PDA

Xem bản đầy đủ : Một bức thư phúc đáp khắp nơi


gioidinhhue
22-01-2010, 14:23
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Kính chào chư đại đức tăng ni, thiện nam tử, thiện nữ nhơn. Vào lúc 6h pm VN. Tại room DNTSHP co buổi truyển âm va truyền hình trực tiếp Buổi Lễ Vu Lan. Thuyết Giảng va Văn Nghê Tại Chùa Giác Quang. Kính Mời Đại Chúng Cùng Tham Dự. Nam Mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát Ma Ha Tát.

Đạo Tràng Địa Ngục Tái Sanh Học Phật. Xin chân thành cảm tạ các chư hoà thượng, đại đức, tăng ni, thiện nam, tín nữ. Đã dành chút thời gian vào đạo tràng Địa Ngục Tái Sanh Học Phật đễ dự Đại Lễ Vu Lan 2009, đã được hoàn toàn viên mãn. Nam Mô Công Đức Lâm Bồ Tát Ma Ha Tát. Nam mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát Ma Ha Tát.


Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới

Ðại Từ Ðại Bi A Di Ðà Phật
Lá Thư Tịnh Ðộ
Ấn Quang Ðại Sư
Việt dịch: Hòa Thượng Thích Thiền Tâm


Một bức thư phúc đáp khắp nơi
Lời văn tuy quê thuật, nhưng nghĩa lý vẫn căn cứ trong kinh
Nếu có ai y theo đây mà làm, sự lợi ích sẽ rộng lớn vô cùng!
Ấn Quang pháp sư
- 1 -

Pháp môn Tịnh Độ trùm khắp cả ba căn, gồm thâu hàng lợi độn, là đại pháp của đức Như Lai, để mở phương tiện cho tất cả thánh phàm đều được giải thoát sanh tử, lên ngôi Bất Thối ngay trong hiện đời. Với pháp mầu nhiệm đặc biệt nầy mà không tin không tu, thật là đáng thương, đáng tiếc!!
Pháp môn Tịnh Độ lấy tín, nguyện, hạnh làm tông chỉ.
Tín là ta phải tin cõi Ta Bà có vô lượng sự khổ; tin cõi Cực Lạc có vô lượng điều vui; tin ta là phàm phu đầy nghiệp lực, quyết không thể nương cậy vào sức mình để dứt hoặc chứng chơn, thoát sanh tử ngay trong hiện đời; tin Phật A Di Đà có lời thề nguyền rộng lớn, nếu chúng sanh nào niệm danh hiệu Ngài, cầu về nước Ngài, khi mạng chung sẽ được Ngài tiếp dẫn vãng sanh Cực Lạc.
Nguyện là ta nên nguyện mau ra khỏi thế giới nầy, nguyện sớm sanh về cõi vui kia.
Hạnh là ta phải chí thành khẩn thiết niệm câu Nam Mô A Di Đà Phật, mỗi thời mỗi khắc đừng để tạm quên, tùy theo hoàn cảnh gấp hoãn lập một khóa trình, sớm tối lễ bái trì tụng trước bàn Phật. Ngoài thời khóa tụng, những khi đi, đứng, nằm, ngồi và làm những công việc không dụng tâm, đều nên niệm Phật. Lúc ngủ nghỉ phải niệm thầm, không nên ra tiếng và chỉ niệm bốn chữ A Di Đà Phật để dễ nhiếp tâm. Lại, những khi y phục không chỉnh tề, hoặc giặt rửa, tắm gội, đại tiểu tiện, cho đến lúc đi ngang qua chỗ không sạch sẽ, cũng đều phải niệm thầm. Chí tâm niệm thầm, công đức cũng đồng như niệm ra tiếng. Trong những lúc ấy nếu niệm ra tiếng thì chẳng hợp nghi thức và có lỗi không cung kính. Không luận niệm lớn tiếng, nhỏ tiếng, niệm Kim Cang hoặc niệm thầm, đều phải trong tâm ghi nhớ rành rẽ rõ ràng, miệng niệm rành rẽ rõ ràng và hai tai nghe rành rẽ rõ ràng. Niệm như thế thì tâm không còn dong ruổi theo cảnh ngoài, vọng tưởng lần dứt, câu niệm Phật lần thuần, công đức rất lớn.
