Diệu Bích
18-07-2009, 00:19
Với chủ đề “So sánh thế giới Cực lạc cõi nhân gian”, chúng ta sẽ gặp muồn vàn khó khăn khi bàn luận đến vấn đề này.
Lý do thứ nhất – đứng trên phương diện thực tế - chúng ta chưa từng thực mục sở thị thế giới Cực lạc (Tịnh độ), và chưa từng sinh hoạt một phút giây nào nơi ấy thì làm sao có kinh nghiệm, có hiểu biết để đối chiếu so sánh các cõi với nhau? Ví như, tôi chưa từng đến Mỹ. Tôi chỉ nghe các Việt kiều về nước mô tả đời sống nước Mỹ là như thế này như thế kia. Nghe như thế thì tôi cũng tưởng tượng nó là như vậy. Nhưng bây giờ bảo tôi so sánh đời sống Mỹ với Việt nam thì làm sao tôi có thể so sánh chính xác bằng chính các Việt kiều vốn từng sống và sinh hoạt cả hai nước Việt và Mỹ? Đó là một sự thật không thể phủ nhận.
Lý do thứ hai, trong kinh Hoa Nghiêm có bài kệ: “Nhược nhân dục liễu tri. Tam thế nhất thiết Phật. Ưng quán pháp giới tánh. Nhất thiết duy tâm tạo”. Nghĩa là: Nếu muốn quán triệt ba đời chư Phật thì nên quán tưởng hết thảy các pháp đều do tâm sinh. Thế giới Cực lạc và cõi nhân gian là pháp. Như vậy, thế giới Cực lạc và cõi nhân gian cũng là do tâm sinh, tâm biến hiện. Đã là tâm sinh, tâm biến hiện thì tuỳ theo tâm ý và tuỳ theo sự chứng ngộ của mỗi người mà cảnh giới Cực lạc và cõi nhân gian được hiện hữu, cảm nhận trong tâm mỗi người mỗi khác nhau. Cụ Nguyễn Du nói: Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ. Như thế, thực hiện so sánh đời sống thế giới Cực lạc với đời sống cõi nhân gian là điều không thể.
Tuy nhiên, nếu quan niệm thế giới Cực lạc ( Tịnh độ ) là thế giới lý tưởng, là mơ ước chung cho tất cả chúng sinh hướng tới thì y cứ vào kinh văn do đức Phật Thích-ca thuyết, chúng ta có thể thực hiện sự so sánh giữa hai cõi này; để từ đó, chúng ta phát khởi tín, hạnh, nguyện, chuyên cần hành trì pháp môn niệm Phật trực vãng Tây phương.
Môi trường sống
Xứ sở Cực lạc được bao quanh bảy lớp lan can, bảy lớp lưới giăng, bảy lớp hàng cây đều là bốn vật liệu quí ( vàng, bạc, lưu ly, pha lê ). Môi trường thiên nhiên của cõi Cực lạc thuần tịnh, trong sạch không bị ô nhiễm. Xứ sở Sa bà cũng có thất bảo, cũng có bốn vật liệu quí, cũng có cây, có rừng, có biển. Tiếc thay! chúng ta không biết giữ gìn môi trường sống do tự nhiên ban tặng. Nạn chặt phá rừng, đốt rừng diễn ra khắp nơi làm sự mất cân bằng sinh thái. Thêm vào đó, hàng triệu nhà máy mỗi ngày thải ra hàng triệu lít khí độc khiến môi trường sống bị hủy hoại nghiêm trọng, dẫn đến nhiều hệ quả tệ hại như: hiệu ứng nhà kính, hiện tượng elnino, thiên tai khắp hành tinh.
Tại nước Cực lạc có ao bảy báu. Đáy ao trải cát vàng. Xung quanh ao, và đường đi xây dựng bằng vàng, bạc, lưu ly, pha lê. Trên ao là những lâu gác trang trí bằng thất bảo. Trong ao, có hoa sen phản chiếu ánh sáng xanh, vàng, đỏ, trắng và tỏa hương thơm ngào ngạt, vi diệu. Ở cõi Sa bà, các nhà tỷ phú có thể xây dựng ao hồ bằng thất bảo, bằng bốn vật liệu quí, nhưng không thể có nước tám công đức và các loại hoa sen kỳ diệu như cõi Cực lạc vốn do công đức tu tập mà thành.
