặc”, trong Chỉ nguyệt lục có ghi công án :
Một vị tăng hỏi Triệu Châu ‘ con chó có Phật tánh chăng ?’
- Có hay không cũng không đúng, vì khởi vô minh. Nếu không vô minh thì hai người đều đúng, cũng đều không đúng.
- Buổi sáng Triệu Châu đáp KHÔNG để phá chấp CÓ của Tăng ,
Buổi chiều Triệu Châu đáp CÓ để phá chấp KHÔNG của Tăng .
Pháp sư Sâm Nghĩa, người quốc tịch Úc hỏi :
- Sư phụ từ đâu đến ?
Sư phụ đáp :
- Từ không chỗ trụ mà đến.
Pháp sư nghe, lấy làm thú vị nói rằng :
“ Ấy là ngôn ngữ của bậc kiến tánh”.
Sư phụ hỏi :
- Hôm nay ông đến đây, vậy ông đến hay là ai đến ?
- Con đến.
- Vậy lại có một cái “ ta ” đến, cũng chưa đúng. Có một tướng tới lui thì có sanh diệt, đều là huyễn hoá. Bản tánh không đến không đi không sanh không diệt, không mình không người. Nói không cần suy nghĩ, chuẩn bị; khi có người hỏi thì lập tức trả lời, thế mới là không có đến có đi . Chúng ta nói chuyện phải qua suy nghĩ, vậy là có đến có đi, Phật Pháp không thể nghĩ bàn, không thể dùng miệng mà nói được
Pháp sư nói :
- Xin sư phụ chỉ dạy cho con phương pháp tu hành.
Sư phụ :
- Thọ giới là thọ nhẫn nhục, tai nghe người khác mắng ông, kích bác ông, mà ông không quan tâm đến những điều đó thì gọi là giới
- Tu hành rất khó, giữ được hạnh nhẫn nhục lại còn khó hơn; như nhẫn một tuần, hai tuần, một tháng cho đến một năm, ba năm thì dễ. Nhưng nhẫn cả đời thì không phải là việc giản đơn.
- Vô minh của người xuất gia như lửa, vô minh của người tại gia như khói
Có vị pháp sư nói :
- Căn phòng đóng kín của tôi rất nhỏ, không khí không được tốt.
- Nếu đóng kín tâm thì thân này tạm dùng được, còn như đóng kín thân thì điều đó thường xảy ra.
Pháp sư :
- Ban-chu tam-muội là một trong bốn loại tam muội mà Đại sư Trí Giả gọi là Trường hành tam-muội; pháp môn Sư phụ đang hành trì là Trường toạ tam-muội .
Sư phụ nói :
- Tôi không biết tôi đang làm gì, nếu ông không nói thì tôi cũng không biết . Vậy đừng nói tôi đang làm gì .
Năm 1974 . Có một nữ cư sĩ hỏi rằng :
- Con học Phật pháp ba năm sao không hiểu gì hết, chỉ biết niệm Nam-mô A-Di-Đà Phật. Có người nói Phật, Ma chỉ khác nhau một chút, không biết hiểu như thế nào mới đúng ?
Sư phụ đáp :
- Phật, Ma đều do chúng ta vọng tưởng mà có, chánh niệm tức là Phật, tà niệm tức là Ma .
- Con học Phật chỉ mới ba năm, không biết gì cả, chỉ biết niệm Phật, phần lớn thời gian đều ở trên núi, chỉ có 2 - 3 tháng là ở nhà; con ở trên núi niệm Phật, có một thứ linh cảm, ấy là nếu nhà con xảy ra việc gì con đều biết ngay.
- Như vậy là con không có chánh niệm, tưởng nhớ đến việc nhà nên niệm Phật không chuyên nhất, có tạp niệm thì không có chánh niệm. Con vừa nói muốn học Phật, mà học Phật thì tư tưởng của thế gian phải vứt bỏ.


Sư phụ dạy :


