PDA

Xem bản đầy đủ : Tại Gia Bồ Tát Giới Kinh


BlackBlue
21-07-2009, 12:24
- Nhận thấy nghĩa lý không thể nghĩ bàn của bản kinh này, nay mình typing giới thiệu bộ kinh này đến các bạn đồng tu, mong rằng khi đọc và quán sát, Bồ Đề Tâm sẽ sinh sôi nảy nở. :x

- Nguồn tài liệu trích: http://www.bodetam.org/Vietnamese/DaiThuaKinhDien/TaiGiaBoTatGioiKinh/TaiGiaBoTatGioiKinh01.html

Tại Gia Bồ Tát Giới Kinh

(Ưu Bà Tắc Giới Kinh)

優婆塞戒經


Tam Tạng Pháp Sư Đàm Vô Sấm dịch Phạn Hán

Thích Tịnh Nghiêm dịch Hán Việt


Phẩm Một

Tập Hội


Tôi nghe như vầy, một thưở nọ Đức Phật ở Tịnh xá Cấp Cô Độc, trong rừng Kỳ Đà, tại nước Xá Vệ, cùng với một ngàn hai trăm năm mươi vị tỳ khưu tăng, năm trăm vị khưu ni, một ngàn ưu bà tắc, và năm trăm người ăn mày.

Lúc bấy giờ trong pháp hội có một vị trưởng giả tên Thiện Sinh, bạch với Đức Phật:
- Kính Bạch Đức Thế Tôn, phái ngoại đạo lục sư thường dạy rằng: “nếu mỗi buổi sáng kính lạy sáu phương, thì sẽ được sống lâu, giàu có. Vì sao? Cõi phương Đông thuộc về trời Đế Thích; nếu người nào cúng dường, sẽ được trời Đế Thích bảo hộ và giúp đỡ. Cõi phương nam thuộc về vua Diêm La; nếu người nào cúng dường, sẽ được vua Diêm La bảo hộ và giúp đỡ. Cõi phương Tây thuộc về trời Bà Lâu Na; nếu người nào cúng dường, sẽ được trời Bà Lâu Na bảo hộ và giúp đỡ. Cõi phương Bắc thuộc về trời Câu Tỳ La; nếu người nào cúng dường, sẽ được trời Câu Tỳ La bảo hộ và giúp đỡ. Cõi phương dười thuộc về Trời Lửa; nếu ai cúng dường, sẽ được Trời Lửa bảo hộ và giúp đỡ. Cõi phương trên thuộc về Trời Gió; nếu ai cúng dường, sẽ được Trời Gió bảo hộ và giúp đỡ.
- Kính bạch Đức Thế Tôn! trong Phật pháp cũng sáu phương như vậy chăng?

Đức Phật bảo Thiện Sinh:
- Trong Phật pháp cũng có sáu phương, tức là sáu pháp Ba La Mật. Phương Đông tức là Bố Thí Ba La Mật. Vì sao? Phươn Đông đại biểu sự mới bắt đầu của một ngày, đem đến ánh sáng chói lọi của trí tuệ. Phương đông lại thuộc về tâm chúng sinh. Nếu người nào cúng dường Bố Thí Ba La Mật, sẽ được sống lâu và giàu có. Phương Nam tức là trì giới Ba La Mật. Vì sao? Trì Giới Ba La Mật đại biểu phía mặt. Nếu người nào cúng dường, sẽ được sống lâu và giàu có. Phương Tây tức là nhẫn nhục Ba La Mật. Vì sao? Phương Tây thuộc về phía sau, tượng trưng cho tất cả pháp ác đều bị bỏ lại phía sau. Nếu người nào cúng dường, sẽ được sống lâu và giàu có. Phương Bắc tức là Tinh Tấn Ba La Mật. Vì sao? Phương Bắc tượng trưng cho sự chiến thắng các pháp ác. Nếu người nào cúng dường, sẽ được sống lâu và giàu có. Phương dưới tức là Thiền Định Ba La Mật. Vì sao? Vì xuyên qua thiền định, chúng sinh có thể quán sát chân chánh ba đường dữ. Nếu người nào cúng dường, sẽ được sống lâu và giàu có. Phương trên tức là Bát Nhã Ba La Mật. Vì sao? Vì trên tức là vô thượng, vô sinh. Nếu người nào cúng dường, sẽ được sống lâu và giàu có. Thiện Nam Tử! Sáu phương đều thuộc về tâm của chúng sinh, không phải như bọn ngoại đạo lục sư đã nói.

- Ai có thể cúng dường sáu phương như vậy?

- Thiện nam tử! Chỉ có Bồ Tát mới có thể cúng dường.

- Kính bạch Đức Thế Tôn! Do nghĩa gì mà gọi là Bồ Tát?
Đức Phật bảo Thiện Sinh:
- Người đã giác ngộ được gọi là Bồ Tát, người có tính giác ngộ được gọi là Bồ Tát

- Kính bạch Đức Thế Tôn! Nếu người đã giác ngộ được gọi là Bồ Tát, như vậy lúc chưa cúng dường sáu phương, thì thế nào được gọi là Bồ Tát? Nếu vì có tính giác ngộ mà được gọi là Bồ Tát, thì ai có tính ấy? Nếu như, người có tính này mới có thể cúng dường sáu phương, còn không có tính này không thể cúng dường. Đức Như Lại không thể nói là sáu phương thuộc về tâm chúng sinh.