Xứ sở Cực lạc còn có gió nhẹ thoảng lay, các hàng cây báu cùng các mạng kết bảo châu phát ra âm thanh vi diệu - vốn là pháp âm mầu nhiệm - như trăm ngàn âm nhạc đồng thời trổi lên. Ai nghe âm thanh đó cũng đều phát tâm niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng. Cõi Sa bà không những có gió nhẹ thoảng lay mà còn có cả cuồng phong bão táp đem đến bao nhiêu nỗi kinh hoàng cho nhân loại. Cõi Sa bà không những chỉ có âm nhạc mà còn có đủ mọi thứ âm nhạc lôi cuốn con người. Có âm nhạc mang đến phút giây nhẹ nhàng thản thơi cho tâm hồn. Nhưng có thứ âm nhạc kích động dục vọng ích kỷ, nghe xong thì thân tâm rã rời.
Chúng sinh.
Ở cõi Cực lạc có các loài chim quý, màu sắc kỳ diệu: Bạch hạc, Khổng tước, Anh vũ, Ca lăng tần già, Cộng mạng. Các loài chim này ngày đêm sáu thời hót tiếng hót dịu ngọt về Ngũ căn, Ngũ lực, Thất bồ đề phần, Bát Thánh đạo phần. Các loài chim ấy không phải do nghiệp lực tội báo sinh, mà do nguyện lực Phật A-di-đà biến hóa tạo ra. Ở cõi Sa bà có đủ các loài chim với đủ loại màu sắc, với đủ loại tiếng hót. Nhưng các loài chim này là do nghiệp báo sinh và hót tiếng hót của nghiệp báo của mỗi loài.
Ở cõi Cực lạc toàn chúng Thanh Văn, A La Hán, và chư Bồ Tát đông vô số. Chúng sinh sinh ra cõi Cực lạc đều là hàng Bất Thoái Chuyển, và Nhất Sinh Bổ Xứ. Như vậy, chúng sinh cõi Cực lạc đều dứt trừ các lậu hoặc, các kiết sử phiền não. Trong khi đó, chúng sinh cõi Sa bà do nghiệp lực mà sinh ra, bằng hình thức thai sinh, noãn sinh, thấp sinh nên chất chứa đầy dẫy vô minh, tham ái, và chấp thủ. Vì do nghiệp lực sinh ra nên mới có chánh báo, y báo khác nhau. Do chánh báo y báo khác nhau nên mới có kẻ giàu người nghèo, người thông minh người chậm lụt v.v…
Thọ mạng của chúng sinh cõi Cực lạc là vô lượng, vô biên, vô số kiếp bởi vì nhân dân cõi Cực lạc đều dự ngôi Bất thoái, nghĩa là đã vượt ra ngoài vấn đề sinh tử. Đây là pháp thân thường hằng chứ không là thân hữu vi. Còn thọ mạng của chúng sinh cõi Sa bà thì quá ngắn ngủi, sống nay chết mai, không thể biết trước, nói như trong kinh Tứ Thập Nhị Chương thì thọ mạng của chúng ta chỉ nằm trong hơi thở ra, hơi thở vào.
Đời sống sinh hoạt
Sinh hoạt của chúng sinh cõi Cực lạc thì bắt đầu từ sáng sớm, mỗi người dùng một túi vải đựng các loại hoa trong đó, rồi đi đến cúng dường khắp mười phương chư Phật, sau đó đến giờ ăn thì trở về bản quốc, ăn xong lại đi kinh hành. Sinh hoạt của chúng sinh cõi Cực lạc như thế là sinh hoạt mang đậm lý tưởng vị tha, bố thí cúng dường. Vì thế, cuộc sống ở cõi Cực lạc trở nên nhẹ nhàng, thanh thoát. Trái lại, sinh hoạt ở cõi nhân gian, vừa mở mắt ra là từ sáng đến trưa, từ trưa đến tối, thậm chí đến khuya, đầu tắt mặt tối trăm công ngàn chuyện, bon chen giành giật, tính kế sinh nhai mà có nhiều người cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc; giả sử nếu có đủ ăn đủ mặc thì lại phát sinh trăm ngàn cái lo về tinh thần, về sức khỏe. Hầu như, tất cả mọi sinh hoạt ở cõi Sa bà, khách quan mà nói, là đế hướng đến thỏa mản nhu cầu lợi ích cá nhân, hơn là chăm lo đến lợi ích tổng thể của toàn thể nhân dân trong cõi, nghĩa là sinh hoạt mang tính vị kỷ hơn là vị tha.