*** Lịch sử và văn hoá Trung Quốc có giáo dục lễ, nghĩa; có Phật pháp Đại thừa và Tiểu thừa , nhưng mà người không có lễ nghĩa thì học Phật tương đối khó . Từ xưa Trung Quốc đã có lễ, nghĩa, trung, hiếu . Thuận với đạo lý mà làm, thì xã hội ổn định, quốc thái dân an. Thế giới ngày nay muôn màu muôn vẻ, muốn có được thân ngươi không phải dễ. Nếu không biết lễ, nghĩa, trung, hiếu thì dù có làm bác sĩ, cũng khó cứu được người. Bác sĩ chỉ học về sắc tướng; những gì có sanh có diệt thường chỉ gây nguy hại chứ không cứu được người; mắt cho thấy có sanh ắt có diệt. Các bậc thánh hiền xưa có lễ nghĩa, tuân theo quy cũ, làm cho thế giới thái bình, mới có thể cứu đựơc người.
*** Vô minh của chúng ta giống như đám mây, có lúc che ánh sáng mặt trời. Phàm mọi sự muốn đạt được đến chỗ rốt ráo, thì bắt đầu là phải dứt vô minh; không dấy lên ngọn lửa vô minh, không sanh phiền não, không đố kỵ người. Nếu như có tâm đố kỵ thì sẽ đoạ vào ba đừơng ác, kiếp sau không biết có được trở lại làm người hay không ? Cho nên mới nói : Thân người khó có, Phật pháp khó được nghe, chánh pháp khó gặp ”.
*** Trong tâm chứa đầy đủ tất cả, cần dùng liền có, không dùng thì không có, ấy gọi là “ không tức là sắc, sắc tức là không ”.
*** Ăn thịt chúng sanh tức là ăn thịt chính mình, giết người tức là tự giết mình. Nói điều phải trái của người tức là điều phải trái của mình; nói ngừơi khác xấu tức là chính mình xấu.
Việc của người xuất gia chúng ta, không nên nói cho người tại gia nghe. Mỗi đạo tràng đều có một vị La Hán. Ta phê bình người khác, chẳng phải là động đến các vị La hán đó sao?
Mặc ai có đúc tượng Phật cao bao nhiêu, hay làm hàng vạn tượng Phật đi nữa, các vị chỉ nên lo niệm Phật, tu khổ hạnh, ăn mặc đạm bạc thô sơ thì tự nhiên có người đến cúng dường, so với người xây đắp tượng Phật, công đức vẫn hơn.
*** Phải khổ hạnh mới đạt đến trí tuệ và Phật báo, phước báo .
Phước báo là khi người nhìn mình, họ liền phát sinh lòng vui mừng, tâm cung kính. Phước báo là được ngừơi cúng dường, nhưng mình phải quý phước, không nên xa xỉ. Mặc dầu có phước báo nhưng cần phải chừng mực, tốt hơn nên đem phước ấy ban bố cho người khác, không nên ôm giữ riêng cho mình .
*** Tự mình tinh tấn mà không hay biết, cần thuận theo tự nhiên không nên chấp trước – chấp rằng phải ra sức dụng công
*** Phật pháp không lìa thế gian pháp, tức là muốn cứu độ ngừơi cần phải đề cập đến những liên hệ nhân quả trong xã hội ; phải tiếp xúc với xã hội. Còn thế gian cũng không lìa Phật pháp, nghĩa là mọi sự mọi việc trong xã hội phải dựa vào Phật pháp mới có thể đề cao cái thiện và tiêu trừ cái ác .

gioidinhhue
06-05-2009, 09:22
Có người hỏi Sư phụ
- Vì sao con không muốn ngủ nhiều mà chẳng có cách gì để đối trị.
Sư phụ đáp :
- Vì con người có vô số tham dục, chẳng hạn miệng thích ăn, ăn no thì ưa ngủ. Mũi thích ngửi mùi thơm, mà hương thơm thì làm cho tâm tán loạn. Tai ưa nghe nên sinh ưa thích, ưa thích mà phải xa lìa thì khổ. Mắt ưa nhìn tâm động, tâm động thì bị “ nhập tâm ”
Có người ngoại đạo phát biểu :
- Tôi muốn tu cho đến sống mãi không già .
Sư phụ nói :
- Thân xác tôi không có chỗ gởi vào, nhưng tâm linh tôi thì có nơi để đến. Ngày nào đó, tâm linh sẽ lìa cái thân giả tạm này.
Tôi đã chuẩn bị cho cái thân, thì tâm linh tôi có chỗ để đến .
Ấy là : thân xác trở về tứ đại, tâm linh đến Tây phương .
Ngoại đạo nói :
- Tâm linh của tôi ở trong vạn vật vũ trụ .
- Tâm linh mà gởi trong vạn vật vũ trụ thì thật là nguy, vì phải thay hình đổi dạng và luân chuyển trong bốn loài chúng sinh. Mắt cho thấy, có sanh phải có diệt, vạn vật trong vũ trụ đều bị huỷ hoại. Dù cho thân thể này tồn tại hai ngàn năm đi nữa, cũng giống như tảng đá kia, vẫn bị huỷ hoại mà thôi.
Ngày 14 - 01 – 1974
Sư phụ nói :
- Độ chúng sanh không chỉ dùng lời nói, mà phải tu đạt đến chỗ vô hình trung cảm hoá được người, chứ không phải “ lấy cái gì đó ” để hoằng pháp .

Pháp sư Độ Luân :


- Đúng vậy, dùng pháp vô vị, không dạy bằng lời. Hiện nay tôi muốn làm việc gì thì tôi cũng có thể làm được, thí dụ : tôi muốn chỗ tôi đang ở là thành phố SanFrancisco không bị động đất, thì không bị động đất, không phải là đất không động, mà do tôi khiến cho đất không động. Trước kia tôi ở Hồng Kông, có trận cuồng phong sắp thổi đến, tôi làm cho nó thổi ở ngoài khơi, cách 20 dặm Anh. Khi tôi còn là sa-di có quỉ, thần, rồng, hồ ly đến quy y. Bây giờ tôi có một số đệ tử người Mỹ, dù cho tôi đánh họ, mắng họ, họ cũng không bỏ tôi mà đi.


- Tu hành phải tu tới chỗ nói được thì làm được, nói như thế nào thì phải làm như thế ấy. Còn phần tôi, tôi không nói là tôi đang làm gì cả, người ta thấy tôi hoặc nghe tôi nói một vài câu, họ cảm động; sau khi tôi đến Đài Loan, Đài Loan cũng tương đối được an ổn.


- Đó là đức hạnh của Hoà thượng cảm hoá được mọi người, những điều ấy tôi chưa nói với ai, vì gặp được tri kỷ nên mới thổ lộ. Tôi đến nước Mỹ, là do Lục Tổ Đại Sư bảo tôi đến, pháp tự của tôi là Độ Luân, pháp danh là An Từ, Hoà thượng Hư Vân đặt tên tôi là Tuyên Hoá .


