PDA

Xem bản đầy đủ : Giử gìn khẩu nghiệp, thành Phật một nửa


nguyetsoncusi
10-05-2009, 18:00
Có một vị ni sư lớn tuổi tại vùng núi Cửu Hoa Trung quốc, năm nay 136 tuổi, thân thể vẫn còn khỏe mạnh, minh mẫn. Từ khi xuất gia đến nay, Ni sư không bao giờ bàn tán chuyện nhảm, mở miệng,ngậm miệng cũng chỉ một câu “A Di Đà Phật”. Trong trường hợp, nếu có ai muốn hỏi Ni Sư về vấn đề có liên quan đến việc tu hành thì Ni Sư khai thị vài câu; ngược lại Ni Sư chỉ nhắm mắt mà không trả lời. Sinh hoạt của Ni Sư rất đơn giản, cơm ngày 3 bửa, ăn ở hoàn toàn tự chính mình lo liệu lấy, không bao giờ chiụ nhờ một ai khác.
Đức hạnh của Ni Sư được đồn khắp xóm làng. Nếu như có ai mang bịnh, Y dược không chữa hết, đều đến cầu xin Ni Sư gia trì. Ni Sư chỉ cần để bàn tay lên đầu vổ ba lần, bịnh liền tiêu hết. Đây là năng lực của công đức Niệm Phật tam muội. Đức tu và danh tiếng của Ni Sư đã khiến cho nhiều đài truyền hình Trung quốc tranh nhau đến xin phỏng vấn. Trước ống kính của Đài truyền hình, Lão Ni sư vẫn nhất tâm niệm Phật, thái độ vẫn an nhiên bất động, mặc cho những ký giả cứ liên tiếp phỏng vấn mà không hề trả lời.
Sư Phụ từng nói: “Nữ chúng dù là tại gia hay xuất gia tu hành, nếu giữ gìn được khẩu nghiệp, thì đã thành Phật một nữa”.
Qua việc tu hành của Lão Ni Sư, chúng ta đã thể hội và giác ngộ được Thật tướng của công đức niệm Phật và tướng chân thật của khẩu nghiệp.

Nên nhớ:
- Khẩu nghiệp: là nghiệp lực khó khắc phục nhất cho việc tu hành của Nữ chúng.
- Khẩu nghiệp: là lực cản trở lớn nhất cho việc tu hành chứng đạo của Nữ chúng.
- Khẩu nghiệp: là sức mạnh sát hại sinh mạng lớn nhất cho việc tu hành của Nữ chúng.
- Khẩu nghiệp: là nghi ệp lực chính yếu đưa nử chúng đọa xuống ác đạo.
- Khẩu nghiệp: là sức mạnh ngăn trở lớn nhất cho việc vãng sanh của nử chúng.
- Khẩu nghiệp: Khiến cho đạo tràng không được thanh tịnh, thị phi không ngừng.
- Khẩu nghiệp: Khiến cho tăng đoàn không hòa hợp, đạo pháp không hưng thịnh.
- Khẩu nghiệp: Khiến chúng sanh thoái mất đạo tâm, đoạn mất thiện căn làm người.

Tội gây ra bởi khẩu nghiệp sâu nặng không gì sánh bằng. Nử chúng tu hành nếu không dứt đoạn được bốn loại khẩu nghiệp “vọng ngữ (nói dối), ác khẩu (nói lời thô ác), lưỡng thiệt (nói lưỡi đôi chiều), ỷ ngữ (nói lời thêu dệt để gạt người)”, thời vĩnh viễn phải bị đọa vào đường ác, gánh chịu “khổ khẩu vô lượng” không có ngày ra khỏi. Cho nên đối với nử chúng khi tu hành, để có thể chứng đắc đựợc Tây phương bồ đề thời trong lúc xử sự, đối người tiếp vật phải vô cùng thận trọng trọng lời nói của mình, có thế mới khỏi bị đọa vào các ác đạo phải gánh chịu nỗi kịch khổ của luân hồi.