Tâm lý
Chúng sinh cõi Cực lạc thuần cảm thọ duy nhất là lạc thọ, không biết đến khổ thọ là gì. Điều này chứng tỏ chúng sinh cõi Cực lạc có đời sống tâm lý ổn định, luôn sống trong yên ổn, an lạc, hạnh phúc, tức luôn sống chính niệm. Còn chúng sinh cõi Sa bà vừa cảm thọ khổ thọ, vừa cảm thọ lạc thọ, vừa cảm thọ bất khổ bất lạc thọ. Cho nên, vui đó rồi lại buồn đó, sướng đó rồi lại khổ liền ngay sau đó, hoặc: “hôm nay trời trời nhẹ lên cao. Tôi buồn chẳng hiểu vì sao tôi buồn.” Đó là do bởi tâm chúng ta là ‘tâm viên ý mã’, một thứ tâm lý bất ổn luôn bị ngoại cảnh chi phối. Đúng như P. Foulquie nói: “Sống trong xã hội, con người tự nhìn mình từ ngoài vào chứ không phải từ trong ra”.
Xã hội
Cõi nước Cực lạc hoàn toàn không có ba đường ác đạo là địa ngục, ngã quỷ súc sinh. Nghĩa là cõi Cực lạc không có các tệ nạn trộm cắp, xì ke ma tuý, mại dâm, tệ nạn buôn bán phụ nữ trẻ em, không có chiến tranh, bạo động, hận thù khủng bố, cho nên không có nhà tù, trại cai nghiện, trại giáo dục nhân cách, trại cải tạo lao động, không có các cuộc chạy đua vũ trang, không sản xuất các loại vũ khí giết người hàng loạt như cõi Sa bà của chúng ta. Bởi vì chúng sinh cõi Cực lạc đã diệt được tam độc tham, sân, si vốn là cội nguồn sinh ra ba đường ác đó.
Trong xã hội Cực lạc, không có ai mang hình tướng xấu xí, tất cả đều màu sắc vàng, nghĩa là xã hội không có nạn phân biệt chủng tộc màu sắc. Ở cõi Sa bà thì chúng sinh có đủ mọi màu da: da trắng, da vàng, da đen, da nâu nên mới nảy sinh ra nạn kỳ thị, phân biệt chủng tộc, gây ra bao thống khổ cho nhân sinh.
Lại nữa, trong xã hội Cực lạc không có sự phân biệt giữa trời và người, không có phân chia giai cấp, tức là một xã hội hoàn toàn bình đẳng, chúng sinh hòa bình với nhau. Trong cõi nhân gian, tuy nhân loại đang hướng đến xoá bỏ bất công, bất bình đẳng, nhưng rõ ràng, sự phân biệt giai cấp vẫn ngấm ngầm hiện hữu như một định chế xã hội nên mới có vấn đề cán bộ và nhân dân, vấn đề trọng nam khinh nữ, vấn đề chủ thợ…vv.
Kinh tế
Ăn mặc ở cõi Cực lạc đều tự nhiên mà thành tựu. Do đất đai ở cõi Cực lạc phong phú, phì nhiêu, bằng phẳng lại toàn bằng thất bảo và do chúng sinh cõi Cực lạc dùng thiền duyệt vi thực làm món ăn chính, sống thiểu dục tri túc, nghĩa là chúng sinh cõi Cực lạc chỉ hướng đến đời sống tinh thần là chính, nên tình hình kinh tế và đời sống vô cùng sung sướng. Còn cõi Sa bà, do tham dục chi phối, mà lòng tham của chúng ta thì vô đáy, không biết thế nào là đủ, là vừa, khi chưa có ăn thì mong có ăn, có ăn rồi lại muốn có mặc, có mặc rồi lại nghĩ đến nhà, có nhà rồi lại mơ đến xe hơi, cứ như thế sự tham muốn kéo dài đến vô tận, cho nên dẫn đến cảnh tranh danh đoạt lợi, cảnh nồi da xáo thịt, cảnh huynh đệ tương tàn, thực chất cũng chỉ vì ăn, vì kinh tế mà thôi.