- Khi tôi ở Cổ Sơn cũng đã từng gặp Hoà thượng Hư Vân. Tôi là người tu khổ hạnh, một chữ cũng không biết, không biết thuyết pháp, không biết gì cả.

- Hoà thượng quá khách khí, xưa nay vốn gọi đó là vô sở đắc, tu hành không phải dựa trên văn tự mà phải có đức hạnh mới độ chúng được. Lục Tổ Đại Sư một chữ cũng không biết, công phu mà tôi có được là nhờ trì chú Lăng Nghiêm và chú Đại Bi, lúc gặp việc gì nguy cấp phải dùng đến, không cần phải niệm từ đầu tới cuối, chỉ niệm một vài câu hoặc một chữ trong đó cũng có thể cảm ứng, tùy theo tình huống mà dùng câu cần thiết .
- Tôi chỉ niệm Phật, khi gặp việc gì chỉ cần niệm một câu A-Di-Đà Phật là được.
- Tôi vốn ưa giúp người, nhưng vì giúp người mà bị nhiều sự hủy báng. Mặc dù vậy, lòng lợi tha của tôi cũng không thối chuyển, nếu đem đầu tôi chặt đi, tôi cũng vui vẽ bằng lòng. Ai chửi mắng tôi, tôi cũng xem đó như lời ca tiếng hát; ai đánh tôi cũng như đánh vào vách, vì tôi muốn hàng phục thiên ma ngoại đạo .
- Ngài chính là Bồ Tát.
- Ngài là đại A La Hán, chúng ta sớm đã biết nhau, mấy chục năm không gặp, bây giờ lại được trùng phùng. Tuy nói như vậy nhưng thật ra chúng ta đã gặp nhau mấy lần rồi.
- Ngài vừa đến, tôi đã biết trước Ngài là ai; tâm Bồ Tát định gặp tức là gặp
- Phàm có tướng đều là hư vọng. Nếu thấy các tướng là phi tướng tức là thấy Như Lai.
- Ấy vẫn còn là sắc tướng, dù sao tướng vô hình có được cũng do tu luyện từ tướng hữu hình mà ra.
- Mượn giả để tu chơn .
- Những gì mắt thấy đựơc thì vẫn còn sanh diệt, những gì mà tai nghe đựơc cũng như vậy .
Thỉnh Hoà thượng trụ thế lâu hơn, trong chỗ vô hình Ngài hộ trì cho tôi hoằng pháp .
- Lần này tôi muốn rời cõi Ta-bà, không ngờ bị tín chúng giữ lại.
- Đến - không từ đâu mà đến; đi - không từ đâu mà đi .
- Tôi muốn đến thì đến, muốn đi thì đi, - đến đi tự tại .
Pháp sư cười nói :
Ngài không đi, bởi vì tôi chưa đến; bây giờ tôi đến rồi thì Ngài lại càng không được đi. Ngài phải trụ thế lâu hơn để cho thế giới hoà bình. Chúng ta mỗi ngừơi ở mỗi nơi, làm việc riêng của mình. Xin Hoà thựơng đem tinh thần giúp tôi hoằng pháp lợi sanh, hàng phục thiên ma, thuyết phục ngoại đạo .
- Còn như bây giờ chúng ta đang nói đến chuyện hoằng pháp; không thể mang cái gì ra để hoằng pháp, mà phải tu đạt đến chỗ cảm hoá người một cách vô hình. Đến như kẻ xấu trông thấy cũng khởi lòng tin, không cần dùng lời nói .
- Đúng vậy, đúng vậy ! Hồi tôi ở Mỹ, nhiều người giàu có đến chùa tôi cũng không tiếp chuyện, nhưng họ vẫn khởi tâm kính ngưỡng, ấy gọi là : “động” cũng đại chuyển pháp luân “ tĩnh ” cũng đại chuyển pháp luân; động-tĩnh không hai, tĩnh-động là một .
Sư phụ cười, Pháp sư Độ Luân cũng cười, Pháp sư ngửa bàn tay đưa cho sư phụ xem, sư phụ cũng ngửa bàn tay đưa cho Pháp sư xem. Hai người cùng mỉm cười hiểu ý nhau .
Sư phụ nói :
- Tôi không định nói điều gì cả, nhưng vì Ngài nói nên tôi mới nói, không cần phải nói nhiều lời
- Tôi không nói gì cả :
Pháp sư Tạng Độ thấy sư phụ ngồi từ sáng đến chiều, tỏ ý :
- Hoà thượng ngồi lâu quá rồi !
- Chính Ngài mới ngồi lâu đấy chứ .
Ngày 3 và 4 tháng 7 – 1974
Sư phụ bắt đầu giảng dạy. Lúc ấy không có người ghi chép, bây giờ chúng tôi hồi ức lại lời sư phụ dạy, xin lược ghi ra đây :
“Cư sĩ đến chùa cúng dường tài vật là để tạo phước điền, phải nên bố thí không hình tướng thì công đức mới lớn, nghĩa là không thấy ngừơi bố thí, vật bố thí và người được bố thí.
Cư sĩ đến chùa tụng kinh bái sám phải thành tâm, phải buông xả. Không nên thân ở Chùa mà tâm lại lo nghĩ đến con cái ở nhà; con cái tự có phước báo của chúng, nên không cần quan tâm đến mà phải chuyên tâm học Phật. Nếu như còn để tâm lo nghĩ đến con cái và việc nhà, tức là người si mê .
Cư sĩ đem phẩm vật đến cúng dường chư Phật, vật ấy trở thành vật của Tam Bảo, không còn là vật của mình .
Giả sử trẻ con dẫn đến chùa đòi ăn trái cây cúng Phật hoặc đã cúng rồi, không thể tự tiện lấy cho. Vì phẩm vật ấy đã trở thành vật của Tam Bảo, không thuộc về mình. Muốn cho chúng thì phải có sự đồng ý của người xuất gia trong chùa .
Cư sỹ đến chùa tụng kinh bái sám, tham gia Pháp hội, phải sống hoà đồng, không nên chê thức ăn ngon dở, vì ở chùa không giống như ở nhà. Ở nhà có thức ăn ngon, còn đến chùa thì phải ăn thức ăn đơn sơ, đạm bạc mới đúng. Cư sỹ đến chùa phải giúp đỡ công việc trong chùa, không nên nhàn rỗi vô sự, không nên nói chuyện đông chuyện tây, bàn luận thị phi.
Người xuất gia ở trong chùa, đối với người tại gia đến chùa lễ bái, không được cùng họ bàn chuyện thế tục, cần phải hướng dẫn họ học Phật như thế nào . Vì mục đích của cư sỹ đến chùa là để xin nhờ ngừơi xuất gia giảng dạy Phật pháp, theo người xuất gia để học cách đốt hương lễ phật, niệm Phật. Mục đích của người xuất gia là liễu sanh thoát tử mà muốn liễu sanh thoát tử thì cần phải nỗ lực tu hành, nếu không khổ hạnh thì không thoát khỏi vòng luân hồi sanh tử, chắc chắn đời sau sẽ rơi vào sáu nẻo luân hồi. Trong 4 loài noãn, thai, thấp, hoá, người là thai sanh có linh giác trong vạn vật, rất thông minh, cho nên con người tu học Phật pháp tương đối dễ dàng. Còn các động vật khác thì rất ngu si, không thích ứng đựơc với sự học Phật pháp.
Người xuất gia phải nên biết rằng, đựơc làm thân người không phải là dễ, phải biết nắm lấy cơ hội được làm thân người để nỗ lực tu hành, mong cầu giải thoát. Nếu không thì tu chưa thành đạo lại sẽ phải tái sanh trong bốn loài, cũng chẳng biết sẽ sanh vào loài nào.
Giả như kiếp sau sanh vào loài chim (noãn sanh), loài cá (thấp sanh), loài sâu bọ (hoá sanh), trí tuệ của chúng thấp hoặc không có trí tuệ các loài ấy muốn tu học Phật pháp rất khó.