Tịnh Tông Học Hội Đài Nam (2008)

gioidinhhue
11-05-2009, 12:43
bài này phải nói là wa hay wa cần thiết cho người Nữ và người Nam nữa . Cám ơn nhìu lắm .

gioidinhhue
16-05-2009, 21:24
c. Niệm Phật có thể tiêu tai miễn nạn


Giáo hội Thiên Chúa Giáo có lời tiên tri nói rằng năm 1999 thế giới sẽ có tai nạn lớn, khuyên các bạn đồng đạo nên đọc kinh, phải thật lòng sám hối, hy vọng có thể thoát khỏi tai nạn này. Và nói: tai nạn có thể xảy ra hay không còn dựa trên ‘nhân tâm’, nếu nhân tâm có thể hướng thiện thì tai nạn có thể hoá giải, có thể trì hoãn về sau. Cách nói này rất có lý.
Một ngày trước khi vãng sanh lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam dặn dò các vị đồng học: ‘Thế giới đã loạn rồi, cho dù chư Phật, Bồ Tát, thần tiên trở lại cũng không cứu nổi. Chỉ có con đường sống sót duy nhất là niệm Phật cầu sanh Tịnh Ðộ’, cho nên tai nạn càng ngày càng gần, chúng ta không còn nhiều thời gian nữa, phải nên buông xuống vạn duyên, nhất tâm niệm Phật.
Ðạo Thiên Chúa khuyên người ta cầu lên thiên đường, họ nói không có Cực Lạc thế giới, chỉ có thiên đường và địa ngục. Ngay cả người trên cõi trời cũng không có cách gì nhìn thấy toàn bộ tình huống phức tạp trong đại vũ trụ. Chúng ta hiểu rõ đích thật là có Cực Lạc thế giới, Hoa Tạng thế giới, cùng quốc độ của chư Phật. Làm thế nào để biết vậy? Ðó là ‘duy tâm sở hiện, duy thức sở biến’, nếu hiểu được đạo lý này thì sẽ tin ngay.