Chính trị
Về phương diện chính trị, cõi Cực lạc duy nhất chỉ có đức Phật A-di-đà là đấng giáo chủ chí tôn, ngoài ra không có bất kì một vị tổng thống hay thủ tướng gì cả. Đức Phật A-di-đà lấy chánh pháp giáo hóa chúng sinh hướng đến Nhất thiết trí hay Phật trí. Rõ ràng tư tưởng chính trị ở Cực lạc là tư tưởng thuần đạo đức. Do đó, cõi Cực lạc vấn đề lập pháp, tư pháp, hành pháp không được đặt ra. Ở đây, ta thấy có một cái gì gần giống về phương diện hình thức tổ chức ở cõi Sa bà với thế giới Cực lạc, đó là tổ chức Liên Hợp Quốc. Tổ chức này ra bản bản Hiến Chương Liên Hợp Quốc nhằm mục đích hướng tất cả các quốc gia trên thế giới qui tụ về một mối. Thế nhưng, vì mỗi quốc gia có các vấn đề văn hóa, kinh tế, xã hội khác nhau, cho nên mỗi quốc gia thiếp lập một chế độ chính trị khác nhau. Và quốc gia nào trên thế giới cũng đều lấy nền tảng pháp luật làm căn bản để quản trị nhân dân. Do sự bất đồng quan điểm chính trị, nên trên thế giới liên tiếp xảy ra chiến tranh hận thù và bạo động, và h ầu như thế giới không một phút giây nào được hưởng hòa bình thật sự. Thật là khác hẳn với thế giới Cực Lạc.
Giáo dục
Hệ thống giáo dục ở thế giới Cực lạc là hệ thống giáo dục hướng chúng sinh đạt đến Nhất thiết chủng trí hay Phật trí. Đức Phật A-di-đà là Phật đã thành và hướng dẫn các đệ tử tiếp tục tu hành thành Phật như mình. Cho nên, ở cõi Cực lạc từ muôn hoa cây cỏ cho đến các loài chim quý do đức Phật A-di-đà hoá hiện đều phát ra pháp âm vi diệu. Và chúng cinh cõi Cực lạc nghe các pháp âm ấy đều tự nguyện, tự giác hành trì để đạt đến Phật trí. Điều này chứng tỏ, ở cõi Cực lạc không có vấn đề thi cử để đạt được bằng cấp này, học vị kia. Do đó, cũng chẳng có chuyện nói hay, mà làm không hay. Còn mục đích giáo dục ở cõi nhân gian, về phương diện lý tưởng, cũng hướng con người hoàn thiện chân thiện mỹ. Tuy nhiên, bản chất con người vốn tham sân si, nên hầu như cái học của con người thường hướng đến cuộc sống thực dụng, tức học để có cái bằng, sau đó để kiếm công ăn việc làm, tính kế sinh nhai, tranh danh đoạt lợi hơn là hướng đến lý tưởng cao đẹp liễu sinh thoát tử. Cho nên, ngày nay, nạn thi hộ, mua bằng giả tràn lan, bằng cấp không phản ánh chân thực năng lực của người được cấp bằng. Vì vậy, nhiều ông ‘mít đặc’ mà vẫn chễm trệ ngồi trên ghế lãnh đạo là thế.
Lời kết
Vừa qua, Pháp mới phóng phi thuyền lên không gian với mục đích dò tìm sự sống ngoài trái đất chúng ta. Các nhà khoa học Pháp, Ý công bố đã tìm thấy dấu vết đóng băng của cực bắc trên sao hoả. Họ hy vọng, hành tinh sao hỏa này nếu có nước thì khả năng sẽ có sự sống ở đây. Chúng ta cũng hy vọng như vậy. Vì nếu sự sống là có thật ngoài trái đất thì nó càng chứng minh cho những gì đức Phật Thích –ca nói rằng, có hằng hà sa số thế giới là chính xác chứ không phải chỉ có duy nhất cõi Sa bà chúng ta đang ở.
Có thể nói hiện nay, chưa một ai can đảm phát biểu phủ nhận rằng ở phương Tây, cách đây qua mười vạn cõi ức Phật không có thế giới Cực lạc của đức Phật A-di-đà. Vấn đề đặt ra là dù có hay không có thế giới Cực lạc thì vấn đề tối quan trọng nhất của con người vẫn là vấn đề liễu sinh thoát tử, chứ không phải vấn đề tranh luận có hay không có.
Có quan điểm cho rằng, Phật Di Đà cũng chỉ là tâm, Tịnh dộ cũng chỉ là tâm. Nếu Tịnh độ hay Phật Di Đà là tâm thì tất cả chúng ta mỗi người hãy tự mình kiến tạo cho chính mình một vị Phật và vương quốc Tịnh độ, để cho đời ngũ trược ác thế này trở nên thanh tịnh giải thoát khổ đau. Đây cũng chính là bản nguyện của Phật Thích-ca khi thuyết giảng về cõi Cực lạc của Phật A-di-đà vậy.