Viên Thành
11-06-2011, 22:54
Đệ tử của Thượng Nhân Tuyên Hóa bái kiến Đại Lão Hòa Thượng Quảng Khâm



 
Bái kiến ngày 7 tháng 6 năm 1979 D.L. (tức là năm 69 Dân Quốc - Đài Loan).

Địa điểm: Thừa Thiên Thiền Tự

Tuổi tác: 89 (cao kỷ của HT thượng Quảng hạ Khâm)


Sư cô Hằng __ đệ tử Lão Pháp Sư Độ Luân ở Hoa Kỳ, cùng đi với nữ cư sĩ hộ pháp là người Hương Cảng đến tham bái Lão Hòa Thượng. Nữ Cư sĩ nầy thuộc dòng dõi tin theo đạo Phật thuần thành, thuở nhỏ sớm được thân cận Lão Hòa Thượng Hư Vân, cha của cư sĩ là một trong số nhà hộ pháp lớn, chuyến nầy đến Đài Loan, thăm hỏi chốn Thiền môn của Lão Hòa Thượng, có ý lên núi tham bái Ngài.


Cư sĩ ___ sau khi bái kiến Lão Hòa Thượng, mới có lời bày tỏ với Ngài rằng: "Đời người ngắn ngủi, từ nay về sau con sẽ nhất tâm nhất ý đi con đường tu hành, xem có thể liễu sanh tử không?"


Lão Hòa Thượng bảo: “Hiện giờ người tin Phật trong dân gian, phần lớn đều không rõ sự khác biệt giữa đạo Phật và đạo Thần, đem Phật Bồ Tát và Thần Linh nhập chung lại như nhau, mê tín lộn xộn. Hơn nữa, trong đời thế tục, người người đều bị danh, lợi hai thứ trói buộc mà quay cuồng, ngày ngày sống trong vọng tưởng danh lợi, chẳng khác nào như đang lặn hụp trong mê mộng không biết tỉnh vậy, thế ấy, muốn học Phật liễu sanh tử, thì chẳng phải là chuyện dễ dàng đâu.”


Cư sĩ ___ nói: “Bởi vậy con mới tính sớm buông thả cái gánh đang quảy xuống, chuyên tâm đi con đường nầy.”


