PDA

Xem bản đầy đủ : Diệu là diệu ở chỗ không dành cho bạn chỗ nào để suy nghĩ


gioidinhhue
14-12-2009, 11:54
[Lúc ngàn vạn câu như một câu

Đâu lo không thấy mặt Di Đà]

Có hai cách giải thích:

1. Niệm một ngàn một vạn câu Phật hiệu cũng rõ rõ ràng ràng giống như lúc chỉ niệm một câu, không có tạp niệm. Niệm một câu rất rõ ràng, người niệm Phật cũng có khi được như vậy nhưng mà kéo dài đến một ngàn một vạn câu đều thanh tịnh giống như vậy, tự nhiên vãng sanh Cực Lạc thế giới, hoa nở thấy Phật, còn lo buồn cái gì, còn lo sợ không thấy Phật Di Đà sao?

2. Một ngàn một vạn câu giống như một câu. Một câu này cũng giống như một ngàn một vạn câu, bỏ hết số lượng. Nhứt đa tương tức (nhiều ít gì cũng giống nhau) (một tức là nhiều, nhiều tức là một), vượt ra khỏi “tình” ra khỏi “kiến giải”, không thể nghĩ bàn. Tại vì không thể nghĩ bàn, tôi đương nhiên không viết nhiều nữa, không vẽ thêm chân vào hình con rắn nữa.

[Chuyện này không dễ cũng không khó

Tam muội đều nhờ Tín Nguyện Hạnh]

Cả nhà Bàng cư sĩ đời Đường rất được sùng bái trong Thiền tông.

Ông Bàng nói: “Nan bất nan, bách đảm ma dầu thọ thượng thán?”, tạm dịch “khó hay không khó, một trăm gánh dầu mè đặt để trên cây?”

Bà Bàng đáp: “Bách thảo đầu thượng tổ sư ý”, tạm dịch: “Trên trăm ngọn cỏ tổ sư ý”.

Người con gái tên Linh Chiếu nói: “Bất nan diệc bất dị, nga lai thực phạn khốn lai thùy”, tạm dịch: “Không khó cũng không dễ, đói thì ăn cơm mệt thì ngủ”.

[color=#FF0000]Lão thật niệm Phật tức là vô thượng thâm diệu thiền.[/color]

“Bổng đả thạch nhân đầu, bộc bộc luận thật sự”, tạm dịch: “Gậy đánh đầu người đá, phô bày rõ sự thật này”. Ai nói với bạn khó với dễ, nếu nói khó và dễ, cổ Phật quá khứ đã qua lâu rồi.

Tam muội chỉ niệm Phật tam muội, là vua trong các thứ tam muội, cho nên xưng là Bảo Vương tam muội. Muốn chứng được tam muội này chỉ cần Tín Nguyện Hạnh, ba thứ tư lương. Tín cần phải tin sâu, như sáu thứ tín của Ngẫu Ích đại sư nói, như chánh tín của Tiệt Lưu đại sư nói. Nguyện cần phải nguyện thiết tha, hạnh là thiệt thà lão thật niệm Phật.



[color=#4000FF]Bài thứ ba: LÃO THẬT NIỆM[/color]



Nguyên văn

Đán chỉ lão thật niệm

Bất tất vấn như hà

Mạc quản đồng dữ dị

Hưu luận tự dữ tha

Chỉ quý nguyện lực cường

Ná phạ vọng tưởng đa

Tán loạn cố thành bịnh

Phân biệt dị nhập ma

Cảnh duyên vô hảo xú

Phật hiệu nhất tảo quá

Cú cú niệm năng chân

Quyết định xuất Sa Bà



Tạm dịch

[color=#FF0000]Chỉ cần thật thà niệm

Không cần hỏi tại sao[/color]

Đừng lo giống và khác

Không luận mình và người

[color=#FF0000]Chỉ quý nguyện lực mạnh[/color]

[color=#408000]Không sợ vọng tưởng nhiều[/color]

Tán loạn nhiều thành bịnh

[color=#FF0000]Phân biệt dễ vào ma[/color]

[color=#4000FF]Cảnh duyên không tốt xấu

Phật hiệu đều quét sạch[/color]

Câu câu niệm được chân

Quyết định thoát Sa Bà.