- Thiện nam tử! Không phải được giác ngộ mà gọi là Bồ Tát. Vì sao? Người được giác ngộ thì gọi là Phật, còn trước khi giác ngộ thì gọi là Bồ Tát. Thiện nam tử! Tất cả chúng sinh không có tính giác ngộ, cũng như chúng sinh không có tính trời, người, sư tử cọp, sói, chó ,... Do trong đời này hoà hợp nhiều nhân duyên của nghiệp lành được thân người và trời; hoặc hoà hợp nhiều nhân duyên của nghiệp ác mà sinh vào loài báng sinh, như sư tử chẳng hạn. Bồ Tát cũng như vậy, do sự hoà hợp nhiều nhân duyên của nghiệp lành, lại phát tâm Bồ Đề, nên gọi là Bồ Tát. Giả sử có người nói rằng tất cả chúng sinh đều có tính Bồ Tát, nghĩa này không đúng. Vì sao? Nếu đã có tính Bồ Tát thì không cần tu tập nhưng nhân duyên nghiệp lành bằng cách cúng dường sáu phương.
- Thiện nam tử! Nếu chúng sinh đã có sẵn tính Bồ Tát, thì chắc không có người mới phát tâm cũng như có người thoái tâm. Do vô lượng nhân duyên nghiệp lành mà phát tâm Bồ Đề, nên mới gọi là có tính Bồ Tát.
- Thiện nam tử! (1) Có những chúng sinh tu theo ngoại đạo, vì không lý thuyết điên đảo của bọn họ mà phát Tâm Bồ Đề; (2) hoặc có chúng sinh ở nơi vắng lặng, nhờ nhân duyên thiện căn trong tâm mà phát Tâm Bồ Đề; (3) Hoặc có chúng sinh quán sát lỗi lầm của sinh tử mà phát Tâm Bồ Đề; (4) Hoặc có chúng sinh thấy nghe điều ác mà phát Tâm Bồ Đề; (5) Hoặc có chúng sinh biết rõ sự tham dục, sân hận, ngu si, bỏn sẻn ganh ghét của mình, vì muốn đối trị mà phát Tâm Bồ Đề; (6) Hoặc có chúng sinh thấy bọn tiên ngoại đạo có năm phép thần thông mà phát Tâm Bồ Đề; (7) Hoặc có chúng sinh muốn biết thế giới là hữu biện hay vô biên mà phát Tâm Bồ Đề; (8) Hoặc có chúng sinh thấy nghe cảnh giới không thể nghĩ bàn của Như Lai mà phát Tâm Bồ Đề; (9) Hoặc có chúng sinh khởi tâm thương xót cứu độ mọi loài mà phát Tâm Bồ Đề; (10) Hoặc có chúng sinh vì yêu mến mọi loài mà phát Tâm Bồ Đề.
- Thiện nam tử! Tâm giác ngộ có ba bậc: thượng, trung và hạ. Nếu chúng sinh quyết định có tính giác ngộ, sao lại nói có ba bậc? Chúng sinh bậc hạ có thể phát tâm bậc trung, chúng sinh bậc trung có thể phát tâm bậc thượng, chúng sinh bậc thượng có thể phát tâm bậc trung, và chúng sinh bậc turng có thể phát tâm bậc hạ. Chúng sinh siêng tu vô lượng pháp lành, có thể tăng lên bậc thượng, nếu không siêng tu sẽ sụt xuống bậc hạ. Nếu khéo tu tiến thì gọi là không thoái lui, nếu không khéo tu tiến thì gọi là thoái lui. Nếu trong tất cả thời gian thường vì tất cả chúng sinh tu tập hạnh lành thì gọi là người không thoái chuyển, ngược lại, thì gọi là người thoái chuyển; những Bồ Tát thoái chuyển gọi là người có tâm thoái lui, khiếp sợ . Nếu có người nào, trong tất cả thời gian vì tất cả chúng sinh mà tu pháp lành, được quả bĩ bất thoái, ta sẽ thọ ký người ấy nhất định không bao lâu sẽ được quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
- Thiện nam tử! Ba bậc giác ngộ không có tính nhất định, nếu có tính nhất định, thì người phát tâm Thanh Văn, Duyên Giác không thể phát Tâm Vô Thượng Bồ Đề.
- Thiện nam tử! Giống như chúng tăng không có tính nhất định, tính của ba bậc giác ngộ cũng thế. Nếu có người nói: “Giác ngộ có tính nhất định”, người đó là ngoại đạo. Vì sao? Vì bọn ngoại đạo không tin nhân quả, như Trời Tự Tại của họ, phủ nhận cả nhân lẫn quả.
- Thiện nam tử! Nếu có người nói tính Bồ Tát giống như tính của vàng, nhất định hiện hữu trong kim khoáng. Do sự tinh lọc mà hiển hiện được công dụng của vàng. Đây là lý thuyết của ngoại đạo Phạm Chí. Vì sao? Bọn Phạm Chí thường cho rằng torng hạt Ni Câu Đà, và trong tròng mắt có lửa và đá. Do đó bọn Phạm Chính thừa nhận không có nhân lẫn có quả. Nhân tức là quả, và quả tức là nhân. Hạt Ni Câu Đà đã có sẵn cây Ni Câu Đà. Đây là thuyết nhân quả của bọn Phạm Chí. Nhưng điều này không đúng. Vì sao? Nhân thì nhỏ mà quả thì to. Vả lại, nếu nói torng con mắt có lửa thì mắt sẽ bị đốt cháy, làm saocó thể thấy được.
- Thiện nam tử! Bọn Phạm chí nói rằng: ”Có tức là vĩnh viễn có, không tức là vĩnh viễn không, không chẳng thể sinh khởi, còn có thì vĩnh viễn không diệt,”. Nếu trong khoáng có tính của vàng, vàng không thể gọi là tính, và tính cũng không thể gọi là vàng.
- Thiện nam tử! Do nhiều nhân duyên nên có sự hoà hợp, vì hoà hợp nên trước vốn là không mà sau mới có. Nếu vậy, bọn Phạm Chí cho rằng: “Không tức vĩnh viễn không”, nghĩa này là thế nào? Lại như vàng hoà hợp với thuỷ ngân, vàng bị biến đổi. Nếu vậy, như bọn Phạm Chí cho rằng: “có thì vĩnh viển không diệt”, nghĩa này là thế nào? Nếu nói chúng sinh có sẵn tính Bồ Tát, đây là thuyết của ngoại đạo, không phải thuyết của đạo Phật.
- Thiện nam tử! Ví như do nhân duyên hoà hợp mà có tác dụng của vàng, tính Bồ Tát cũng giống như vậy. Chúng sinh có tâm tư duy, gọi là tâm mong cầu, dùng tâm mong cầu đó, cùng với nhân duyên thiện nghiệp mà phát Tâm Bồ Đề, như vậy là có tính Bồ Tát.
- Thiện nam tử! Ví nưh chúng sinh trước kia không có tâm giác ngộ, sau này mới có, tính Bồ tát cũng vậy. Trước không sau có. Thế nên không thể nói quyết định có tính Bồ Tát.
- Thiện nam tử! Bất cứ người nào cầu trí tuệ rộng lớn đều gọi là Bồ Tát. Bởi vì họ muốn biết sự chân thực của các pháp, vì muốn được sự trang nghiêm rộng lớn, vì muốn tâm được kiên cố, độ vô lượng chúng sinh, và vì không tiếc thân mệnh, nên gọi là Bồ Tát tu hành Đại Thừa.
- Thiện nam tử! Bồ Tát có hai hạng: một là thoái chuyển, hai là không thoái chuyển. Người dã tu tập nghiệp ba mươi hai tướng, gọi là không thoái chuyển; nếu chưa thể tu tập gọi là thoái chuyển. Lại có hai hạng: một là tại già, hai là xuất gia. Bồ tát xuất gia, phụng trì tám giới trọng, hoàn toàn thanh tịnh, gọi là Bồ Tát không thoái chuyển. Bồ Tát tại gia, phụng trì sáu giới trọng, hoàn toàn thanh tịnh, cũng gọi là Bồ Tát không thoái chuyển.
- Thiện nam tử! Phước đức của bọn ngoại đạo đoạn được tâm tham dục, thù thắng hơn phước đức của chúng sinh trong cõi dục giới; Tu Đà Hoàn thù thắng hơn bọn ngoại đạo dị kiến; Tư Đà Hàm thù thắng hơn Tu Đà Hoàn; A Na hàm thù thắng hơn Tư Đà Hàm; A La Hán thù thắng hơn A Na hàm; Bích Chi Phật thù thắng hơn A La Hán; người tại gia phát Tâm Bồ Đề lại càng thù thắng hơn Bích Chi Phật. Người xuất gia phát Tâm Bồ Đềkhông khó, người tại gia phát Tâm Bồ Đề quả thật không thể nghĩ bàn. Vì sao? Vì người tại gia bị nhiều ác duyên ràng buộc. Lúc người tại gia phát Tâm Bồ Đề, thì từ cõi trời Tứ Thiên Vương, cho đến cõi trời sắc cứu cánh, tất cả đều kinh ngạc vui mừng, nói như thế này: “Hôm nay chúng ta đã có được vị thầy của trời người”.

BlackBlue
21-07-2009, 13:23
Phẩm Hai


PHÁT TÂM BỒ ĐỀ


Thiện sinh bạch Phật:
- Kính bạch Đức Thế Tôn ! Chúng sinh vì sao phát Tâm Bồ Đề?