- 2 -
Người niệm Phật phải hiếu dưỡng cha mẹ, phụng thờ sư trưởng, tâm từ bi không giết hại, tu mười nghiệp lành (Thân không sát sanh, trộm cướp, tà dâm; miệng không nói dối, nói thêu dệt, nói đôi chiều, nói hung ác; ý không tham dục, giận hờn, ngu si, tà kiến). Lại cần phải: cha lành, con thảo, anh em thương kính, chồng vợ thuận hòa, chủ nhân, tớ trung, mỗi người đều giữ tròn bổn phận. Ta chỉ nên làm hết nhiệm vụ mình, đừng so đo phiền trách người khác đối với mình có trọn cùng không. Nếu người nào đối với gia đình xã hội làm tròn thiên chức, đó là người lành. Người lành mà niệm Phật thì dễ có cơ cảm, quyết định khi lâm chung được Phật tiếp dẫn sanh về Tây Phương vì tâm hạnh hợp với Phật. Trái lại, những ai miệng tuy niệm Phật, song lòng không nhiễm đạo, đối với cha mẹ, anh em, vợ chồng, con cái, bạn bè làng xóm không tròn bổn phận thì tâm hạnh trái với Phật, khó được vãng sanh. Tại sao thế? Bởi người ấy tâm không điềm tịnh thuần hòa, tự sanh ra mối não phiền chướng ngại, nên khó được cảm thông với Phật, đó cũng là lẽ tất nhiên.
- 3 -
Người niệm Phật nên khuyên thân bằng quyến thuộc và tất cả đồng nhân đều niệm Nam Mô A Di Đà Phật và Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát. (Mỗi ngày như niệm Phật 1.000 câu thì niệm Quán Âm 500 câu, niệm Phật 10.000 câu thì niệm Quán Âm 5.000 câu. Niệm nhiều ít so theo đây mà gia giảm). Ta đã tìm được con đường giải thoát yên ổn, lại nỡ nào để cho đấng sanh thành, người quyến thuộc cùng tất cả đồng nhân mất sự lợi ích lớn, chìm trong biển khổ ư? Huống chi giữa cõi đời nhiều hoạn nạn, khó tránh sự hiểm nguy như hiện nay, nếu có thể thường niệm Phật và Quán Âm, tất sẽ được lượng từ bi ủng hộ, gặp dữ hóa lành. Giả sử không tai nạn mà chí tâm trì niệm, cũng sẽ được nghiệp tiêu trí sáng, chướng hết phước nhiều. Hơn nữa, khuyên người niệm Phật cầu sanh Tây Phương, tức là thành tựu kẻ phàm phu làm Phật, công đức rất lớn, đem công đức ấy hồi hướng vãng sanh tất sẽ mãn nguyện.
- 4 -
Người niệm Phật khi tụng kinh, trì chú, lễ bái, sám hối, cứu tai nạn, giúp kẻ nghèo, tất cả công đức lành đều phải hồi hướng vãng sanh Tây Phương, không nên cầu hưởng phước báo ở cõi trời, cõi người, trong hiện tại hoặc đời sau. Nếu có tâm niệm ấy thì mất phần vãng sanh và phải bị chìm đắm trong biển luân hồi khổ não. Nên biết, hưởng phước càng nhiều tất gây nghiệp càng lớn, qua một đời sau nữa quyết khó khỏi đọa vào đường địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Chừng ấy muốn trở lại làm thân người, được nghe pháp hiện đời giải thoát của môn Tịnh Độ, còn khó hơn lên trời. Phật dạy chúng sanh niệm Phật cầu về Tây Phương, là vì chúng sanh mà giải quyết vấn đề sanh tử ngay trong hiện kiếp. Nếu chỉ cầu đời sau hưởng phước báo ở cõi nhân thiên tức là trái với lời Phật dạy, như đem hạt bảo châu vô giá đổi lấy một thẻ đường để ăn, há chẳng đáng tiếc lắm ư? Kẻ tối tăm niệm Phật không cầu vãng sanh mà cầu hưởng phước báo, cũng như đây không khác.