Bài trước có nói: “Ba chữ chân truyền thật thà niệm” nên dùng bài “Lão Thật Niệm” để nối tiếp theo sau, chúng ta phải bắn trúng đích ở giữa hồng tâm, mới là người giỏi nhất trong những người nhận được thánh giáo.

[[color=#FF0000]Chỉ cần thật thà niệm

Không cần hỏi tại sao][/color]

[color=#4000FF]Lão thật là rất bình thường, nhưng mà rất là hiếm có[/color]. Vào đời Đường, có người hỏi một bà lão đường lên núi Đài làm sao đi. Bà trả lời: “Mạch trực khứ”, tạm dịch[color=#4000FF] “Cứ đi thẳng”[/color]. Nhiều người trong Thiền tông đều không “hiểu” bà được. Chữ [color=#4000FF]“mạch trực” cũng giống như “lão thật”, cả hai đều rất bình thường, và cũng rất đặc biệt[/color].[color=#4000FF] Diệu là diệu ở chỗ không dành cho bạn chỗ nào để suy nghĩ.[/color] Nếu [color=#4000FF]có chỗ để suy nghĩ thì không đúng. [/color] Niệm Phật và tham thiền đều là như vậy.[color=#BF0000] Cho nên mở miệng nói câu đầu thì nói thẳng liền: “Chỉ cần thật thà niệm”, tuyệt đối là duy nhất chỉ có thật thà niệm Phật. Không có thể hỏi cái này hỏi cái nọ, nếu còn hỏi đông hỏi tây thì không còn thiệt thà nữa[/color]. Cho nên Tông môn có nói: “Bất vấn như hà dữ nhược hà” tạm dịch là : [color=#4000FF]“Không hỏi như sao và nếu sao”[/color].

[Đừng lo giống và khác

Không luận mình và người (tự và tha)]

Tông Hoa Nghiêm y cứ vào sáu tướng mà nói cái nghĩa “pháp giới sự sự vô ngại”. Sáu tướng là: tổng, biệt, đồng, dị, thành, và hoại. Sáu tướng này là từ thể tướng dùng ba phương diện mà thảo luận hàm nghĩa của bình đẳng và sai biệt. “Đồng và dị” là bình đẳng và sai biệt trên tướng. Thí dụ hình tướng của gạch ngói và cây gỗ đều không giống nhau, nhưng mà có thể hợp thành một gian nhà, hiển thị ra tướng “đồng”. Gạch ngói và cây gỗ mỗi thứ đều có hình tướng khác nhau, đây là tướng “dị”. Từ tướng “đồng” và “dị” mà có thể suy đóan cái “tổng” và “biệt” trên “thể” và “sự”, “thành và hoại” trên cái dụng. Cho nên ở đây dùng “tổng” và “dị” để làm đại biểu. “Tự” Phật và “tha” Phật. Tự mình nghĩa là tự, người khác nghĩa là tha. Thân tâm là tự, vạn vật là tha. Cho nên “đồng” và “dị” bao gồm tất cả sự bình đẳng và sai biệt của “thể”, “tướng”, và “dụng”. Tự, tha bao gồm hết tất cả sự đối lập và thống nhất của người, mình (nhân ngã) và tâm, vật. [color=#FF0000]Tất cả đều không hỏi và không để ý đến, trong tâm đơn độc chỉ là một câu A Di Đà Phật[/color]; mỗi âm thanh của [color=#FF0000]câu Phật hiệu này nối liền nhau, tự nhiên sẽ được thuần nhất và sáng tỏ.[/color]

[Chỉ quý nguyện lực mạnh

Không sợ vọng tưởng nhiều]

Trong quyển Di Đà Yếu Giải có nói: “Phi tín bất túc khải nguyện, phi nguyện bất túc đạo hành, phi trì danh hiệu hạnh bất túc mãn sở nguyện, nhi chứng sở tín” tạm dịch là:

“[color=#FF0000]Tin không đủ thì không thể phát nguyện[/color] được, [color=#4000FF]nguyện không đủ thì không đủ để dẫn đạo hành trì,[/color] trì danh diệu hạnh không đủ thì không thể làm tròn lời nguyện và chứng điều mình tin”

Cho nên mới biết nguyện lực là nối tiếp và noi theo chữ tín và dẫn dắt theo diệu hạnh. Lại nói:

“Tin sâu phát nguyện tức là Vô Thượng Bồ Đề; tín nguyện như vậy đúng là kim chỉ nam của Tịnh Độ;[color=#FF0000] nếu Tín Nguyện kiên cố, khi lâm chung mười niệm hoặc một niệm cũng được vãng sanh. [/color] Nếu [color=#FF0000]không có đầy đủ Tín Nguyện, cho dù niệm đến mức gió thổi không lay động, mưa rơi không thấm, vững chắc như bức tường đồng vách sắt thì cũng không vãng sanh được”.[/color]

Lại nói: “[color=#FF0000]Vãng sanh được hay không đều dựa trên có Tín Nguyện [/color]hay không, phẩm vị cao thấp toàn do trì danh sâu hay cạn”.

Nghĩa là một người tu Tịnh Độ có thể vãng sanh hay không hoàn toàn dựa trên người đó có Tín Nguyện hay không, [color=#4000FF]nếu có tin sâu (lục tín và chánh tín) và nguyện thiết, không sợ thường ngày niệm Phật vọng tưởng nhiều đều quyết định được vãng sanh.[/color] Ngược lại cho dù niệm được rất nhiều, niệm đến mức gió thổi cũng không lay động mà không có tín nguyện thì không thể vãng sanh. Do đó có thể thấy lời khai thị vô cùng thù thắng của Ngẫu Ích đại sư cùng hai câu kệ của thầy Hạ trên đây vô cùng phù hợp. Thầy Hạ còn mấy câu thơ như sau:

[[color=#FF0000]Mặc cho vọng tưởng lung tung

Tôi niệm từng chữ rõ ràng][/color]

Cứ [color=#FF0000]để vọng tưởng tự đến rồi tự đi, tự sanh rồi tự diệt, vừa sanh xong liền diệt[/color]. Nói sâu thêm một chút, [color=#FF0000]ngoài tự tánh thiệt là không có vọng tưởng, vọng niệm chỉ là tự tâm vọng động cũng như sóng trên mặt nước.[/color] Xin hỏi sóng là gì?[color=#4000FF] Sóng chỉ là nước. Vọng tưởng không dứt chỉ tại tự tâm quen tán loạn, nếu có thể thật thà niệm hoài, lâu ngày thuần thục thì vọng niệm tự nhiên không sanh.[/color]

[Tán loạn nhiều thành bịnh

Phân biệt dễ vào ma]

Tâm này như con vượn đã nhiều kiếp không có lúc nào yên tịnh chuyên nhất, tán loạn thành tập quán đương nhiên là bịnh. Người quá trung niên có một chút bịnh cũng là chuyện thường. [color=#FF0000]Nhưng nếu lạc vô luới ma rồi và chiêu cảm quả báo ở địa ngục thì nghiêm trọng hơn cả triệu lần.[/color] Tán loạn cũng như người bị cận thị, [color=#4000FF]“vào ma” cũng như bị lọt vào tổ chức đặc vụ của địch quân, kết quả thì là rất bi thảm.[/color] Cho nên [color=#FF0000]đừng nên phân biệt, so đo tốt hơn hoặc xấu hơn?[/color] Tu như vầy tốt hay là như thế kia mới tốt? Lúc thì hoan hỷ lúc thì âu sầu, [color=#4000FF]không lúc nào không ở trong sự phân biệt, lúc nào cũng không rời tâm niệm cầu thứ này cầu thứ nọ.[/color] Cho nên pháp vô thượng thù thắng vô biên thành pháp hữu vi. Vì thế thầy Hạ có nói: [color=#4000FF]“phân biệt tức là lưới ma”, niệm tới niệm lui câu nào cũng dính pháp hữu vi, đều có mong cầu thì làm sao mà thiệt thà niệm được.[/color]