- Thiện nam tử!
(1) Vì hai việc nên phát Tâm Bồ Đề: một là tăng tuổi thọ, hai là thêm tài sản.
(2) Lại có hai việc: một là vì không muốn chủng tính Bồ Đề đoạn tuyệt, hai là muốn đoạn trừ phiền não tội khổ của chúng sinh.
(3) Lại có hai việc: một là quán sát mình trong vô lượng đời chịu bao nhiêu là khổ não mà vẫn không được lợi ích, hai là tuy có chư Phật xuất hiện nhiều nưh số cát sông Hằng các ngài cũng kh6ong thể độ thoát mình mà chính mình phải tự độ.
(4) Lại có hai việc: một là tu các nghiệp lành, hai là các nghiệp lành đã tu sẽ không mất.
(5) Lại có hai việc: một là muốn vượt hơn tất cả quả báo của trời người, hai là muốn vượt hơn tất cả quả báo của Nhị Thừa.
(6) Lại có hai việc: một là vì cầu đạo giác ngộ nên nhận chịu nhiều khổ não, hai là vì muốn vô lượng sự lợi ích rộng lớn.
(7) Lại có hai việc: một là quán sát chư Phật nhiều như các sông Hằng ở quá khứ, vị lai, đều giống mình, hai là quán sát thâm sâu rằng Bồ Đề là pháp có thể chứng được, vì thế phát tâm tu hành.
(8) Lại có hai việc: một là quán sát Bồ Tát lục trụ, tuy có tâm thoái chuyển, vẫn còn thù thắng hơn tất cả Thanh Văn, Duyên Giác, hai là siêng năng truy cầu quả vị Vô Thượng Chánh Giác.
(9) Lại có hai việc: một là mong tất cả chúng sinh đều được giải thoát, hai là mong quả báo giải thoát của chúng sinh vượt hơn quả báo của ngoại đạo.
(10) Lại có hai việc: một là không xả bỏ tất cả chúng sinh, hai là xa lìa tất cả phiền não.
(11) Lại có hai việc: một là vì đoạnt trừ khổ não của chúng sinh trong đời này, hai là vì ngăn chặn khổ đau của chúng sinh trong đời sau.
(12) Lại có hai việc: một là vì muốn đoạn trừ sự chướng ngại của trí tuệ, hai là vì muốn đoạn trừ thân chướng của chúng sinh. [1]
- Thiện nam tử! Do năm việc mà phát Tâm Bồ Đề: một là gần gũi bạn lành, hai là trừ tâm nóng giận, ba là tuân lời thầy dạy, bốn là sinh lòng thương xót, năm là tu hành tinh tiến. Lại có năm việc phát Tâm Bồ Đề: một là không thấy lỗi người, hai là tuy thấy lỗi người mà không nghĩ nhớ đến, ba là tuy làm việc lành vẫn không sinh lòng kiêu mạn, bốn là thấy người làm lành mà không sinh lòng ghen ghét, năm là quán sát tất cả chúng sinh tưởng như con một của mình.
- Thiện nam tử! Người trí sau khi phát Tâm Bồ Đề, có thể huỷ diệt nghiệp ác to như núi Tu Di. Người trí vì ba việc mà phát Tâm Bồ Đề: một là vì thấy chúng sinh thọ khổ trong đời ác năm trược, hai là vì thấy Đức Như Lai có thần thông không thể nghĩ bàn, ba là vì nghe thứ âm thanh vi diệu của Đức Như Lai.[2] Lại do hai việc: một là biết rõ sự khổ đau của thân mình, hai là hiểu rõ chúng sinh khổ như mình, vì muốn đoạn trừ sự khổ cho họ, cũng như trừ sự khổ cho chính mình.
- Thiện nam tử! Nếu có người phát Tâm Bồ Đề, phải biết người đó có thể lễ lạy sáu phương, và sẽ được sống lâu, giàu có. Điều này không giống như bọn ngoại đạo đã nói.

BlackBlue
21-07-2009, 15:49
Phẩm Ba


Tâm Đại Bi



Thiện sinh bạch Phật:
Kính bạch Đức Thế Tôn! Bọn ngoại đạo Lục sư không nói nhân quả, Đức Như Lai lại nói nhân có hai thứ: một là sinh nhân hai là liễu nhân. Như Đức Thế Tôn vừa nói, nguyên nhân phát Tâm Bồ Đề là sinh nhân hay liễu nhân?

Thiện nam tử! Ta vì chúng sinh, hoặc nói một nhân, hai nhân, ba nhân, bốn nhân, năm hoặc nói sáu nhân, bảy cho đến mười hai nhân.

Nói một nhân tức là sinh nhân
Nói hai nhân tức là sinh nhân và liễu nhân.
Ba nhân là phiền não nghiệp chướng và khí thế giới.
Bốn nhân tức là bốn đại.
Năm nhân tức là năm chi vị lai của mười hai nhân duyên.
[3] Sáu nhân như trong khế kinh đã nói.
Bảy nhân như trong kinh Pháp Hoa đã nói.
Tám nhân tức là tám chi hiện tại của mười hai nhân duyên.
[4] Chín nhân như trong kinh Đài Thành đã nói.
Mười nhân, như Đức Như Lai đã giảng cho ưu bà tắc Ma Nam.
Mười một nhân như trong kinh Trí ấn đã nói.
Mười hai nhân tức là mười hai nhân duyên.

Thiện nam tử! Tất cả pháp hữu lậu có vô lượng vô biên nhân. Tất cả pháp vô lậu cũng có vô lượng vô biên nhân. Người trí vì muốn biết tất cả nên phát Tâm Bồ Đề. Đức Như Lai vì biết tất cả nên gọi là Nhất Thiết Trí.

Thiện nam tử! Tất cả chúng sinh phát Tâm Bồ Đề, hoặc do sinh nhân, hoặc do liễu nhân, hoặc do cả hai. Nay ông nên biết, sinh nhân tức là Tâm Đại Bi, vì Tâm Đại Bi nên mới phát Tâm Bồ Đề, vì thế Tâm Đại Bi là sinh nhân.

Kính bạch Đức Thế Tôn! Làm thế nào tu tập Tâm Đại Bi?