- 5 -
Người niệm Phật không nên tập theo lối tham cứu của nhà tu Thiền. Vì kẻ tu Thiền hầu hết đều không chú trọng về việc tín nguyện vãng sanh. Dù có niệm Phật, họ chỉ chú trọng vào câu 'Niệm Phật đó là ai?' để cầu khai ngộ mà thôi. Ta chỉ nên niệm Phật cầu sanh Tây Phương, khi được thấy đức A Di Đà lo gì không khai ngộ? Nếu ở cõi này tu Thiền, như hoặc nghiệp dứt hết thì có thể thoát sanh tử; thảng như hoặc nghiệp chưa dứt thì đã không thể cậy vào sức mình để giải thoát, lại vì không tín nguyện nên không được nương nhờ sức Phật ra khỏi luân hồi. Hai bên tự lực và Phật lực đều không nhờ cậy được, người ấy đâu thể nào thoát khỏi trần lao? Nên biết bậc pháp thân Bồ Tát khi chưa thành Phật đều phải nhờ oai lực của Phật, huống chi ta là phàm phu đầy nghiệp chướng mà ưa luận về sức mình, không cầu sức Phật ư? Lời ấy tuy cao, song xét lại hành vi thật là thấp kém! Sự hơn kém của Phật lực và tự lực khác xa nhau như trời vực, nguyện đồng nhân nên thể tất nghĩa nầy!
- 6 -
Người niệm Phật không nên bắt chước kẻ ngu tối, làm những việc hoàn thọ sanh, gởi kho. Bởi sự hoàn thọ sanh trong Kinh Phật không có nói, do người sau bày đặt ra. Còn gởi kho là muốn cho mình khi chết rồi thành quỷ, nên mới sắm trước tiền của đồ vật cho thân quỷ dùng. Đã có tâm niệm muốn làm quỷ thì khó được vãng sanh. Như người nào chưa làm thì thôi, nếu đã làm, phải bạch rõ trước bàn Phật như vầy: 'Đệ tử là... chỉ cầu vãng sanh, những đồ minh khố đã gởi khi trước, xin đem chẩn tế cho cô hồn.' Như thế mới không chướng ngại cho sự sanh về cõi Phật.
Lại những thứ kinh: Thọ Sanh, Huyết Bồn, Thái Dương, Thái Âm, Nhãn Quang, Táo Vương, Thai Cốt, Phân Châu, Diệu Sa... đều là kinh ngụy tạo, không phải kinh của Phật nói, không nên trì tụng. Những kẻ quê tối, không chịu tụng Kinh Đại Thừa (như các kinh: A Di Đà, Vô Lượng Thọ, Quán Vô Lượng Thọ, Tâm Kinh, Kim Cang, Pháp Hoa, Dược Sư, Lăng Nghiêm, Hoa Nghiêm, Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm v.v...) mà chỉ tin các thứ kinh ngụy tạo ấy, muốn làm những việc hoàn thọ sanh, phá địa ngục, phá huyết hồ, mới yên tâm. Nếu có người hiểu Phật Pháp khuyên bảo nói đó là những kinh ngụy tạo, họ cũng không nghe lời. Nên biết, làm các Phật sự, chỉ có niệm Phật là công đức rộng lớn, nên đem số tiền hoàn thọ sanh, phá địa ngục, phá huyết hồ ấy, thỉnh những vị tăng chơn chánh niệm Phật cho thì được lợi ích rất nhiều.
- 7 -
Người niệm Phật nên ăn chay trường, như chưa được thế, thì giữ lục trai hoặc thập trai, để lần lần bỏ hẳn các thứ thịt của chúng sanh, mới là hợp lý. Lục trai là các ngày: mùng 8, 14, 15, 23, 29, 30; nếu thêm vào đó mấy ngày: mùng 1, 18, 24, 28 thì thành ngày thập trai. Những tháng thiếu, nên ăn trước một ngày. Lại, tháng giêng, tháng năm, tháng chín là ba trai nguyệt, nên ăn chay trường và làm các việc công đức. Dù chưa ăn chay được, cũng nên mua thịt cá đã làm sẵn, chớ sát sanh trong nhà. Nếu mỗi ngày sát sanh thì cái nhà ấy đã thành lò sát sanh, là chỗ oan quỷ tụ hội, không được an lành. Cho nên sát sanh trong nhà là điều rất cấm kỵ.
- 8 -
Người niệm Phật nên khuyên cha mẹ niệm Phật cầu sanh Tây Phương. Muốn cho cha mẹ khi lâm chung quyết định được vãng sanh thì phải dặn trước người quyến thuộc về cách trợ niệm và chớ nên khóc lóc cùng bày vẽ những điều vô ích. Lại, lúc bình thời phải vì cha mẹ giảng rõ sự lợi ích của môn niệm Phật khiến cho song thân thường niệm không quên. Thế thì chẳng những cha mẹ được lợi ích, mà quyến thuộc hiện tại hoặc con cháu đời sau cũng được ảnh hưởng giải thoát an lành. Về phương pháp trợ niệm khi lâm chung, không luận già trẻ, đều phải làm đúng như thế.