[Cảnh duyên không tốt xấu

Phật hiệu đều quét sạch]

Tiếng niệm Phật bao hàm cả hư không này quét sạch tất cả những sự phân biệt tốt và xấu trong pháp thế gian và xuất thế gian cũng giống như gió mùa thu thổi lá rụng, một cơn gió thổi sạch trơn. Từ tâm phát ra âm thanh, âm thanh là Phật hiệu,[color=#4000FF] Phật hiệu có đủ vạn đức, nhiếp tròn vạn pháp, cho nên thể của tiếng niệm Phật này có đủ vạn đức vạn pháp, có đủ sức mạnh và công đức vô thượng, vô biên pháp lực, cho nên có thể quét sạch phân biệt tán loạn và các thứ hư vọng.[/color] Tiếng niệm Phật lọt vào tai của mình, [color=#4000FF]lọt vào tự tâm, như hạt châu phát quang, phản chiếu lại thể của hạt châu.[/color] Ánh sáng của tâm dung hòa vào tiếng Phật hiệu hỗ tương tăng trưởng đi thẳng đến cứu cánh.

[Câu câu niệm được chân

Quyết định thoát Sa Bà]

Trong hai câu này chữ quan trọng cần giải thích nhất là chữ [color=#FF0000]“chân”.[/color] Chỗ niệm câu nào cũng [color=#FF0000]“chân” nhất quyết thoát ly Sa Bà vãng sanh Cực Lạc.[/color] Làm sao mới là “chân”? Giải thích dễ hiểu nhất, nếu [color=#FF0000]muốn niệm được “chân” thì phải chân (thiệt) niệm. Không phải giả bộ, ngụy trang gạt người,[/color] [color=#408000]không chú trọng vào hình thức, không có mục đích gì khác, không có vọng cầu[/color] quá đáng, không phải là có hình dáng mà không có thật chất. Rất thiết tha, [color=#FF0000]rất thành thật[/color] mà Tín Nguyện và trì danh, đây là thiệt thà niệm Phật. Nói đơn giản thêm một chút nữa, nếu bạn nghe tiếng niệm Phật của mình rõ rõ ràng ràng, nguyên câu hoàn toàn nghe rõ, đây là chân thật niệm.

Trên đây ba bài “Tịnh Ngữ” đã nói rõ hết những nghĩa lý thâm diệu của Tịnh tông. Sau cùng thêm bài “Trực Niệm Khứ” bao gồm tất cả sự huyền diệu của Tịnh, Thiền, và Mật. Niệm Tổ này không vẽ thêm chân vào hình con rắn nữa, xin mời tự tham (niệm).



Nguyên văn

TRỰC NIỆM KHỨ

Di Đà giáo ngã niệm Di Đà

Khẩu niệm Di Đà thính Di Đà

Di Đà Di Đà trực niệm khứ

Nguyên lai Di Đà niệm Di Đà



Tạm dịch

NIỆM HOÀI ĐI

Di Đà dạy tôi niệm Di Đà

[color=#4000FF]Miệng niệm Di Đà nghe Di Đà

Di Đà Di Đà cứ niệm luôn

Hèn chi Di Đà niệm Di Đà[/color]



Bắc Kinh Liên Xã, 4-1991



(2)trung quốc nghĩa là cõi nước có văn hóa đạo đức phát triển chứ không phải chỉ nước Trung Quốc.





(Trích dịch từ cuốn Tâm Thanh Lục, Hoàng Niệm Tổ)

LA Tịnh Tông Học Hội ấn tống, 2002



Ban biên tập: [url]www.thondida.com[/url]

[url]http://www.thondida.com/V-ThoNhacNhoNguoiNiemPhat.php[/url]