Lão Hòa Thượng nói: “Lời nói thế, song con vẫn còn có điều quan ngại, con hãy còn vẫn lo lắng không ngớt cho con cái lớn nhỏ trong nhà. Chúng ta tu hành tức là phải tu cái điều "ái biệt ly khổ", "sanh lão bịnh tử" khổ nầy. Con phải biết, chúng ta rơi vào cõi nhân gian nầy, đến đây có cha mẹ, anh chị em vân vân, mọi thứ nầy đều là thuộc vào cái vòng lẩn quẩn luân hồi trong tứ sanh, đời nầy cha mẹ sanh ta, mai kia ta lại sanh kẻ khác, luân chuyển sanh đi trở lại với nhau; lại thêm vào đó nghiệp sát của chúng ta, bây giờ anh giết tôi, ăn thịt tôi, sau này tôi giết anh, làm thịt anh, nghiệp sát không dứt tuyệt, oan oan tương báo, giết hại lẫn nhau, tương sanh tương tàn như thế! Chốc thì sanh làm người, chốc nữa lại trôi vạt vào đường súc sanh, trong lục đạo tứ sanh, đến đến đi đi, mãi không ngừng nghỉ, cha mẹ thân quyến tức là bạn lữ luân hồi của chúng ta.”


“Bây giờ con đã biết học Phật, lạy Phật, cũng biết cúng Phật, cúng Pháp, cúng Tăng, đây cũng là do đời quá khứ con có trồng căn lành, học Phật rồi càng nên biết đến ủng hộ Phật pháp. Cư sĩ tại gia học Phật, việc ăn, mặc, đi đứng, sinh sống mọi mặt hằng ngày, điều nầy tránh không khỏi; có điều là chúng ta phải biết cách tiết chế vừa phải, ăn miễn no bụng, áo đủ ấm thân, mọi thứ qua ngày qua bữa là được rồi, lấy tiền của có dư mang đến cúng Phật, cúng Pháp, cúng Tăng, làm công quả, làm Phật sự hộ pháp, điều nầy mới phải là phận sự đáng nên làm của người Phật tử tại gia."


Cư sĩ ___ lại hỏi: “Bạch Thầy, chúng con là người Phật tử tại gia nên tu trì Pháp môn nào?”


Lão Hòa Thượng dạy rằng: “Cư sĩ tại gia muốn biết phải tu hành như thế nào, đó là một việc không thể nào làm được, vẫn chỉ còn có cách là buông xả hết thảy mọi thứ, nhất tâm niệm Phật, cầu đới nghiệp vãng sanh (mang theo nghiệp tội mà vãng sanh), không bị đọa vào cõi Ta-bà, mới là điều vững chắc nhất. Người xuất gia chúng tôi, có người vì độ chúng sanh, phát nguyện trở lại thế giới Ta-bà nầy, nhưng điều tâm nguyện nầy, cũng phải cần chính bản thân đạt đến cảnh giới của Bồ Tát mới bảo đảm có phần nắm chắc, bằng như không được thế, một khi sanh đến đây sẽ rất dễ dàng bị mê lầm lạc lối, lại bị đưa đẩy vào trong vòng luân hồi, điều nầy thật nguy hiểm lắm!”


"Con người đời nay học Phật, tự độ còn chưa xong. Tự thân vẫn còn như là một khối bùn nhơ mà đã muốn độ thân quyến của mình, rốt cuộc độ người chưa xong mà trái lại bị người độ đi theo. Người học Phật tự độ đã không kịp xuể, còn đi bám níu quan ngại thân quyến, cứ như thế ý niệm thế tục chẳng dễ chuyển đổi, muốn thân tướng tu đặng liễu sanh tử, thì rất là khó khăn lắm vậy!”


“Cuộc đời nầy chẳng khác nào như tuồng diễn sân khấu trên màn ảnh truyền hình vậy, trong đó các người đóng vai diễn đạt các vai trò khác nhau; tình tiết vở kịch, diễn tiến buồn vui tan hợp, hỷ nộ ai lạc, người xem tuồng hát cũng tùy theo tình huống tâm trạng các nhân vật ấy mà hồi mừng hồi vui, khi lo khi buồn vậy đó! Mà những tốt xấu buồn vui cũng chẳng qua là nhãn căn của chúng ta đối với trần cảnh, đang phân biệt rồi chấp lấy hay xả bỏ nó. Chúng ta hãy nhìn thế giới ta-bà cũng giống y như vậy, thuận cảnh, nghịch cảnh, điều thiện, việc ác, tâm cảnh .. tùy theo đó mà trồi sụt. Điều bất hạnh ấy là tập khí thói quen của chúng ta sâu nặng, nhãn căn đối cảnh, thấy ác dễ theo, gặp thiện khó hành; nhìn thấy điều ác, khế hợp với tập khí ác tính của mình, thì sanh tâm vui mừng, buông thả theo thói, lêu lõng sa đọa; còn hễ khi nghe thấy sự hành trì của Phật Bồ Tát đã làm nên, như Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Quan Âm Bồ Tát, Địa Tạng Bồ Tát v. v. ..., lại sanh tâm ngại khó, cho rằng đó chỉ là cảnh giới của các vị Phật Bồ Tát, mình là phàm phu, làm gì đạt được ngần ấy hiệu quả, sanh tâm thối lui, đối với Phật Bồ Tát chỉ có tán thán khen ngợi suông không thôi. Kết quả, điều tốt chẳng học được, việc xấu thì lại càng nhiễm càng sâu, đây chính là cái duyên cớ tự bản thân không có Thệ Nguyện Lực.”