1. Vũ trụ là không gian đa nguyên


Thật ra y báo, chánh báo trang nghiêm trong thập pháp giới cũng không có, Phật pháp nói: ‘Tam tâm bất khả đắc’, ‘Chư pháp vô sở hữu’; nói có thì chỉ là tạm có, huyễn có, giả có, trong kinh dùng chữ ‘diệu hữu’. Thế nên thiên đường, địa ngục cũng là diệu hữu; cõi này, cõi nọ cũng là diệu hữu, Cực Lạc thế giới cũng không ngoại lệ. Nếu dùng ngôn ngữ hiện nay của khoa học gia thì đây chỉ là không gian duy thứ (duy có nghĩa là chiều, là phương vị) khác nhau mà thôi, thí dụ như không gian ba chiều [của loài người chúng ta], không gian bốn chiều, năm chiều. Khoa học gia đã chứng minh có 11 chiều không gian tồn tại, nhưng trên lý luận thì không gian có vô số chiều.
Những người vừa mới hiểu Phật pháp đều khẳng định có không gian vô số chiều tồn tại. Nếu bạn không thể đột phá những thời gian, không gian này thì không thể hiểu rõ sự thật. Vô số không gian có duy thứ không giống nhau tức là vô lượng vô biên thế giới, đức Phật nói [những thế giới này] đều từ tâm tưởng sanh. Kinh Hoa Nghiêm nói: ‘Duy tâm sở hiện, duy thức sở biến’ tức là từ tâm tưởng sanh. Vô lượng vô biên chúng sanh có vô lượng vô biên vọng tưởng, phân biệt, chấp trước nên biến đổi ‘Nhất Chân pháp giới’ trở thành vô lượng vô biên không gian khác nhau, vô lượng vô biên cảnh giới, đạo lý là như vậy.
Ðức Phật dạy chúng ta có thể đột phá những không gian này bằng cách lìa bỏ vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Lục đạo [luân hồi] là do vọng tưởng, phân biệt, chấp trước biến hiện ra; nếu xả bỏ chấp trước, chỉ còn vọng tưởng và phân biệt thì lục đạo luân hồi sẽ không còn nữa, tức là Tứ Thánh pháp giới. Nếu cả phân biệt cũng xả bỏ thì Tứ Thánh pháp giới (Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật) cũng không còn, tức là không còn thập pháp giới nữa. Không còn thập pháp giới tức là Nhất Chân pháp giới. Do đây có thể biết thập pháp giới là từ phân biệt, chấp trước biến hiện ra. Xa lìa phân biệt chấp trước thì thập pháp giới sẽ không còn tồn tại. Việc này cũng giống như nằm mộng, khi tỉnh dậy những cảnh giới trong mộng đều không còn. Người ta thường nói đến danh từ ‘tu hành chứng quả’, chứng quả nghĩa là chứng được Nhất Chân pháp giới, khế nhập vào Nhất Chân pháp giới. Tây phương Cực Lạc thế giới thuộc về Nhất Chân pháp giới. Do đó có thể biết nếu chúng ta còn phân biệt, chấp trước thì nhất định sẽ không nhìn thấy Nhất Chân pháp giới.
Trong kinh Hoa Nghiêm chúng ta thấy Nhất Chân pháp giới vẫn có 41 cấp bực, đó là Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Ðịa, đến Ðẳng Giác Bồ Tát hết thảy đều là Pháp Thân Ðại Sĩ. Những cấp bực này còn tồn tại là vì vọng tưởng chưa dứt trừ. Vọng tưởng tức là vô minh vi tế (vi tế nghĩa là nhỏ bé). Có câu nói: ‘phá một phẩm vô minh, chứng một phần pháp thân’, 41 phẩm vô minh tức là 41 phẩm vọng tưởng. Khi đoạn dứt hết 41 phẩm vô minh này, không còn vọng tưởng nữa thì chứng được rốt ráo, đây là Phật quả Viên Giáo, đây mới là quả vị cứu cánh.
Người Thiên Chúa Giáo chưa từng nghe những đạo lý này, thật đáng tiếc. Phật pháp trong thế gian và xuất thế gian đều vô cùng thù thắng, đáng tiếc là người truyền bá quá ít. Hoằng dương Phật pháp không dễ tại vì tự người đó phải khế nhập trước, nếu mình chưa khế nhập thì làm sao có thể nói được [một cách hoàn hảo và đúng đắn]? Làm sao có thể hiểu được? Nếu muốn lý giải, hiểu rõ thì phải tu học, có tu học thì mới khế nhập, sau đó mới có thể giải thích [tường tận], mới có thể giúp đỡ người khác.
Pháp Sư Tịnh Không

gioidinhhue
16-05-2009, 21:30
2. Không tri ân nghĩa chiêu cảm tai kiếp


Chúa Jesu nói: ‘Ngày nay người trong thế gian quên ân, phụ nghĩa không biết ân đức’. Chúa Jesu, Thánh Mẫu Maria thiệt thương yêu người đời, người đời không những phản bội mà còn sỉ nhục, huỷ báng các Ngài và tạo ra vô lượng vô biên tội nghiệp. Trong thế giới hiện nay những chuyện này rất phổ biến. Con cái chịu ân đức dưỡng dục của cha mẹ, không biết báo ân mà còn bỏ rơi cha mẹ. Chúng tôi đi thăm viện dưỡng lão của những người đạo Hồi giáo (Islam), những người già ở đó đều bị con cái bỏ rơi, không nhà không cửa. Ngày nay con cái bỏ rơi cha mẹ, học sinh phản bội thầy giáo, không biết ân nghĩa, tạo ra vô lượng vô biên nghiệp tội, vì vậy nên chiêu cảm quả báo thế giới hủy diệt.


Cho nên lời tiên tri nói tai họa này là do chúng ta tự chiêu cảm lấy, không phải Thượng Ðế nổi giận trừng phạt chúng ta, Thượng Ðế rất không muốn nhìn thấy sự việc này xảy ra, nhưng không thể tránh khỏi, tạo ra nghiệp tội nhất định phải nhận lấy tai họa. Cách nói như vậy mới hợp tình hợp lý.
Những năm gần đây tôi khổ tâm mỏi miệng khuyên răn mọi người, nếu ba ngày không khuyên thì mọi người quên ráo trọi. Ðây đúng như kinh Ðịa Tạng nói: ‘Chúng sanh ở Diêm Phù Ðề cang cường khó giáo hóa’, chúng ta thể hội câu này một cách sâu sắc. Nhưng chư Phật, Bồ Tát làm gương, làm mô phạm cho chúng ta noi theo, cho dù chúng sanh có cang cường khó giáo hóa đến đâu thì cũng không thể bỏ rơi. Ðây đúng như câu nói: ‘Trong nhà Phật không xả bỏ một ai cả’, đây mới là đại từ đại bi chân thật.