Theo nguồn Hoa linh thoại - Như Bình, Tudi - HTT.
Lý do thứ nhất – đứng trên phương diện thực tế - chúng ta chưa từng thực mục sở thị thế giới Cực lạc (Tịnh độ), và chưa từng sinh hoạt một phút giây nào nơi ấy thì làm sao có kinh nghiệm, có hiểu biết để đối chiếu so sánh các cõi với nhau? Ví như, tôi chưa từng đến Mỹ. Tôi chỉ nghe các Việt kiều về nước mô tả đời sống nước Mỹ là như thế này như thế kia. Nghe như thế thì tôi cũng tưởng tượng nó là như vậy. Nhưng bây giờ bảo tôi so sánh đời sống Mỹ với Việt nam thì làm sao tôi có thể so sánh chính xác bằng chính các Việt kiều vốn từng sống và sinh hoạt cả hai nước Việt và Mỹ? Đó là một sự thật không thể phủ nhận.
Lý do thứ hai, trong kinh Hoa Nghiêm có bài kệ: “Nhược nhân dục liễu tri. Tam thế nhất thiết Phật. Ưng quán pháp giới tánh. Nhất thiết duy tâm tạo”. Nghĩa là: Nếu muốn quán triệt ba đời chư Phật thì nên quán tưởng hết thảy các pháp đều do tâm sinh. Thế giới Cực lạc và cõi nhân gian là pháp. Như vậy, thế giới Cực lạc và cõi nhân gian cũng là do tâm sinh, tâm biến hiện. Đã là tâm sinh, tâm biến hiện thì tuỳ theo tâm ý và tuỳ theo sự chứng ngộ của mỗi người mà cảnh giới Cực lạc và cõi nhân gian được hiện hữu, cảm nhận trong tâm mỗi người mỗi khác nhau. Cụ Nguyễn Du nói: Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ. Như thế, thực hiện so sánh đời sống thế giới Cực lạc với đời sống cõi nhân gian là điều không thể.
Tuy nhiên, nếu quan niệm thế giới Cực lạc ( Tịnh độ ) là thế giới lý tưởng, là mơ ước chung cho tất cả chúng sinh hướng tới thì y cứ vào kinh văn do đức Phật Thích-ca thuyết, chúng ta có thể thực hiện sự so sánh giữa hai cõi này; để từ đó, chúng ta phát khởi tín, hạnh, nguyện, chuyên cần hành trì pháp môn niệm Phật trực vãng Tây phương.
Môi trường sống
Xứ sở Cực lạc được bao quanh bảy lớp lan can, bảy lớp lưới giăng, bảy lớp hàng cây đều là bốn vật liệu quí ( vàng, bạc, lưu ly, pha lê ). Môi trường thiên nhiên của cõi Cực lạc thuần tịnh, trong sạch không bị ô nhiễm. Xứ sở Sa bà cũng có thất bảo, cũng có bốn vật liệu quí, cũng có cây, có rừng, có biển. Tiếc thay! chúng ta không biết giữ gìn môi trường sống do tự nhiên ban tặng. Nạn chặt phá rừng, đốt rừng diễn ra khắp nơi làm sự mất cân bằng sinh thái. Thêm vào đó, hàng triệu nhà máy mỗi ngày thải ra hàng triệu lít khí độc khiến môi trường sống bị hủy hoại nghiêm trọng, dẫn đến nhiều hệ quả tệ hại như: hiệu ứng nhà kính, hiện tượng elnino, thiên tai khắp hành tinh.
Tại nước Cực lạc có ao bảy báu. Đáy ao trải cát vàng. Xung quanh ao, và đường đi xây dựng bằng vàng, bạc, lưu ly, pha lê. Trên ao là những lâu gác trang trí bằng thất bảo. Trong ao, có hoa sen phản chiếu ánh sáng xanh, vàng, đỏ, trắng và tỏa hương thơm ngào ngạt, vi diệu. Ở cõi Sa bà, các nhà tỷ phú có thể xây dựng ao hồ bằng thất bảo, bằng bốn vật liệu quí, nhưng không thể có nước tám công đức và các loại hoa sen kỳ diệu như cõi Cực lạc vốn do công đức tu tập mà thành.