- 9 -
Người nữ khi sắp sanh thường bị đau khổ không kham, có khi vài ngày sanh không được, hoặc chết vì sản nạn. Có người tuy sanh được nhưng lại bị huyết băng và nhiều bệnh nguy hiểm. Đứa con sanh ra thì bị các chứng cấp nạn, kinh phong v.v... Cho nên, người nữ lúc sanh sản, nên chí thành khẩn thiết niệm Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát. Khi niệm cần phải to tiếng, không nên niệm thầm, vì niệm thầm do tâm lực kém nên sức cảm ứng cũng kém. Lại trong lúc ấy sản phụ đang dùng sức sanh đứa bé ra, nếu niệm thầm thì nín ép hơi phải mang bệnh. Nếu chí thành khẩn thiết mà niệm, quyết không có sự đau đớn, khó sanh, huyết băng, đứa con sẽ khỏi bệnh kinh phong, và các chứng nguy hiểm khác. Dù gặp trường hợp khó sanh, có nguy hiểm đến tánh mạng, sản phụ cùng những kẻ hộ sanh cũng phải đồng to tiếng niệm Quán Âm. Người quyến thuộc tuy ở nơi khác đều phải vì sản phụ niệm giúp. Như thế, không đầy giây phút, sản phụ liền được yên ổn mà sanh. Kẻ ngoại đạo không rõ lý nầy, chấp chặt một việc cung kính, chẳng biết căn cứ theo sự mà luận lý, khiến cho mấy bà lão niệm Phật xem sanh sản là việc đáng sợ, cho đến dâu con của mình sanh cũng không dám qua săn sóc, huống chi là niệm Quán Âm? Nên biết Bồ Tát lấy sự cứu khổ làm lòng, lúc sanh sản, tuy lõa lồ không sạch, nhưng đó là việc dĩ nhiên, không phải mình tự ý buông lung, nên niệm đã không có tội lỗi, mà lại khiến cho mẹ con sản phụ gieo trồng căn lành. Nghĩa nầy trong Kinh Dược Sư đã có nói, không phải tự tôi đưa ra điều ức kiến. Ấn Quang nầy chỉ là người đề xướng mà thôi.
- 10 -
Người nữ từ mười hai, mười ba tuổi đến bốn mươi tám, bốn mươi chín tuổi đều có nguyệt kinh. Có kẻ bảo: trong lúc nguyệt kinh, chẳng nên lễ bái trì tụng. Lời này rất không hợp tình lý. Thời kỳ có kinh, mau thì hai ba ngày, lâu đến sáu bảy ngày mới dứt; người tu trì cần phải niệm Phật không xen hở, đâu nên vì một chút bệnh nhỏ thiên nhiên mà bỏ lãng thời tu niệm ư? Khi có nguyệt kinh chỉ nên lễ bái ít (lễ bái ít chớ chẳng phải tuyệt nhiên không lạy), còn sự tụng kinh, niệm Phật đều chiếu theo lệ thường. Nên thường thay giặt vải dơ, phải rửa tay cho sạch sẽ, đừng dùng tay dơ mà lần chuỗi, lật kinh và đốt hương. Trong Phật Pháp, pháp pháp đều viên thông, hàng ngoại đạo chỉ chấp một bên lý, người đời phần nhiều lại ưa tin lời ngoại đạo, không rõ chánh lý Phật giáo, nên không được thấm nhuần pháp lợi.
- 11 -
Quán Thế Âm Bồ Tát thệ nguyện rộng sâu, tìm tiếng cứu khổ. Khi gặp những tai nạn: đao binh, nước lửa, đói kém, cào cào, ôn dịch, khô hạn, cướp bóc, oan gia, thú dữ, rắn độc, ác quỷ, yêu mị, nghiệp binh, kẻ tiểu nhơn hãm hại v.v... nếu phát tâm sửa lỗi làm lành, lợi mình lợi người, chí thành khẩn thiết niệm Quán Thế Âm không xen hở thì quyết định sẽ được nhờ sức từ bi ủng hộ tránh khỏi tai nguy. Nếu vẫn còn giữ lòng bất thiện, dù có xưng niệm, chẳng qua là gieo chút căn lành về sau, không được sự cảm ứng hiện tại, vì chư Phật, Bồ Tát thành tựu niệm lành cho người, tuyệt không thành tựu niệm ác cho người. Như không phát tâm sửa lỗi làm lành, lầm lạc muốn đem công đức niệm Phật, Bồ Tát, để cầu cho việc ác của mình thành tựu thì quyết không được cảm ứng. Rất không nên phát tâm điên đảo ấy.