Kinh Hoa Nghiêm nói với chúng ta tự mình chân tu thì có thể ảnh hưởng đến người khác, làm cho người khác cảm động khi nhìn thấy tấm gương tu hành của chúng ta, sanh tâm xấu hổ, tự nhiên sẽ học theo, được như vậy thì có thể đem lại sự an định cho xã hội, hòa bình cho thế giới. Ðức Phật nói ‘tự hành hóa tha’ nghĩa là nhờ vào sự tu hành chân thật của mình [mới có thể cảm hóa người khác], tự mình không tu hành chân thật thì không có ích lợi gì cả. Cho dù biết nói, nói được tốt đến đâu, khi tai họa xảy ra thì cũng không tránh khỏi, vốn phải sanh tử như thế nào thì vẫn phải sanh tử như thế ấy, vẫn không ra khỏi luân hồi như cũ, và cũng không thể vãng sanh.


Chúng ta nhất định phải dùng tâm chân thành, tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng, tâm giác ngộ, tâm từ bi, chắc thật niệm câu Phật hiệu này. Câu Phật hiệu này nhất định phải tương ứng với ‘Thanh Tịnh, Bình Ðẳng, Giác’, và cũng là ‘một niệm tương ứng một niệm Phật, niệm niệm tương ứng niệm niệm Phật’; nếu không tương ứng, không phù hợp, câu Phật hiệu sẽ chẳng có công đức. Làm thế nào mới được tương ứng? Trong đời sống hằng ngày nhất định phải làm được ‘nhìn thấu, buông xả, tự tại, tùy duyên’. Nhìn thấu nghĩa là hiểu rõ chân tướng sự thật của vũ trụ nhân sanh; buông xả tức là buông xuống tất cả vọng tưởng, phân biệt, chấp trước.

gioidinhhue
16-05-2009, 21:50
3. Niệm Phật có thể giúp cho thế giới hòa bình


Thiền Tông Lục Tổ Huệ Năng dạy: ‘Nếu là người tu đạo chân chánh, không nhìn thấy lỗi lầm của thế gian’, chỉ biết tu [sửa bản thân] mình, tự mình nỗ lực đoạn ác tu thiện. Kinh Vô Lượng Thọ dạy ba nguyên tắc của sự tu thiện:



‘Thiện hộ khẩu nghiệp, bất cơ tha quá’ (Khéo giữ gìn khẩu nghiệp, đừng chê bai lỗi của người khác)


Thiện hộ thân nghiệp, bất thất luật nghi (Khéo giữ gìn thân nghiệp, chẳng hành động trái ngược với giới luật)


Thiện hộ ý nghiệp, thanh tịnh vô nhiễm (Khéo giữ gìn ý nghiệp, phải luôn thanh tịnh không nhiễm ô)