Xứ sở Cực lạc còn có gió nhẹ thoảng lay, các hàng cây báu cùng các mạng kết bảo châu phát ra âm thanh vi diệu - vốn là pháp âm mầu nhiệm - như trăm ngàn âm nhạc đồng thời trổi lên. Ai nghe âm thanh đó cũng đều phát tâm niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng. Cõi Sa bà không những có gió nhẹ thoảng lay mà còn có cả cuồng phong bão táp đem đến bao nhiêu nỗi kinh hoàng cho nhân loại. Cõi Sa bà không những chỉ có âm nhạc mà còn có đủ mọi thứ âm nhạc lôi cuốn con người. Có âm nhạc mang đến phút giây nhẹ nhàng thản thơi cho tâm hồn. Nhưng có thứ âm nhạc kích động dục vọng ích kỷ, nghe xong thì thân tâm rã rời.
Chúng sinh.
Ở cõi Cực lạc có các loài chim quý, màu sắc kỳ diệu: Bạch hạc, Khổng tước, Anh vũ, Ca lăng tần già, Cộng mạng. Các loài chim này ngày đêm sáu thời hót tiếng hót dịu ngọt về Ngũ căn, Ngũ lực, Thất bồ đề phần, Bát Thánh đạo phần. Các loài chim ấy không phải do nghiệp lực tội báo sinh, mà do nguyện lực Phật A-di-đà biến hóa tạo ra. Ở cõi Sa bà có đủ các loài chim với đủ loại màu sắc, với đủ loại tiếng hót. Nhưng các loài chim này là do nghiệp báo sinh và hót tiếng hót của nghiệp báo của mỗi loài.
Ở cõi Cực lạc toàn chúng Thanh Văn, A La Hán, và chư Bồ Tát đông vô số. Chúng sinh sinh ra cõi Cực lạc đều là hàng Bất Thoái Chuyển, và Nhất Sinh Bổ Xứ. Như vậy, chúng sinh cõi Cực lạc đều dứt trừ các lậu hoặc, các kiết sử phiền não. Trong khi đó, chúng sinh cõi Sa bà do nghiệp lực mà sinh ra, bằng hình thức thai sinh, noãn sinh, thấp sinh nên chất chứa đầy dẫy vô minh, tham ái, và chấp thủ. Vì do nghiệp lực sinh ra nên mới có chánh báo, y báo khác nhau. Do chánh báo y báo khác nhau nên mới có kẻ giàu người nghèo, người thông minh người chậm lụt v.v…
Thọ mạng của chúng sinh cõi Cực lạc là vô lượng, vô biên, vô số kiếp bởi vì nhân dân cõi Cực lạc đều dự ngôi Bất thoái, nghĩa là đã vượt ra ngoài vấn đề sinh tử. Đây là pháp thân thường hằng chứ không là thân hữu vi. Còn thọ mạng của chúng sinh cõi Sa bà thì quá ngắn ngủi, sống nay chết mai, không thể biết trước, nói như trong kinh Tứ Thập Nhị Chương thì thọ mạng của chúng ta chỉ nằm trong hơi thở ra, hơi thở vào.
Đời sống sinh hoạt
Sinh hoạt của chúng sinh cõi Cực lạc thì bắt đầu từ sáng sớm, mỗi người dùng một túi vải đựng các loại hoa trong đó, rồi đi đến cúng dường khắp mười phương chư Phật, sau đó đến giờ ăn thì trở về bản quốc, ăn xong lại đi kinh hành. Sinh hoạt của chúng sinh cõi Cực lạc như thế là sinh hoạt mang đậm lý tưởng vị tha, bố thí cúng dường. Vì thế, cuộc sống ở cõi Cực lạc trở nên nhẹ nhàng, thanh thoát. Trái lại, sinh hoạt ở cõi nhân gian, vừa mở mắt ra là từ sáng đến trưa, từ trưa đến tối, thậm chí đến khuya, đầu tắt mặt tối trăm công ngàn chuyện, bon chen giành giật, tính kế sinh nhai mà có nhiều người cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc; giả sử nếu có đủ ăn đủ mặc thì lại phát sinh trăm ngàn cái lo về tinh thần, về sức khỏe. Hầu như, tất cả mọi sinh hoạt ở cõi Sa bà, khách quan mà nói, là đế hướng đến thỏa mản nhu cầu lợi ích cá nhân, hơn là chăm lo đến lợi ích tổng thể của toàn thể nhân dân trong cõi, nghĩa là sinh hoạt mang tính vị kỷ hơn là vị tha.