Thiện nam tử!
(1)Người trí thấy rõ tất cả chúng sinh bị chìm đắm trong biển lớn sinh tử chịu nhiều khổ não, vì muốn cứu vớt nên sinh Tâm Đại Bi.
(2)Lại thấy chúng sinh chưa được mười lực, bốn pháp Vô Uý, Tâm Đại Bi, ba Niệm, [5], bèn nghĩ như vầy: “Ta làm thế nào để cho họ được đầy đủ”, nên sinh Tâm Đại Bi.
(3)Lại thấy chúng sinh lòng đầy oán thù cay độc mà vẫn xem họ như người thân thuộc, nên sinh Tâm Đại Bi.
(4)Lại thấy chúng sinh mê mờ Chánh Đạo, không có người dẫn dắt, nên sinh Tâm Đại Bi.
(5)Lại thấy chúng sinh bị chìm đắm trong vũng bùn ngũ dục, không cách nào ra khỏi, mà lại còn buông lung phóng dật, nên sinh Tâm Đại Bi.
(6)Lại thấy chúng sinh thường bị của cải, vợ con ràng buộc, không thể xả bỏ, nên sinh Tâm Đại Bi.
(7)Lại thấy chúng sinh do sắc đẹp, sức mạnh, sống lâu mà sinh lòng kiêu mạn, nên sinh Tâm Đại Bi.
(8)Lại thấy chúng sinh bị ác trí thức, như bọn Lục sư chẳng hạn dối gạt mà vẫn tưởng là quyến thuộc, nên sinh tâm Đại Bi.
(9)Lại thấy chúng sinh trong ba cõi tuy chịu nhiều khổ não mà vẫn tham luyến, nên sinh Tâm Đại Bi.
(10)Lại thấy chúng sinh tạo nghiệp thân khẩu ý xấu xa, độc ác, nhân đây chịu nhiều quả báo khổ não, mà vẫn mê mụi, nên sinh Tâm Đại Bi.
(11)Lại thấy chúng sinh thèm khát ngũ, như người uống khát nước mặn, nên sinh Tâm Đại Bi.
(12)Lại thấy chúng sinh tuy muốn cầu vui mà không tạo nhân vui, tuy không thích khổ mà ưa gây nhân khổ, muốn hưởng cảnh vui cõi trời mà thiếu giới hạnh, nên sinh Tâm Đại Bi.
(13)Lại thấy chúng sinh đối với ngã, ngã sở, mà tưởng là ngã, ngã sở, nên sinh Tâm Đại Bi.
(14)Lại thấy chúng sinh lưu chuyển trong năm cõi nên sinh Tâm Đại Bi.
(15)Lại thấy chúng sinh sợ sinh, già, bệnh, chết mà lại tạo nhân sinh, già, bệnh, chết, nên sinh Tâm Đại Bi.
(16)Lại thấy chúng sinh thân tâm chịu nhiều thống khổ mà vẫn tạo nghiệp, nên sinh Tâm Đại Bi.
(17)Lại thấy chúng sinh đau khổ khi ân ái chia lìa, mà vẫn không chịu dứt sự ân ái, nên sinh Tâm Đại Bi.
(18)Lại thấy chúng sinh ở trong sự tăm tối của vô minh, mà không biết thắp sáng đèn trí tuệ, nên sinh Tâm Đại Bi.
(19)Lại thấy chúng sinh bị lửa phiền não đốt cháy, mà không chịu cầu nước thiền định tam muội, nên sinh Tâm Đại Bi.
(20)Lại thấy chúng sinh vì thú vui ngũ dục mà tạo vô lượng nghiệp ác, nên sinh Tâm Đại Bi.
(21)Lại thấy chúng sinh tuy biết sự thống khổ của ngũ dục mà vẫn cầu mãi không thôi, như người đói ăn cơm có thuốc độc, nên sinh Tâm Đại Bi.
(22)Lịa thấy chúng sinh ở trong đời ác, gặp vua bạo ngược, chịu nhiều khổ sở, mà vẫn buông lung, nên sinh Tâm Đại Bi.
(23)Lại thấy chúng sinh lưu chuyển trong tám cảnh khổ, nhưng vẫn không biết cách đoạn trừ gốc khổ, nên sinh Tâm Đại Bi.
(24)Lại thấy chúng sinh đối với cảnh đói khát, lạnh nóng, không được tự tại, nên sinh Tâm Đại Bi.
(25)Lại thấy chúng sinh huỷ phạm giới luật, bị đoạ địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, nên sinh Tâm Đại Bi.
(26)Lại thấy chúng sinh hình dáng, sức lực tuổi thọ, an ổn và biện tài, không được tự tại, nên sinh Tâm Đại Bi.
(27)Lịa thấy chúng sinh thân thể tàn khuyết, nên sinh Tâm Đại Bi.
(28)Lại thấy chúng sinh, sinh ở nơi biên địa, không tu pháp lành nên sinh Tâm Đại Bi.
(29)Lại thấy chúng sinh, sinh nhằm đời đói khát, thân thể ốm gầy, cướp đoạt lẫn nhau, nên sinh Tâm Đại Bi.
(30)Lại thấy chúng sinh, sinh trong kiếp đoa binh, giết hại lẫn nhau, lòng ác độc hừng hẫy, sẽ chịu vô lượng quả báo khổ, nên sinh Tâm Đại Bi.
(31)Lại thấy chúng sinh gặp Phật ra đời, nói Pháp thanh tịnh như mùi vị Cam Lồ, mà không biết tu học, nên sinh Tâm Đại Bi.
(32)Lại thấy chúng sinh tin thầy tà, bạn ác, không chịu nghe lời thầy hay bạn lành, nên sinh Tâm Đại Bi.
(33)Lại thấy chúng sinh giàu có, của cải tràn đầy, mà không chịu bố thì, nên sinh Tâm Đại Bi.
(34)Lại thấy chúng sinh cày sâu, cuốc bẫm, buôn tảo bán tần, nhọc nhắn gian khổ, nên sinh Tâm Đại Bi.
(35)Lại thấy chúng sinh, cha mẹ, anh em, vợ con, tôi tớ, không thương mến nhau, nên sinh Tâm Đại Bi.
(36)Thiện nam tử! Người trí nên quán sát sự vui thiền định của cõi trời phi tưởng phi phi tưởng, giống như sự khổ địa ngục, mà tất cả chúng sinh đều phải nhận chịu, nên sinh Tâm Đại Bi.

Thiện nam tử!
(1)Trước khi đắc đạo, quán sát như thế, gọi là Tâm Bi; nếu đã đắc đạo, gọi là Tâm Đại Bi. Vì sao? Lúc chưa đắc đạo, dù có quán sát, sự quán sát chỉ có giới hạn, chúng sinh cũng có giới hạn, cho nên gọi Tâm Bi; khi đã đắc đạo, sự quán sát cùng chúng sinh đều vô hạn, nên gọi là Tâm Đại Bi.
(2)Hơn nữa, lúc chưa đắc đạo, Tâm Bi vẫn còn sự lay chuyển, thế nên gọi là Tâm Bi; khi đã đắc đạo, Tâm Bi không còn bị lay chuyển, nên gọi là Tâm Đại Bi.
(3)Khi chưa đắc đạo, không thể cứu vớt tất cả chúng sinh, nên gọi là Tâm Bi; khi đã đắc đạo, có thể cứu vớt tất cả, nên gọi là Tâm Đại Bi.
(4)Lúc chưa đắc đạo, Tâm Bi chưa tương ưng với trí tuệ; nên gọi là Tâm Bi; khi đã đắc đạo, Tâm Bi tương ưng với trí tuệ, nên gọi là Tâm Đại Bi.
Thiện nam tử! Ngưởi trí tu Tâm Đại Bi, tuy chưa thể đoạn trừ khổ não của chúng sinh, đã có vô lượng lợi ích.

Thiện nam tử! Sáu pháp Ba La Mật đều lấy Tâm Đại Bi làm gốc.
Thiện nam tử! Bồ Tát có hai hạng: một là Bồ Tát xuất gia, hai là Bồ Tát tại gia. Bồ Tát xuất gia tu tập Tâm Đại Bi không khó, Bồ Tát tại gia tu tập Tâm Đại Bi mới khó. Vì sao? Vì người tại gia bị nhiều ác duyên ràng buộc.
Thiện nam tử! Người tại gia nếu không tu tập Tâm Đại Bi, không thể đắc giới Ưu Bà Tắc. Sau khi tu tập Tâm Đại Bi, sẽ được đắc giới.
Thiện nam tử! Bậc xuất gia chỉ có thể tu trọn vẹn năm pháp Ba La Mật, không thể tu trọn vẹn Bố Thí Ba La Mật. Người tại gia thì có thể tu trọn cả sáu Pháp. Vì sao? Vì họ trong tất cả thời gian, có thể tu tập Bố Thí tất cả. VÌ thế, người tạ gia trước tiên phải tu Tâm Đại Bi. Nếu đã tu tập Tâm Đại Bi, người đó sẽ được đầy đủ trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định và trí tuệ. Nếu tu tập Tâm Đại Bi, vật khó Bố Thí có thể Bố Thí, điều khó nhẫn nhịn, có thể nhẫn nhịn, những việc khó làm đều có thể làm.

Do đây biết rằng, đều lấy Tâm Đại Bi làm gốc.
Thiện nam tử! Nếu có người tu tập Tâm Đại Bi như vậy, phải biết rằng người ấy có thể phá tan nghiệp ác to như núi Tu Di, không bao lâu sẽ chứng quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Người ấy dù tu chút thiện, thì sẽ được quả lành như núi Tu Di.

NguonDao
21-07-2009, 17:39
Bạch Thầy và thưa các Huynh: con chưa thụ Bồ tát giới có được đọc bài này không ạ?