“Chúng ta tu hành, tức là nhờ vào sức thệ nguyện của chúng ta trong việc thành Phật. Chư Phật Bồ Tát từ xưa đến nay, như Bồ tát Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Âm v. v. ..., không vị nào là chẳng nhờ vào Lực Thệ Nguyện của chính họ, tu khổ hạnh mà thành tựu.”


“Người xuất gia xem Kinh sách, có thể liễu giải ý nghĩa của Phật Bồ Tát. Thêm nữa phải thọ giới, giới luật rất quan trọng, đây là điều căn bản liễu sanh tử của chúng ta. Trì giới, nhẫn nhục là con đường đạo đứng hàng đầu, phải tu khổ hạnh, áo thô cơm đạm, vì Thường Trụ, vì chúng mà phục vụ, làm công đức, mới có thể khai mở trí tuệ của chúng ta, mới có thể thân hành thể hội ý nghĩa cảnh giới của Phật Bồ-Tát.”


“Các con xem kìa! Thế giới nầy mọi người đều mê đắm trong giấc mộng, rượt đuổi danh lợi, anh tranh tôi đoạt; anh tài giỏi, tôi càng phải tài giỏi hơn anh; anh mạnh, tôi càng phải mạnh hơn anh; mỗi một người đều đang tranh đua, xem thử ai xây giấc mộng to tát nhất. Kết cuộc, những điều danh, những việc lợi nầy, sanh chẳng mang đến, chết cũng không đem đi, chỉ là ngang nhiên tạo thêm nhiều nghiệp xấu ác mới, mà thân người thấm thoát một phen trôi qua rồi, từ kiếp hiện tiền nay đây lần hồi trở đi, cũng sẽ khó tìm lại được nữa.”


“Cái thân người chúng ta đây, thật sự rất là quý giá, cũng chẳng phải là dễ dàng có đặng, chúng ta nói là người sanh người, chó sanh chó, mỗi loài có giống của riêng nó, nhưng mà bất kể là sanh người hoặc sanh chó, tựu trung thảy đều là phần tâm linh, cái tri giác, cái bản thể linh tính bất sanh bất diệt đang chuyển biến đấy! Cái tâm chúng ta đang hành sự, là đường lối của Phật Bồ Tát, tương lai sẽ ở trong cảnh địa của Phật Bồ Tát, khi tâm hành tạo tác đều là tham lam, là ngu si, là sân hận, thì tức là một phần tử trong tam ác đạo về sau. Ngay cả đến loài côn trùng, loài chúng sanh nhỏ li ti phảng phất trong hư không, đều là do trải qua thân người chúng ta, tâm hành tạo tác khác nhau mà chuyển hóa thành ra. Tất cả chúng sanh trong mười pháp giới, không có một thứ nào mà chẳng phải là do cái thân người đây chuyển hóa cả. Thân người chúng ta đây chẳng nên dễ dàng để trôi qua như thế đó, thật ra chúng ta đây đang trải qua kiếp mang thân người.”


Sư cô Hằng ___ thưa: “Chuyến nầy chúng con đến Đài Loan, bái kiến Lão Hòa Thượng, được lợi ích to lớn, mỗi lần lên núi đây, nghe Lão Hòa Thượng khai thị, chúng con xuống núi ra về, trong đầu óc, vẫn mãi in sâu âm hưởng của những lời Lão Hòa Thượng dạy bảo, cứ như lập đi lập lại nhắc nhở mọi người, mà ai nấy đều cảm thấy thọ dụng không hết.” Nói xong, mọi người cùng vị cư sĩ đồng hành, lạy tạ Lão Hòa Thượng lần nữa, rồi hoan hỷ ra về.


Nguồn: http://www.dharmasite.net/ThamBaiHTQuangKham.htm

Viên Thành
11-06-2011, 23:00
Đệ tử của Thượng Nhân Tuyên Hóa bái kiến Đại Lão Hòa Thượng Quảng Khâm



Bái kiến ngày 8 tháng 6 năm 1979 D.L. (tức là năm 69 Dân Quốc - Đài Loan).

Địa điểm: Thừa Thiên Thiền Tự

Tuổi tác: 89 (cao kỷ của HT thượng Quảng hạ Khâm)


Hai Sư cô Hằng __ và Hằng __, đệ tử của Lão Pháp Sư Độ Luân ở Hoa Kỳ, sang Chùa Thừa Thiên tham bái Lão Hòa Thượng, buổi tối hôm đó, Lão Hòa Thượng cùng hai vị khách ni, ngồi ngoài hiên Chánh Điện hóng mát, Lão Hòa Thượng hỏi thăm: “Lệnh Sư (Thầy của hai vị) có thần thông vượt bực hơn người, thế thường khi có hay dạy các đệ tử phép thần thông hay không?”

“Thần thông không do sự chỉ dạy mà có, đó là hiện tượng tự nhiên có được khi tu trì đã đạt được đến một trình độ nào đó, cho nên, Sư phụ chúng con vẫn thường nhắc nhở đệ tử phải năng tham thiền. Vả lại, thần thông chẳng thể nào liễu sanh thoát tử, không phải mục đích căn bản của sự học Phật.” Sư Hằng __ trả lời.


Lại hỏi: “Đã đành như thế, Lệnh Sư có từng dạy các vị tu trì một pháp môn nào hay không?”


Trả lời: “Sư phụ chúng con ngoại trừ việc khuyến khích chúng con tọa thiền, Ngài cũng truyền "Thiên Thủ Thiên Nhãn Đại Bi Đà-la-ni”.