Tâm lý
Chúng sinh cõi Cực lạc thuần cảm thọ duy nhất là lạc thọ, không biết đến khổ thọ là gì. Điều này chứng tỏ chúng sinh cõi Cực lạc có đời sống tâm lý ổn định, luôn sống trong yên ổn, an lạc, hạnh phúc, tức luôn sống chính niệm. Còn chúng sinh cõi Sa bà vừa cảm thọ khổ thọ, vừa cảm thọ lạc thọ, vừa cảm thọ bất khổ bất lạc thọ. Cho nên, vui đó rồi lại buồn đó, sướng đó rồi lại khổ liền ngay sau đó, hoặc: “hôm nay trời trời nhẹ lên cao. Tôi buồn chẳng hiểu vì sao tôi buồn.” Đó là do bởi tâm chúng ta là ‘tâm viên ý mã’, một thứ tâm lý bất ổn luôn bị ngoại cảnh chi phối. Đúng như P. Foulquie nói: “Sống trong xã hội, con người tự nhìn mình từ ngoài vào chứ không phải từ trong ra”.
Xã hội
Cõi nước Cực lạc hoàn toàn không có ba đường ác đạo là địa ngục, ngã quỷ súc sinh. Nghĩa là cõi Cực lạc không có các tệ nạn trộm cắp, xì ke ma tuý, mại dâm, tệ nạn buôn bán phụ nữ trẻ em, không có chiến tranh, bạo động, hận thù khủng bố, cho nên không có nhà tù, trại cai nghiện, trại giáo dục nhân cách, trại cải tạo lao động, không có các cuộc chạy đua vũ trang, không sản xuất các loại vũ khí giết người hàng loạt như cõi Sa bà của chúng ta. Bởi vì chúng sinh cõi Cực lạc đã diệt được tam độc tham, sân, si vốn là cội nguồn sinh ra ba đường ác đó.
Trong xã hội Cực lạc, không có ai mang hình tướng xấu xí, tất cả đều màu sắc vàng, nghĩa là xã hội không có nạn phân biệt chủng tộc màu sắc. Ở cõi Sa bà thì chúng sinh có đủ mọi màu da: da trắng, da vàng, da đen, da nâu nên mới nảy sinh ra nạn kỳ thị, phân biệt chủng tộc, gây ra bao thống khổ cho nhân sinh.
Lại nữa, trong xã hội Cực lạc không có sự phân biệt giữa trời và người, không có phân chia giai cấp, tức là một xã hội hoàn toàn bình đẳng, chúng sinh hòa bình với nhau. Trong cõi nhân gian, tuy nhân loại đang hướng đến xoá bỏ bất công, bất bình đẳng, nhưng rõ ràng, sự phân biệt giai cấp vẫn ngấm ngầm hiện hữu như một định chế xã hội nên mới có vấn đề cán bộ và nhân dân, vấn đề trọng nam khinh nữ, vấn đề chủ thợ…vv.
Kinh tế
Ăn mặc ở cõi Cực lạc đều tự nhiên mà thành tựu. Do đất đai ở cõi Cực lạc phong phú, phì nhiêu, bằng phẳng lại toàn bằng thất bảo và do chúng sinh cõi Cực lạc dùng thiền duyệt vi thực làm món ăn chính, sống thiểu dục tri túc, nghĩa là chúng sinh cõi Cực lạc chỉ hướng đến đời sống tinh thần là chính, nên tình hình kinh tế và đời sống vô cùng sung sướng. Còn cõi Sa bà, do tham dục chi phối, mà lòng tham của chúng ta thì vô đáy, không biết thế nào là đủ, là vừa, khi chưa có ăn thì mong có ăn, có ăn rồi lại muốn có mặc, có mặc rồi lại nghĩ đến nhà, có nhà rồi lại mơ đến xe hơi, cứ như thế sự tham muốn kéo dài đến vô tận, cho nên dẫn đến cảnh tranh danh đoạt lợi, cảnh nồi da xáo thịt, cảnh huynh đệ tương tàn, thực chất cũng chỉ vì ăn, vì kinh tế mà thôi.