BlackBlue
21-07-2009, 20:16
Phẩm Bốn


Giải Thoát



- Thiện nam tử! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân tu hành Đại Bi, phải biết người ấy được một pháp thể, gọi là giải thoát phần.


- Kính bạch Đức Thế Tôn! Cái gọi là pháp thể đó nghĩa là gì?


- Thiện nam tử! Pháp thể đó, nghĩa là thân khẩu ý. Thân khẩu ý này từ phương tiện mà có được. Phương tiện có hai loại: một là tai nghe, hai là suy nghĩ. Lại có ba loại: một là bố thí, hai là giữ giới, ba là nghe nhiều Phật Pháp.


- Kính bạch Đức Thế Tôn! Như Thế Tôn đã nói, từ ba phương tiện được giải thoát phần> .Nếu vậy, ba phương tiện đó có số lượng nhất định không?


- Thiện nam tử! Không có số lượng nhất định. Vì sao? Có người ở trong vô lượng đời, đem vô lượng của cải, bố thì cho vô lượng chúng sinh, mà vẫn không được giải thoát phần; lại có người chỉ trong một lần, đem một nắm bột bố thí cho kẻ ăn mày, mà lại được giải thoát phần. Có người ở nơi vô lượng Phật thọ trì giới luật, mà vẫn không được giải thoát phần; lại có người chỉ trong một ngày đêm thọ trì tám giới mà lại được giải thoát phần. Có người trong vô lượng đời, ở nơi vô lượng Phật, thọ trì đọc tụng mười hai phần giáo, mà vẫn không được giải thoát phần; lại có người đọc bài kệ chỉ bốn câu, mà lại được giải thoát phần. Vì sao? Vì tâm của chúng sinh không giống nhau.
Thiện nam tử! Nếu có người không thể nhất tâm quán sát tội lỗi của sinh tử, cùng sự an lạc của Niết Bàn, những người như vậy, tuy đầy đủ bố thí, giữ giới, nghe nhiều Phật Pháp, chung cuộc cũng không được giải thoát phần. Nếu như có thể nhàm lìa tội lỗi của sinh tử, thấy rõ công đức an lạc của Niết Bàn. Những người như vậy, tuy ít bố thí, ít trì giới, ít nghe Phật Pháp, mà vẫn có thể được giải thoát phần.
Thiện nam tử! Hành giả ở trong ba trường hợp có thể được giải thoát phần: một là lúc Phật xuất thế, hai là lúc Bích Chi Phật xuất thế, ba là lúc không có Phật hoặc Bích Chi Phật xuất thế, thì lúc vị trời sắc cứu cánh nói pháp giải thoát, người ấy nghe xong, liền được giải thoát phần.
Thiện nam tử! Ta lúc xa xưa khi mới phát Tâm, tuy không gặp Phật hoặc Bích Chi Phật, nhưng được nghe Trời Tịnh Cư nói Pháp giải thoát, nghe xong ta liền phát Tâm Bồ Đề.
Thiện nam tử! Pháp giải thoát như vậy, không phải các trời cõi dục có thể chứng được. Vì sao? Vì họ buông lung theo ngũ dục. Cũng không phải các trời cõi sắc có thể chứng được. Vì sao? Vì họ không có ba phương tiện. Lại cũng chẳng phải là chỗ chứng ngộ của cõi trời vô sắc. Vì sao? Vì họ không có thân, khẩu mà pháp thể ấy chính là thân khẩu ý. Người ở Châu Bắc Câu Lô cũng không chứng được. Vì sao? Vì họ không có ba phương tiện. Chỉ có ba hạng người được giải thoát phần, tưc là Thanh Văn, Duyên Giác, và Bồ Tát. Chúng sinh nếu gặp được thiện tri thức, thì có thể chuyển đổi từ giả thoát Thanh Văn thành giải thoát Bích Chi Phật, chuyển đổi Bích Chi Phật thành giải thoát Bồ Tát. Giải thoát phần của Bồ Tát thì không còn bị chuyển đổi và hư hoại.


- Kính bạch Đức Thế Tôn! Người thuyết pháp làm thế nào để phân biệt rõ người nào được giải thoát phần, người nào chưa được giải thoát phần?


- Thiện nam tử! Có hai hạng người được giải thoát phần, tức là Bồ Tát tại gia và Bồ Tát xuất gia. Hai hạng người đó chí tâm nghe Pháp, nghe xong liền thọ trì. Nghe sự khổ của ba đường ác, tâm sinh sợ hãi, lông tóc dựng đứng, nước mắt tuôn trào, phát lòng kiên quyết thọ trì trai giới, cho đến tội rất nhỏ cũng không dám phạm. Nên biết người ấy là người được giải thoát phần.
Thiện nam tử! Bọn ngoại đạo tuy được thiền định phi tưởng phi phi tưởng, sống lâu vô lượng kiếp, nếu như không được giải thoát phần, nên quán sát họ như người cõi địa ngục. Lại nếu có người, tuy ở địa ngục A Tỳ, lâu vô lượng kiếp, chịu tất cả sự thống khổ khốc liệt nhất, nếu được giải thoát phần, nên quán sát người ấy như người cõi Niết Bàn.
- Thiện nam tử! Vì thế ta đối với ông Uất Đầu Lam Phất sinh tâm thương xót, còn đối với ông Đề Bà Đạt Ba thì không lo lắng gì cả.
Thiện nam tử! Như ông Xá Lợi Phất, trong sáu vạn kiếp cầu đạo Bồ Đề, sở dĩ bị thoái chuyển là vì chưa được giải thoát phần, dù thế, căn cơ vẫn còn hơn hàng duyên giác lợi căn.
Thiện nam tử! Giải thoát phần có ba bậc: hạ, trung và thượng. Bậc hạ là Thanh Văn, bậc Trung là Duyên Giác, bậc Thượng tức là chư Phật.
Thiện nam tử! Có người chuyên cần cầu giới Ưu Bà Tắc, trong vô lượng kiếp, tuy y như điều đã nghe mà thực hành, mà vẫn không được giới. Có người xuất gia cầu giới Tỳ Khưu, giới Tỳ Khưu Ni, trong vô lượng kiếp, tuy y như điều đã nghe mà thực hành, mà cũng chẳng được giới. Vì sao? Vì không được giải thoát phần. Họ chỉ có thể được gọi là tu tập giới luật, mà không thể gọi là nghiêm trì giới luật.

Thiện nam tử! Các vị Bồ Tát được giải thoát phần, tuy không còn tạo nghiệp sinh vào ba cõi, mà vẫn thường nguyện sinh vào các cõi có thể làm được lợi ích cho chúng sinh. Nếu biết chắc mình có nghiệp sinh về cõi trời, liền hồi hướng nghiệp ấy cầu sinh cõi người. Nghiệp ấy chính là Bố Thí, Trì Giới, Tu Định.

Thiện nam tử! Nếu như Thanh Văn được giải thoát phần, không quá ba đời sẽ được giải thoát. Bậc Bích Chi Phật cũng thế. Các vị Bồ Tát được giải thoát phần, dù trải qua vô lượng thân, nhưng luôn luôn không thoái chuyển. Tâm không thoái chuyển này vượt hẳng Thanh Văn, Duyên Giác.