Lão Hòa Thượng nói: “Học Phật chủ yếu là để phá vỡ sự vô minh phiền não, xả bỏ gian tham mà thành Phật, chúng ta xuất gia, phải học cơm đạm áo thô, ăn, đơn sơ dễ dãi, không kén ăn cầu kỳ mỹ vị, chỉ miễn thức ăn có thể nuốt qua khỏi cổ họng, xuống vào dạ dày là xong bữa, không phải là không cần ăn, chỉ cần không quá liều lượng, ăn vừa đủ no thì được rồi, đừng có tham lấy phần ăn, mà ăn tới no quá, mặc cũng phải như vậy, y phục cần để có thể che thân giữ ấm là đủ, không kén chọn đẹp xấu, có thế, mới có thể tiêu trừ thói tham sân si của chúng ta, xả tham dục, ý nghĩa ‘Tam Y Nhất Bát’ của Phật chế, cũng không ngoài việc chẳng nên tham.”


Sư cô Hằng __ : “Thuở trước Đức Phật và các Đệ Tử của Ngài ôm bình bát đi khất thực, thì trong số đông chúng đệ tử ra ngoài, chẳng phải là mỗi một người đệ tử đều có thể xin được thức ăn về, có số đệ tử hóa chẳng được duyên, bát không trở về, hoan hỷ bảo với Đức Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn, hôm nay con không có hóa duyên được thức ăn gì.” Đức Phật nói: “Vậy thì tốt, hóa chẳng được gì, con và chúng sanh không có duyên, sau này thì không cần thiết phải đền trả cho ai, hơn nữa, con cũng không vì người khác hóa được thức ăn về, còn mình chẳng được gì cả mà sanh tâm phân biệt, khởi lên sự phiền não, như vậy càng tốt.”


Lão Hòa Thượng nói tiếp: “Đất nước Trung Hoa đây là Đông Độ, Tổ Sư Đạt Ma đem Phật pháp đông truyền đến chốn nầy, rất may nơi đây có thể ăn chay, thọ trai rau quả, trì giới không sát sanh, còn Tây Tạng là vùng đất du mục, bá tánh đều ăn thịt gia súc, người xuất gia ở địa phương nơi đó ra ngoài hóa duyên, cũng chỉ toàn hóa được một số thức ăn mặn các loại thịt mà thôi, họ làm như thế, chẳng phải là để tỏ ra họ ăn xong các thức ăn thịt này, thì có thể hóa độ các sanh linh, mà là lấy các loại thịt này, duy trì sự sống còn của sắc thân để mà tu hành, dân chúng ăn thứ gì, họ cũng tùy duyên ăn thứ ấy, nếu như không hiểu rõ điểm nầy, cho là tăng sĩ xuất gia có thể ăn mặn, rồi tha hồ tự ý giết sinh vật để ăn, làm thế, chẳng những tự mình tạo lấy nghiệp sát, nghiệp oan, tu hành chẳng đặng, hơn nữa, sau nầy lại còn sẽ bị đọa vào địa ngục.”


“Nếu bảo tăng sĩ xuất gia ăn thịt chẳng phạm giới, điều đó cần phải tự mình tu trì đã đạt được đến một mức độ tương đối, ăn xong thịt, có năng lực siêu độ những sanh linh kia, mới có tư cách. Họ vì nhìn thấy tình cảnh của những sanh linh, chúng sanh trong nẻo đường cầm súc thọ khổ, tâm khởi bi mẫn, cố ý đem chúng giết chết, siêu độ bọn chúng, miễn trừ cho chúng nó khỏi cảnh thọ khổ.”


Lão Hòa Thượng lại nói: “Chúng sanh trong nẻo đường làm người, có đủ thứ khổ phiền não của chúng sanh trên đường nhân đạo chúng ta, sanh, lão, bịnh, tử khổ, ái biệt ly khổ, tất cả sự khổ độc bức não của tham sân si, mỗi ngày đều là bị những thứ vô minh phiền não nghiệp xoay đi chuyển lại, còn chúng sanh trong con đường tứ sanh, bất kể thai sanh, noãn sanh, thấp sanh hay hóa sanh, chúng nó cũng y như vậy, có mọi thứ đau khổ của chúng.”

“Con người chúng ta trên đường nhân đạo là tối linh nhất trong tứ sanh, nhưng mà, chúng ta chẳng hiểu nhân quả Phật pháp, vì tham dục của một thân, muốn ăn thịt thì mặc sức sát vật làm thịt, các con xem, đều là lúc chúng ta đang giết những con vật kia, chúng nó cũng biết chết khổ, đau đớn kêu rên, mà sự kêu rên nầy tức là oán hận, giết nó chết, chúng ta liền tức thì gieo oán nghiệp với nó rồi, tương lai oán oán tương báo, đời đời giết nhau, mãi chẳng thoát ra khỏi sanh tử luân hồi. Cho nên, chúng ta xuất gia thọ giới cần nghiêm giới sát, tức là đạo lý nầy. Trong Giới Kinh dạy chúng ta, không được làm tổn thương mọi loài hữu tình chúng sanh, không được sát hại sanh mạng, muốn chúng ta tuân thủ, mà đang trong khi năng lực công phu chúng ta còn chưa có thể gìn giữ thanh tịnh, chưa thể nào hoàn toàn chẳng thương tổn đến sanh mạng kia, thì chúng ta cần phải giữ nguyên tắc “không cố sát”, bằng không sẽ vấp phải sai lầm.”