Chính trị
Về phương diện chính trị, cõi Cực lạc duy nhất chỉ có đức Phật A-di-đà là đấng giáo chủ chí tôn, ngoài ra không có bất kì một vị tổng thống hay thủ tướng gì cả. Đức Phật A-di-đà lấy chánh pháp giáo hóa chúng sinh hướng đến Nhất thiết trí hay Phật trí. Rõ ràng tư tưởng chính trị ở Cực lạc là tư tưởng thuần đạo đức. Do đó, cõi Cực lạc vấn đề lập pháp, tư pháp, hành pháp không được đặt ra. Ở đây, ta thấy có một cái gì gần giống về phương diện hình thức tổ chức ở cõi Sa bà với thế giới Cực lạc, đó là tổ chức Liên Hợp Quốc. Tổ chức này ra bản bản Hiến Chương Liên Hợp Quốc nhằm mục đích hướng tất cả các quốc gia trên thế giới qui tụ về một mối. Thế nhưng, vì mỗi quốc gia có các vấn đề văn hóa, kinh tế, xã hội khác nhau, cho nên mỗi quốc gia thiếp lập một chế độ chính trị khác nhau. Và quốc gia nào trên thế giới cũng đều lấy nền tảng pháp luật làm căn bản để quản trị nhân dân. Do sự bất đồng quan điểm chính trị, nên trên thế giới liên tiếp xảy ra chiến tranh hận thù và bạo động, và h ầu như thế giới không một phút giây nào được hưởng hòa bình thật sự. Thật là khác hẳn với thế giới Cực Lạc.
Giáo dục
Hệ thống giáo dục ở thế giới Cực lạc là hệ thống giáo dục hướng chúng sinh đạt đến Nhất thiết chủng trí hay Phật trí. Đức Phật A-di-đà là Phật đã thành và hướng dẫn các đệ tử tiếp tục tu hành thành Phật như mình. Cho nên, ở cõi Cực lạc từ muôn hoa cây cỏ cho đến các loài chim quý do đức Phật A-di-đà hoá hiện đều phát ra pháp âm vi diệu. Và chúng cinh cõi Cực lạc nghe các pháp âm ấy đều tự nguyện, tự giác hành trì để đạt đến Phật trí. Điều này chứng tỏ, ở cõi Cực lạc không có vấn đề thi cử để đạt được bằng cấp này, học vị kia. Do đó, cũng chẳng có chuyện nói hay, mà làm không hay. Còn mục đích giáo dục ở cõi nhân gian, về phương diện lý tưởng, cũng hướng con người hoàn thiện chân thiện mỹ. Tuy nhiên, bản chất con người vốn tham sân si, nên hầu như cái học của con người thường hướng đến cuộc sống thực dụng, tức học để có cái bằng, sau đó để kiếm công ăn việc làm, tính kế sinh nhai, tranh danh đoạt lợi hơn là hướng đến lý tưởng cao đẹp liễu sinh thoát tử. Cho nên, ngày nay, nạn thi hộ, mua bằng giả tràn lan, bằng cấp không phản ánh chân thực năng lực của người được cấp bằng. Vì vậy, nhiều ông ‘mít đặc’ mà vẫn chễm trệ ngồi trên ghế lãnh đạo là thế.
Lời kết
Vừa qua, Pháp mới phóng phi thuyền lên không gian với mục đích dò tìm sự sống ngoài trái đất chúng ta. Các nhà khoa học Pháp, Ý công bố đã tìm thấy dấu vết đóng băng của cực bắc trên sao hoả. Họ hy vọng, hành tinh sao hỏa này nếu có nước thì khả năng sẽ có sự sống ở đây. Chúng ta cũng hy vọng như vậy. Vì nếu sự sống là có thật ngoài trái đất thì nó càng chứng minh cho những gì đức Phật Thích –ca nói rằng, có hằng hà sa số thế giới là chính xác chứ không phải chỉ có duy nhất cõi Sa bà chúng ta đang ở.
Có thể nói hiện nay, chưa một ai can đảm phát biểu phủ nhận rằng ở phương Tây, cách đây qua mười vạn cõi ức Phật không có thế giới Cực lạc của đức Phật A-di-đà. Vấn đề đặt ra là dù có hay không có thế giới Cực lạc thì vấn đề tối quan trọng nhất của con người vẫn là vấn đề liễu sinh thoát tử, chứ không phải vấn đề tranh luận có hay không có.
Có quan điểm cho rằng, Phật Di Đà cũng chỉ là tâm, Tịnh dộ cũng chỉ là tâm. Nếu Tịnh độ hay Phật Di Đà là tâm thì tất cả chúng ta mỗi người hãy tự mình kiến tạo cho chính mình một vị Phật và vương quốc Tịnh độ, để cho đời ngũ trược ác thế này trở nên thanh tịnh giải thoát khổ đau. Đây cũng chính là bản nguyện của Phật Thích-ca khi thuyết giảng về cõi Cực lạc của Phật A-di-đà vậy.
Theo nguồn Hoa linh thoại - Như Bình, Tudi - HTT.