Thiện nam tử! Nếu được giải thoát phần, tuy ít bố thí mà vẫn được vô lượng ủa báo. Ít trì giới, ít nghe pháp cũng giống như vậy. Người ấy giả sử ở trong ba đường ác, cũng không giống chúng sinh torng ba cõi ấy thọ khổ. Nếu các vị Bồ Tát được giải thoát phần như vậy thì được gọi là Điều Nhu Địa. Vì sao gọi là Điều Nhu Địa? Vì tất cả phiền não từ từ trở nên yếu thế. Đây cũng được gọi là ngược dòng sinh tử.
Thiện nam tử! Có bốn hạng người: một là thuận dòng sinh tử, hai là nghịch dòng sinh tử, ba là không thuận không nghịch, bốn là đến bờ bên kia.
Thiện nam tử! Giải thoát phần này, đối với hàng Thanh Văn, gọi là Nhu Nhuyễn Địa; đối với Bồ Tát cũng gọi là Nhu Nhuyễn Địa, lại gọi là Hoan Hỉ Địa. Vì nghĩa sao mà gọi là Hoan Hỉ Địa? Vì nghe pháp nên không thoái chuyển. Lại còn gọi là Bồ Tát chân thực. Vì nghĩa nào mà gọi là Bồ Tát chân thực? Vì làm cho chúng sinh khởi tâm giác ngộ. Các vị Bồ Tát đó tuy biết rõ sách vở ngoại đạo, tự mình không thọ trì, cũng không dạy cho người khác. Họ không được gọi là người hoặc trời, cũng không thuộc vào năm nẻo. Đây gọi là tu hành đạo không chướng ngại.

Thiện nam tử! Tâm Bồ Đề có bốn hạt giống: một là không tham của cải, hai là không tiếc thân mệnh, ba là tu hạnh nhẫn nhục, bốn là thương xót chúng sinh.
Thiện nam tử! Có năm việc làm tăng trưởng hạt giống Bồ Đề: Một là không nên tự khinh, cho rằng mình không thể được quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác; hai là thọ khổ, tâm không hối hận; ba là siêng năng tu hành, chưa từng ngơi nghỉ; bốn là cứu vớt chúng sinh đang chịu vô lượng khổ não; năm là thường ca ngợi công đức vi diệu của Tam Bảo. Người trí khi tu tập Tâm Bồ Đề, thường nên tu tập năm việc trên.
Lại có sáu pháp làm cho hạt giống Bồ Đề nảy nở tốt tươi, tức là Bố Thí Ba La Mật, cho đến Bát Nhã Ba La Mật. Sáu pháp Ba La Mật này, do vì một việc mà được tăng trưởng, đó là sự không phóng dật. Bồ Tát nếu phóng dật, sẽ không tăng trưởng sáu pháp Ba La Mật này. Nếu không phóng dật thì sẽ tăng trưởng.
Thiện nam tử! Bồ Tát khi cầu Bồ Đề, lại có bốn việc:
(1)Một là gần gũi bạn lành.
(2)Hai là Tâm bền chắc không lay chuyển.
(3)Ba là có thể làm những hạnh khó làm.
(4)Bốn là thương sót chúng sinh.
Lại có bốn việc:
(1)Một là thấy người khác được lợi ích, tâm sinh vui mừng.
(2)Hai là thường vui vẻ, khen ngợi công đức người khác.
(3)Ba là thường thích tu tập pháp lục niệm.
(4)Bốn là thường nói lỗi lần sinh tử.
Thiện nam tử! Thật là phi lý nếu có người cho rằng không có tám pháp này mà được Bồ Đề.
Thiện nam tử! Bồ Tát khi vừa phát Tâm Vô Thượng Bồ Đề, liền được gọi là ngôi phước điền vô thượng. Vị Bồ Tát đã vượt lên tất cả sự vật thế gian và chúng sinh.
Thiện nam tử! Tuy có người nói rằng trong vô lượng thế giới có vô lượng Phật, nhưng Phật đạo rất khó thành tựu. Vì sao? Thế giới vô biên, chúng sinh vô biên, nên chư Phật cũng vô biên. Giả sử Phật đạo dễ thành, chỉ một Đức Phật Thế Tôn cũng có thể hoá độ tất cả chúng sinh, và như vậy thì thế giới và chúng sinh là có hạn lượng.
Thiện nam tử! Lúc Đức Phật ra đời có thể độ chín na do tha chúng sinh; mỗi một vị đệ tử Thanh Văn của Đức Phật độ một na do tha chúng sinh, mà số chúng sinh không thể độ hết được, vì thế gọi là vô biên. Do đó, torng kinh Thanh Văn, ta nói không có mười phương chư Phật. Vì sao? Vì sợ các chúng sinh xem thường Phật Đạo. Thánh đạo của chư Phật không nằm trong các Pháp thế gian. Nên biết, lời của Như Lai không phải hư vọng, Như Lai không có tâm ghen ghét, chỉ vì Phật Đạo khó thành, nên nói là không có chư Phật ở mười phương.
Thiện nam tử! Vô lượng chúng sinh phát Tâm Bồ Đề, mà không thể tu hành thành tựu đạo Bồ Tát. Nếu có người hỏi: “Nếu hiện tại có vô lượng chư Phật, tại sao torng kinh chỉ nói hai đời quá khứ và vị lai có vô lượng Phật mà không nói hiện tại có vô lượng Phật?”.
Thiện nam tử! Ta nói rằng trong một thế giới, thì đời quá khứ và vị lai có vô lượng Phật, còn đời hiện tại chỉ có một Đức Phật.
Thiện nam tử! Người nào hiểu thấu rõ nghĩa chân thực sẽ thành tựu Phật Đạo. Tuy vô lượng chúng sinh tu hành Phật Đạo, phần lớn đều thoái chuyển. Nếu có một người thành tựu giải thoát, người đó hiếm có, như hoa yêm la kết trái, và như trứng cá chuyển biến thành cá lớn.
Thiện nam tử! Bồ Tát có hai dạng: một là tại già, hai là xuất gia. Bồ Tát xuất gia được giải thoát phần, điều này không khó. Bồ Tát tại gia được giải thoát phần, điều này mới khó. Vì sao? Vì người tại gia bị nhiều ác duyên ràng buộc.

BlackBlue
22-07-2009, 10:25
Phẩm Năm


Ba Loại Bồ Đề



Thiện Sinh bạch Phật:
Kính bạch Đức Thế Tôn! Như Đức Thế Tôn đã nói, Bồ Tát có hai hạng: một là tại gia, hai là xuất gia. Bồ Đề có ba loại: Thanh Văn Bồ Đề, Duyên Giác Bồ Đề, và Phật Bồ Đề. Nếu thành tự Bồ Đề thì gọi là Phật, tại sao Thanh Văn, Bích Chi Phật không gọi là Phật? Nếu người giác ngộ pháp tính được gọi Phật, Thanh Văn, Duyên Giác, cũng giác ngộ pháp tính, tại sao không được gọi là Phật? Nếu người chứng được Nhất Thiết Trí được gọi là Phật, Thanh Văn, Duyên Giác cũng chứng được Nhất Thiết Trí, tại sao không được gọi là Phật? Ở đây nói Nhất Thiết Trí là Bốn Thánh Đế.

Thiện nam tử! Bồ Đề có ba loại: một là từ sự nghe pháp mà chứng ngộ, hai là từ sự suy tư mà chứng ngộ, ba là từ sự tu hành mà chứng ngộ. Thanh Văn từ sự nghe pháp mà chứng ngộ, nên không gọi là Phật, Bích Chi Phật từ sự suy tư mà chứng ngộ ít phần, nên gọi là Bích Chi Phật. Chư Phật là bậc không thầy, cũng không nhờ nghe pháp, hoặc suy tư, mà do sự tu hành mà giác ngộ tất cả, thế nên gọi là Phật.
Thiện nam tử! Vì thấu rõ pháp tính, nên gọi là Phật. Pháp tính có hai loại: một là tổng tướng, hai là biệt tướng. Hàng Thanh Văn chỉ biết tổng tướng, nên không gọi là Phật. Bích Chi Phật, tuy đồng với hàng Thanh Văn, biết tổng tướng nhưng chẳng phải do sự nghe pháp, nên gọi là Bích Chi Phật. Đức Như Lai thấu rõ tất cả tổng tướng và biệt tướng. Không do sự nghe pháp, suy tư, không nương vào thầy, chỉ nương vào sự tu hành mà giác ngộ.
Thiện nam tử! Đức Như Lai Thế Tôn trí tuệ viên mãn, biết tất cả các pháp. Thanh Văn, Duyên Giác tuy biết rõ Bốn Thánh Đế, nhưng trí tuệ chưa viên mãn, do nghĩa này nên không gọi là Phật. Đức Như Lai Thế Tôn biết tất cả pháp, nên gọi là Phật.