Chúng ta phải luôn luôn ghi nhớ từng giờ từng phút, phải làm cho bằng được. Cả bộ Ðại tạng kinh trong nhà Phật và những gì đức Phật đã nói trong 49 năm [tóm lại] tức là ba câu này. Chúng ta nhất định phải thực sự làm được thì mới có thể cứu mình và cứu chúng sanh.
Khi chúng ta tu [hành chân] thật thì tâm sẽ bình (phẳng lặng, yên ổn). Ngày nay khoa học gia nói về những làn sóng tư tưởng, tư tưởng của người thế gian rất phức tạp, đặc biệt những tư tưởng tà ác đều là những làn sóng lớn, [cường độ rung động] lên xuống rất lớn. Những người niệm Phật chúng ta tu ‘thanh tịnh, bình đẳng, giác’ nên làn sóng tư tưởng này đều bình phẳng, yên ổn. Niệm Phật Ðường ở Cư Sĩ Lâm Tân Gia Ba được chư Phật Như Lai gia trì, có Phật, Bồ Tát cùng chúng ta niệm Phật cho nên từ trường (hoàn cảnh, môi trường tu học) ở Niệm Phật Ðường vô cùng thù thắng. Từ trường của Niệm Phật Ðường tốt vô cùng, từ trường này an định, bình tịnh; những làn sóng tư tưởng phát ra từ nơi đây có thể điều hòa tư tưởng tà ác trong thế gian. Dùng làn sóng tư tưởng bình yên phẳng lặng của chúng ta để hóa giải những làn sóng tư tưởng tà ác to lớn của thế gian thì những làn sóng này có thể giảm bớt, yếu đi; đây là nguyên lý hóa giải tà ác, hóa giải tai họa.
Chúng ta ở nhà niệm Phật thì cũng có cống hiến cho xã hội, thế giới. Vì chúng ta niệm Phật thì phát ra những làn sóng tư tưởng thanh tịnh, bình đẳng, giác nên có thể điều hòa những làn sóng tư tưởng tà ác trong thế gian. Nếu hiểu rõ đạo lý này thì sẽ tin tưởng khi chúng ta tâm bình, khí hòa niệm Phật cũng có thể giúp đỡ cho thế giới hòa bình, xã hội an định.
Chân chánh phát tâm niệm Phật tức là tự độ, độ tha (độ mình, độ người); chân chánh phát tâm niệm Phật tức là cứu vãn kiếp nạn của thế gian, đừng tưởng là chúng ta không có năng lực này. Nếu chư vị đồng tu có thể chân chánh giác ngộ, chân chánh buông xuống hết thảy những điều thị phi, nhân ngã, tham, sân, si, mạn, làm theo lời dạy trong Tam Phước, Lục Hòa, Tam Học, Lục Ðộ của đức Thế Tôn thì có năng lực an định xã hội, duy trì hòa bình thế giới.


Chỉ cần chúng ta tâm ý chân thành, chư Phật, Bồ Tát ứng hiện khắp nơi, sẽ cảm ứng đạo giao. Ðặc biệt là trong lúc thế gian có tai nạn to lớn, chúng ta phải giúp đỡ tất cả chúng sanh khổ nạn. Niệm Phật không chỉ là vì chính mình, càng phải vì tất cả chúng sanh. Chúng ta nhất định phải làm, không làm thì không có tâm từ bi. Hy vọng chúng ta cùng nhau nỗ lực, tự độ và độ tha.

gioidinhhue
16-05-2009, 22:14
d. Lý của chuyện ‘Niệm Phật thành Phật’


1. Hư không pháp giới và mình cùng một thể


Từ kinh Hoa Nghiêm chúng ta nhận được rất nhiều khải thị (gợi ý) cho sự tu học Phật pháp. Hội kinh Hoa Nghiêm là do đức Thế Tôn thuyết giảng trong [khi nhập] định ở Bồ Ðề Ðạo Tràng [sau khi thị hiện thành Phật], đại chúng tham dự hội kinh này đều là Pháp Thân Ðại Sĩ. Họ thuộc rất nhiều chủng tộc, rất nhiều đoàn thể khác nhau trong khắp hư không pháp giới, số nhiều vô lượng vô biên. Do đó có thể biết pháp hội Hoa Nghiêm trên thực tế là một hội bao gồm tận hư không trọn khắp pháp giới. Hội Hoa Nghiêm là như vậy, những hội giảng kinh khác không phải như vậy sao? Từ đây suy nghĩ kỹ càng, việc này ám chỉ cho chúng ta biết tận hư không khắp pháp giới đều là một thể. Ðến lúc thành Phật thì mới ý thức đến ‘tất cả chúng sanh vốn đã thành Phật’, hiểu rõ triệt để ‘tình dữ vô tình đồng viên chủng trí’ (hữu tình và vô tình đều viên mãn chủng trí). Nói tóm lại hư không pháp giới và mình đều là một thể, do đó mới thực sự sanh tâm từ bi.
Nhà Phật thường nói: ‘Vô duyên đại từ, đồng thể đại bi’. Chư Phật Như Lai đã giác ngộ rồi, các Ngài đã ngộ việc này; phàm phu vẫn còn mê, mê cũng là mê việc này. Nhưng trong chân tướng sự thật không có mê và ngộ, mê và ngộ là ở tại người. Người giác ngộ thì gọi là Phật, Bồ Tát, người mê hoặc thì gọi là phàm phu. Nhưng sự thọ dụng của mê và ngộ khác nhau, người mê không biết hư không pháp giới đều là mình, không biết hết thảy chúng sanh đều là mình cả, cho nên trong đó [trong mê] sanh khởi vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, tạo nên vô lượng vô biên nghiệp tội.