“Các con thân nữ nhân, nghiệp chướng sâu nặng, phải tu năm trăm giới, người nam chỉ cần tu hai trăm năm mươi giới.”

Sư cô Hằng __ nói: “Nhưng mà khi chúng con nghĩ đến pháp thân, chúng con biết pháp thân không có tướng nam, cũng không có tướng nữ. Trong Kinh Phật có ghi chép, Long nữ là nữ thân, ngay diện tiền Đức Phật, khi đem hạt Long châu của mình nhả ra hiến Phật mà nói: “Sự thành Phật của con, cũng nhanh chóng y như chuyện con đem hạt Long châu cúng Phật vậy.” Nói xong, liền lúc ấy ngay tại Phật tiền thị hiện, thành tựu Phật quả, mà chẳng cảm thấy tự ty thối chí.”


Lão Hòa Thượng nói: “Long nữ đã tu từ bao nhiêu kiếp, đã tu đến kịp thời chuyển thành thân nam, mới có khả năng như vậy, nói chung người nữ tu hành, đến cuối cùng nhất định phải chuyển thành thân người nam, thành pháp sư đến để độ chúng sanh, hành Bồ Tát đạo, mới có thể thành Phật đạo, nếu muốn từ thân nữ trực tiếp thành Phật đạo, điều đó không thể có được, Bồ Tát Quan Thế Âm cũng là phải chuyển tướng nam mới đặng thành Phật vậy.”


“Chúng ta hôm nay được xuất gia, là điều không phải dễ, các con xem thế giới chúng sanh nhiều đến thế, chúng ta may mắn còn có thể nghe biết đến Phật pháp, lại có cơ may được xuất gia, cà sa khoát thân, đây là một việc rất khó được, ấy là do duyên đời quá khứ chúng ta, đã từng trì danh hiệu Phật Bồ Tát mà có, nhân đó có, mới có cái quả hôm nay đây.”

“Chúng ta hôm nay đã xuất gia rồi, thì phải biết ý nghĩa của Phật Bồ Tát, xem một số Kinh Điển, như Kinh Kim Cang, Kinh Địa Tạng vân vân, thông hiểu tình trạng thập pháp giới chúng sanh, biết được các pháp giới chúng sanh, được thành hình như thế nào, như thế, hành vi cử chỉ của chúng ta, mới có thể có nơi chốn nương hướng theo. Bằng ngược lại không phải thế, mơ mơ hồ hồ chẳng biết nhân quả, xuất gia rồi, vẫn còn giống như người tại gia một thứ, tranh danh tranh lợi, anh giành tôi giựt, hơn thua với nhau, thế thì đời nầy một khi đã qua, cứ thế về sau, thân người cũng sẽ khó được nữa.”


“Phải biết là, chúng ta đã được cái thân người đây, là để tu hành, là phải trải qua kiếp mang thân người, để xem có thể nào mượn nhờ vào cái thân người đây để liễu sanh tử, thành Phật làm Tổ; đừng có lại dựa vào tấm thân người, tạo thêm nghiệp tham sân si, tham ăn ngon, tham mặc đẹp, tham hưởng thụ, tham phước con đàn cháu lũ, trong sáu căn trần xây giấc mộng, chẳng biết hồi đầu tu hành, thế thì cái tấm thân người nầy qua đi, trong nẻo đường tứ sanh ắt có phần mình. Trong đường súc sanh, bò, ngựa, heo, chó vân vân là những con người chúng ta đi làm, con đường ác quỷ cũng là chúng ta rơi vào, cho đến con đường địa ngục, loài hóa sanh, loài thấp sanh, tất cả đều là cái tâm nầy của chúng ta đi tạo tác vậy. Trong thập pháp giới, mọi thứ đều là y theo cái thân người nầy của chúng ta mà tạo tác bao nhiêu các thứ nghiệp tội đã gây nên. Cho nên nói, chúng ta là đang trải qua kiếp thân người, do cái thân người đây được tu thành Phật làm Tổ, cũng có thể do nó mà tạo nghiệp đọa tứ sanh luân hồi. Chúng ta bây giờ đã xuất gia rồi, thì nên y theo Phật pháp, tìm được một con đường để tu hành, xem có thể nào từ đây vượt ra luân hồi sanh tử, thoát ly cái khổ ta-bà.”


“Có số người khinh thường người xuất gia, nhưng mà, muốn họ niệm Phật, niệm chẳng mấy câu thì khởi phiền não, không thể niệm tiếp, thậm chí nghe thấy tiếng niệm Phật, trong tâm dấy lên cảm giác bực bội, như thể là cục đá nặng nghìn cân đang đè nén trong lòng vậy, đây tức là không có thiện căn.”


“Hay là theo lệnh Sư (Thầy của các con) mà học, so ra có nội dung hơn, có thể học được điều gì hơn. Giống như ta đây, mỗi ngày ăn no không việc làm, đành nhàn rỗi ngồi đây, ngồi lâu riết rồi cũng sẽ khởi phiền não.”


“Đâu nào, đây là quán tự tại.” Sư cô Hằng __ ứng đáp.


“Ủa! Con cũng biết nói như vậy, không đơn giản, thông minh lắm, thôi được, chúng ta một ngày nói một chút, đến giờ đánh kẻng tối rồi.” Lão Hòa Thượng nói xong, đại chúng liền giải tán đi.