Thiện nam tử! Như ba con thú: Thỏ, Ngựa và Hương Tượng, lội qua sông Hằng. Chân Thỏ không chạm đến đáy sông, nổi trên mặt nước mà bơi. Chân Ngựa thì có luc chạm đến đáy sông, có lúc không chạm. Chân Hương Tượng thì lúc nào cũng chạm đến đáy sông. Ở đây sông Hằng tượng trưng cho mười hai nhân duyên. Khi hàng Thanh Văn vượt qua sông mười hai nhân duyên, cũng giống như thỏ qua sông; khi hàng Duyên Giác vượt qua, cũng giống như ngựa qua sông; Khi Đức Như Lai vượt qua, cũng giống như loài Hương Tượng qua sông. Vì thế Đức Như Lai được gọi là Phật. Thanh Văn, Duyên Giác tuy đoạn được phiền não, nhưng chưa đoạn được tập khí. Còn Đức Như Lai đã nhổ tận gốc phiền não và tập khí, nên gọi là Phật.
Thiện nam tử! Sự nghi có hai loại: một là phiền não nghi, hai là vô ký nghi. Hàng nhị thừa tuy đoạn được phiền não nghi, nhưng chưa đoạn được vô ký nghi. Như Lai đoạn hết cả hai sự nghi, nên gọi là Phật.
Thiện nam tử! Thanh Văn chán sự nghe nhiều, Duyên Giác nhàm sự nghĩ sâu, chỉ có Đức Phật đối với hai việc này, tâm không nhàm chán, bởi thế nên gọi Phật. Ví như vật sạch để trong đồ đựng sạch, trong ngoài đều sạch. Thanh Văn, Duyên Giác, trí tuệ thanh tịnh, nhưng thân tâm không thanh tịnh. Như Lai không phải thế, Trí tuệ và thân tâm đều thanh tịnh, thế nên gọi là Phật.
Thiện nam tử! Sự thanh tịnh có hai loại: một là trí tuệ thanh tịnh, hai là đức hạnh thanh tịnh. Thanh Văn, Duyên Giác, tuy có trí tuệ thanh tịnh, nhưng đức hạnh không thanh tịnh.
Đức Như Lại Thế Tôn, trí tuệ và đức hạnh đều thanh tịnh, nên gọi là Phật.
Thiện nam tử! Công hạnh của Thanh Văn, Duyên Giác có giới hạn, còn công hạnh của Đức Như Lại Thế Tôn không có giới hạn, nên gọi là Phật.
Thiện nam tử! Đức Như Lai Thế Tôn, trong một niệm trừ diệt hai chướng: một là trí chướng, hai là giải thoát chướng, thế nên gọi là Phật. Đức Như Lai đầy đủ trí nhân và trí quả, thế nên gọi là Phật.


Thiện nam tử! Như Lai nói pháp, không có hai lời cũng không lầm lẫn, trí tuệ vô ngại, biện tài vô ngại, đầy đủ nhân trí, thời trí và tướng trí. Như Lai không có che dấu, không cần ai che chở, cũng không ai có thể nói lỗi. Như Lai biết hết phiền não của chúng sinh, nhân duyên khởi phiền não, cùng nhân duyên diệt phiền não. Như Lai không bị tám pháp thế gian làm ô nhiễm, và có lòng thương thấm thiết, cứu vớt chúng sinh khổ não. Như Lai đầy đủ mười lực, bốn pháp Vô Uý, tâm Đại Bi, ba niệm, cùng sức lực của thân tâm thảy đều viên mãn.


Thiện nam tử! Sức lực của thân tâm đều viên mãn là thế nào? Ví như Trời Đạo Lợi, có một thành lớn tên là Thiện Kiến. Thành ấy bề rộng, mười vạn dặm, có trăm vạn cung điện. Số các vị trời ở trong thành có đến mười triệu sáu trăm sáu mươi ngàn sáu trăm sáu mươi sáu. Trong ba tháng mùa hạ, vua Đế Thích muốn đến rừng Ba Lợi Chất Đa du ngoạn. Trên núi Kiền Đà, có con Hương Tượng bảy đầu tên là Y La Bát Na. Vua Đế Thích vừa động niệm, thì voi kia đã biết, và liền đến chỗ Đế Thích. Tất cả vị trời người trong thành, đều ngồi trên đầu của voi mà đến rừng Ba Lợi Chất Đa, cách thành khoảng năm mươi do tuần, du ngoạn. Sức mạnh của voi Y La Bát Na hơn sức mạnh của tất cả Hương Tượng. Giả sử tu tập một vạn tám ngàn thớt voi như Y La Bát Na, sức mạnh đó chẳng qua chỉ bằng sức lực của một lóng tay của Đức Phật. Phải nên biết rằng, sức mạnh của thân Phật mạnh hơn sức lực của tất cả chúng sinh. Thế giới không ngằn mé, chúng sinh không ngằn mé, tâm lực của Đức Như Lai cũng không ngằn mé. Bổi vậy chỉ có Đức Như Lai được tôn xưng là Phật, mà chẳng phải hàng Nhị Thừa có thể được xưng là Phật.


Và cũng vì thế mà Đức Như Lai được tôn xưng là bậc Vô Thượng Sư, bậc Đại Trượng Phu; là Hương Tượng, Sư Tử, Long Vương trong loài người; là bậc Điều Ngự, bậc Đạo Sư, bậc Đại Thuyên Sư, bậc Đại Y Sư, là vua trong loài Đại Ngưu, là Ngưu Vương trong loài người, cũng gọi là Liên Hoa Thanh Tịnh, là bậc Không Thầy Tự Ngộ, làm Nhạn Mục cho chúng sinh. Lại cũng gọi là bậc Đại Thí Chủ, Đại Sa Môn, Đại Bà La Môn. Là Bậc Trì Giới, tâm trí tịch tĩnh, tinh tiến tu hành, đã đến bờ bên kia, và đạt đến giải thoát.
Thiện nam tử! Hàng Thanh Văn, Duyên Giác tuy đã được Bồ Đề, đều không được nhưng việc như trên. Bởi thế, chỉ có bậc đầy đủ đức hạnh như trên mới được tôn xưng là Phật.


Thiện nam tử! Bồ Tát có hai hạng: một là tại gia, hai là xuất gia. Bồ Tát xuất gia phân biệt ba loại Bồ Đề không khó. Bồ Tát tại gia phân biệt ba loại Bồ Đề, điều này mới khó. Vì sao? Vì người tại gia bị nhiều ác duyên ràng buộc.


Bồ đề: Là trí giác. Tất cả mọi loài đều có; nhưng ở phàm phu thì bị dục vọng, che mờ, không hiển lộ mà thôi.

Pháp tính: Thể tánh chân thật của các pháp (mỗi sự, mỗi vật).

Bốn đế: Khổ, Tập, Diệt, Đạo, là bốn chân lý muôn đời không ai có thể sửa đổi; kiến lập trên nền tảng nhân quả xuất thế. Đức Phật chỉ kết quả trước, mới nói nguyên nhân sau. Và như thế, người đời mới tin.