2. Hết thảy các pháp từ tâm tưởng sanh ra


Nghiệp tội tức là những hành vi, việc làm trái ngược với chân tướng sự thật. Những nghiệp đã tạo sẽ hiện ra tướng. Tướng làm sao hiện ra? Ðức Phật nói: ‘Tất cả pháp từ tâm tưởng sanh’, muôn vàn xin mọi người đừng coi thường câu này. Sự việc trong vũ trụ thiên biến vạn hóa, thập pháp giới y báo, chánh báo trang nghiêm, đây là đức Phật quy nạp xong nói cho chúng ta biết, trên thực tế thì pháp giới vô lượng vô biên. Vô lượng vô biên pháp giới đều từ tâm tưởng sanh – trong tâm nghĩ tưởng gì thì sẽ hiện ra cái đó. Vì vậy cho nên tưởng Phật thì sẽ hiện ra Phật; Ðại Thế Chí Bồ Tát dạy chúng ta: ‘Ức Phật niệm Phật, hiện tiền đương lai, tất định kiến Phật’ (Nhớ Phật niệm Phật, hiện giờ tương lai, nhất định thấy Phật), đây nghĩa là tưởng Phật thành Phật.
Tưởng Phật thì Phật hiện, tưởng Bồ Tát thì Bồ Tát hiện, tưởng gì thì hiện cái đó, việc này là sự thật. Thí dụ chúng ta nghĩ tưởng đến một việc xứng tâm vừa ý thì sẽ sanh tâm hoan hỷ, niềm vui này liền hiện lên gương mặt mình; nghĩ tưởng đến một việc không vừa ý thì sẽ nhăn nhó mặt mày, nét âu sầu sẽ hiện rõ trên gương mặt, lập tức liền thay đổi. Quan sát việc nhỏ này thì mới biết lời dạy của đức Phật vô cùng chính xác.
Thế nên chư Phật Như Lai khuyên chúng ta tưởng Phật, nhớ Phật, niệm Phật, buông xuống hết tất cả những tư tưởng khác. [Pháp môn] niệm Phật vãng sanh bất thoái thành Phật trong Tịnh Tông được xây dựng trên cơ sở và lý luận này. Từ xưa đến nay những người noi theo phương pháp này tu hành chứng quả rất nhiều, những người này đều làm gương tốt cho chúng ta noi theo. Nếu dùng cách nói thông thường của các tôn giáo, những người này là những chứng cớ rõ rệt và những tấm gương cụ thể cho chúng ta. Trong ba thứ chuyển pháp luân của Phật pháp đây gọi là ‘tác chứng chuyển’ (chuyển pháp luân bằng cách làm chứng), họ hiện thân thuyết pháp làm chứng minh cho chúng ta, nói rõ đây là sự thật.

gioidinhhue
16-05-2009, 22:30
4. Y giáo phụng hành có thể tự tại vãng sanh


Nửa thế kỷ trở lại đây tuy chúng ta không thể đích thân nhìn thấy người ta vãng sanh nhưng những chuyện nghe đến thật không ít. Tại sao người ta có thể tự tại vãng sanh? Ðây là việc mọi người đều muốn biết. Ðặc biệt là những người đang sinh sống trong thời đại nhiều tai nhiều họa, tự tại vãng sanh đối với chúng ta vô cùng quan trọng, thiệt là một việc quan trọng nhất trong đời người. Thiệt ra chỉ cần noi theo kinh luận, tu học đúng như lý như pháp, thì có thể làm được. Ðặc biệt là kinh Vô Lượng Thọ, cổ đức nói kinh Vô Lượng Thọ là kinh số một của Tịnh Tông, vì kinh Vô Lượng Thọ giới thiệu hoàn cảnh ở Tây phương Cực Lạc thế giới đầy đủ nhất, giải thích phương pháp tu học tường tận nhất, nói quả báo sau khi vãng sanh viên mãn nhất. Nếu chúng ta chân chánh muốn tự tại vãng sanh, tu học từ ba tháng đến sáu tháng thì có thể thành công. Cho nên pháp môn này rất thù thắng, được hết thảy chư Phật tán thán, tuyên dương.
Thiện Ðạo đại sư nói những gì đức Phật dạy thì chúng ta phải làm được hoàn toàn, những gì đức Phật dạy chúng ta không được làm thì tuyệt đối đừng làm. Nếu thiệt có thể hết lòng làm theo những lời dạy trong kinh Vô Lượng Thọ, làm hằng ngày, một ngày cũng không vi phạm, những công đức này tích lũy trong ba tháng thì bạn sẽ là thượng thiện nhân, sẽ nắm chắc sự vãng sanh tự tại. Nếu có thể làm hết sáu tháng thì càng chắc chắn hơn. Cứ tiếp tục làm như vậy, bạn muốn chừng nào vãng sanh thì lúc đó vãng sanh, đứng vãng sanh, ngồi vãng sanh, tự tại tùy theo ý muốn. Ðây là một việc [quan trọng] hạng nhất trong đời người!
Có một số người vãng sanh không được tự tại, lúc lâm chung còn bị bịnh khổ, nguyên nhân là vì những gì đức Phật dạy họ làm đều không thể làm hết hoàn toàn; những gì đức Phật dạy họ không được làm thì vi phạm không ít, đây là nghiệp chướng. Nhưng nhờ đời trước hay đời này cũng còn chút thiện căn, lúc lâm chung gặp được bạn tốt nhắc nhở, trợ niệm, thì cũng có thể vãng sanh.
Người ta sống trên đời này mấy chục năm ngắn ngủi, lúc đến mang hai bàn tay không thì ra đi cũng mang theo hai bàn tay trắng. Cổ đức nói: ‘Vạn ban tương bất khứ, duy hữu nghiệp tuỳ thân’ (Muôn thứ không đem được, chỉ mỗi nghiệp theo thân). Tất cả mọi vật trên thế gian này không có một vật gì có thể đem theo, những gì có thể đem theo được chỉ là những nghiệp mà mình đã tạo ra, việc này rất đáng sợ! Tôi đọc đến việc này rởn da gà, có nhiều người đọc đến nhưng không hề gì, như vậy đúng là nội tâm đã chai đá hết trơn rồi. Nếu thiệt có tri giác, đọc đến thiệt rất sợ thì làm sao dám tạo nghiệp?
Chư Phật, Bồ Tát từ bi, có lòng thương yêu chân thành, chúng ta không biết thân cận [học hỏi] mà còn xa lìa họ, đi kết bạn với những bạn xấu trong thế gian, đó là sai lầm quá đỗi! Bạn xấu tức là những người tạo ngũ nghịch thập ác, không chịu nghe lời dạy của thánh hiền, không y giáo phụng hành. Ðây là một sự mất mát to lớn đối với đời sống tu học của chúng ta, chúng ta phải nhận thức rõ ràng.
Nhất định phải hết lòng nỗ lực tu học, nắm chắc sanh mạng ngắn ngủi nhưng quý báu trong đời này, hoàn thành nhân duyên hiếm hoi từ vô lượng kiếp đến nay. Niệm Phật thành Phật, đây là một chuyện lớn, người như vậy mới đáng gọi là người có chí khí, nếu nói theo nhà Phật thì thiệt đúng là đại anh hùng, đại trượng phu. Hy vọng chúng ta cùng nhau gắng sức, khuyến khích lẫn nhau, ngay trong đời này làm cho xong công việc to lớn này, không uổng phí cuộc đời.