Tổng tướng: Tướng trạng do năm ấm hoà hợp (Sắc, Thọ Tưởng, Hành, Thức), Thinh văn hay Bích Chi Phật chỉ biết được tướng tổng quát, do năm ấm kết hợp (ta hay người) không có tự thể riêng biệt chân thật, vì trí huệ còn hẹp hòi, nên không thấy đến từng phần trong năm ấm.

Biệt tướng: Mỗi tướng riêng của năm ấm, như: Sắc chất có trạng thái riêng của sắc chất; cho đến thọ, tưởng, hành, thức cũng đều có tướng riêng. Nếu biết được mỗi tướng ấy cũng là giả hợp không thật, ấy là Biệt tướng trí. Trí này chỉ có bực toàn giác (Phật) mới có.

Phiền não nghi: Nghi, là một ở trong sáu thứ phiền não cội gốc. Nghi rất chướng ngại cho sự tiến bộ trên đường tu tập.

Vô ký nghi: Cũng là nghi ngờ, nhưng tánh cách không phải xấu, mà không phải tốt. Như nghi quả đất có bao nhiều vi trần, cân được bao nhiêu kilo. Tiểu thừa vì lo giải thoát cho mình, nên không quan tâm đến vấn đề ấy; Phật vì muốn độ sanh, thì chẳng những nhân sanh cần phải để ý, mà lại vấn đề vũ trụ cũng cần phải nghiên cứu qua. Giữa vũ trụ, không có điều gì mà Đức Phật không biết; nên Ngài đã đoạn hai thứ nghi trên.

Trí chướng: Tức là Sở tri chướng; sở tri là cảnh tượng. Cảnh tượng không chướng ngại, ngăn cách; tại tâm người cố chấp mê mờ, nên không thông suốt được. Như: Dĩa, bình, ly, trên hình dáng và danh từ khác nhau, nhưng tự thể cũng đều là chất chai cả. Nếu đứng về tự thể, thì ba vật có thể thông nhau, không ngăn cách; nếu đứng về hình dáng, thì có khác nhau. Người đời chỉ cố chấp hình dáng và danh từ, làm cho mọi vật xa cách nhau.

Giải thoát chướng: Tức là Phiền não chướng, phiền não, tánh chất nó là chướng. Do phiền não làm chướng ngại đường giải thoát.

Tám pháp: Tức là tám thứ gió thường thổi động tâm người còn mê mờ: Lợi, suy, huỷ, dự, xưng, cơ, khổ, lạc. Lợi: vừa ý; suy: không vừa ý; huỷ: chê sau lưng; dự: khen sau lưng; xưng: khen trước mặt; cơ: chê trước mặt; khổ: cảnh nghịch; lạc: cảnh thuận.

Lộc&Trung
16-09-2009, 18:42
Bạch Thầy và thưa các Huynh: con chưa thụ Bồ tát giới có được đọc bài này không ạ?
Đối với hàng Phật tử tại gia, một nguyên tắc gần như bất di bất dịch là không được xem, đọc giới luật của hàng xuất gia, huống chi là chuyển ngữ cho mọi người cùng xem.
Tổ Ấn Quang khuyên dạy ông Từ Úy Như trong Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tăng Quảng Chánh Biên: “Người chưa thọ giới chẳng được xem Luật Tạng:
1) Một là vì sợ kẻ chưa hiểu lý sâu, trông thấy hành vi của những người phạm giới cấm, chẳng biết là bậc Đại Quyền Bồ Tát thị hiện, vì mong Phật chế giới hòng lợi lạc cho đời sau, bèn hiện tướng chẳng như pháp để Phật có dịp chế lập giới, nêu khuôn phép. Do chẳng hiểu lý này, chỉ căn cứ vào những hành vi trước mắt, cho là khi Như Lai tại thế, các đệ tử Phật phần nhiều chẳng như pháp. Từ đấy, khởi lên tà kiến miệt thị Tăng chúng, tội đó chẳng nhỏ.
2) Hai là những chuyện trong Luật Tạng chỉ Tăng được biết, nếu để kẻ chưa phải là Tăng đọc được, rất có thể có kẻ ngoại đạo giả vờ dự vào hàng Tỳ-kheo, làm chuyện sai pháp, vu báng Phật pháp thì hại chẳng nhỏ.

Do vậy, nghiêm cấm như thế là để dự phòng. Còn như kẻ hảo tâm hộ pháp, giảo chánh, lưu thông, há có nên cứ tuân theo thường lệ chăng? Nếu chấp chặt vào lời ấy thì Luật phải do Tăng chép, Tăng khắc, Tăng in, Tăng truyền mới khỏi trái nghịch cấm chế của Phật. Vạn sự trong thiên hạ đều có lý nhất định, làm điều gì phải thuận theo cái lý nhất định, nhưng cách thực hiện thì phải tuân theo cái đạo thích nghi thời tiết, nhân duyên. Lý khế hợp với Quyền, pháp phù hợp cùng đạo mới nên”.
Huống hồ đây lại là không phải luật tạng riêng của hàng xuất gia nên vấn đề thọ trì đọc tụng lại càng không có vấn đề gì cả(theo ngu ý của Lộc&Trung là như vậy).

NguonDao
17-09-2009, 07:00
Em cảm ơn 2 anh Lộc&Trung đã đọc và trả lời . Và đây đâu phải là ngu ý phải không anh? xuất phát từ hiểu biết và tâm từ bi của 2 anh đấy chứ?

daohanh
21-09-2009, 10:04
Bồ tát giới là Phật giới, chư phật quá khứ, hiện tại, vi lai đều tụng. Bồ tát giới có thể được luật sư giảng, người nghe kính tín và phát tâm thọ giới. Đời mạt pháp và diệt pháp, người nào có nhân duyên đọc được tín hiểu thọ trì đều đáng khen ngợi. Lúc này Sư Tăng cũng hiếm hoặc vì giới luật không nghiêm lên có thể tự thọ. Vì khi thọ Bồ tát giới không phải giới tử thọ giới với thầy tỳ kheo hiện hữu hay pháp sư hiện hữu mà là thọ bồ tát giới với 10 phương chư Phật, thầy tỳ kheo ở đây là người tác bạch lên Hòa Thượng Thích Ca Mâu Ni và Hòa thượng Văn Thù Sư Lợi, Hòa Thượng Di Lặc Bồ Tát rằng có giới tử phát tâm vô thượng bồ đề cầu giới. Thầy tỳ kheo sau khi đọc qua kinh, giới tử đã được nghe, khởi lòng tin chân thật không nghi hoặc. Nhân nơi đây thành tựu được giới thể. Người giảng giới, pháp sư truyền thọ là người hiểu được các vấn đề: khai, trì, phạm. Khai giới là giới được mở rộng ví dụ như giới uống rượu có thể khai giới là không được uống bia, không dùng những chất tác hại như ma túy gây nghiện. Trì giới là giữ gìn như giới sát sinh thì trì giới là không được giết muôn loài. Phạm giới ví như giới sát sinh không được giết sinh vật sống. Trong Bồ Tát giới có giới dành cho tại gia và xuất gia. Khi đã thọ bồ tát giới rồi thì giới tử có thể đọc qua giới xuất gia, nhưng không được khởi tâm khinh mạn, nếu có gi nghi hoặc thì nhờ giới sư giảng giới.

Nguyên Đạo
22-09-2009, 18:35
bồ tát giới thì có thể đọc , còn sa di giới và cụ túc giới thì tuyết đối cấm , thọ giới bồ tát để tu làm bồ tát , nhưng chúng ta chỉ là bồ tát giả , còn khi niệm phật cầu sanh tịnh độ thì thành bồ tát thật , đó là cái vi diệu của pháp môn tịnh độ ( ht tịnh không )