Đã niệm Phật, cần phải giữ trọn nhơn luân, gìn lòng thành kính, dứt các điều dữ, làm các việc lành, giữ lòng tốt, nói lời tốt, làm việc tốt. Việc nào mình làm được thì thiết thật mà làm, như không làm được cũng nên phát lòng lành ấy, hoặc khuyên người có thế lực làm, hoặc thấy người làm sanh tâm vui đẹp. Thốt lời khen ngợi việc lành cũng thuộc về công đức của tâm và miệng. Nếu việc mình không thể làm, khi thấy người khác làm được mà sanh lòng ganh ghét, đó là tâm hạnh của kẻ tiểu nhơn. Như thế, quyết định phải bị mất phước tổn thọ, không được kết quả tốt, cần để ý răn chừa. Rất không nên giả mặt hiền lương để mua danh chuốc lợi, tâm hạnh ấy quỷ thần đều ghét, có thì mau cải, không thì nên cố gắng làm lành.
- 12 -
Có nhiều người nữ vì không rõ chánh lý, hoặc bất hiếu với cha mẹ chồng, khi dễ chồng, quá cưng yêu chiều chuộng con, ngược đãi tôi tớ, hoặc là mẹ ghẻ hiếp đáp, hành hạ con riêng của chồng. Những người ấy đâu biết rằng: hiếu thảo với cha mẹ chồng, kính trọng chồng, dạy dỗ con cái, ra ân huệ cùng hàng tôi tớ, an ủi nuôi dạy con riêng của chồng, chính là đạo thánh hiền ở thế gian mà cũng là phép tắc đầu tiên của đạo Phật. Nếu có đủ công đức ấy mà tu Tịnh Độ thì quyết định danh dự thêm nhiều, phước thọ bền vững, khi mạng chung được Phật tiếp dẫn về chín phẩm sen. Nên biết đã có nhân phải có quả, nếu ta gieo nhân hiếu kỉnh, từ ái, tự nhiên sẽ được quả hiếu kỉnh từ ái. Vì người tức là vì mình, hại người còn quá hơn hại mình, cho nên mỗi người đều phải làm tròn bổn phận, Phật trời tất sẽ chứng tri.
- 13 -
Trẻ con khi vừa khôn lớn, phải dạy cho chúng biết đạo lý hiếu, đễ, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm, sỉ và việc ba đời nhân quả, sáu nẻo luân hồi. Như thế là làm cho chúng hiểu tâm của mình cùng tâm chư Phật, Bồ Tát, trời đất, quỷ thần, mỗi hơi thở thông nhau. Nếu khởi một niệm bất chánh, làm một việc không phải thì các vị ấy thảy đều biết, như đối trước gương sáng, hình ảnh tốt xấu hiện ra rõ ràng, không che giấu được. Đã hiểu như thế, tất nhiên chúng sẽ sợ hãi, gắng sức làm lành. Chẳng luận người nào, dù là con cái tôi tớ trong nhà cũng không nên đánh đập mắng chửi thô tháo. Phải tìm cách khuyến hóa, khiến cho chúng biết phụng thờ bậc trên, nhường thuận kẻ dưới, kính trọng giấy chữ, chẳng xài phá cơm gạo, quần áo, của tiền, yêu tiếc sanh mạng loài trùng kiến, không ăn vặt vãnh để khỏi mang bệnh. Nếu dạy được như thế, thì một ngày kia quyết định chúng sẽ thành người lương thiện. Trái lại lúc con cháu còn thơ ấu, cha mẹ chẳng chịu dạy dỗ, để mặc cho chúng buông lung, khi lớn lên nếu chúng nó không là kẻ dung ngu, cũng là hàng phỉ loại. Chừng ấy dù có ăn năn cũng vô ích. Lời xưa nói: 'Giáo phụ sơ lai, giáo tử anh hài' (Dạy con dạy thuở còn thơ, dạy vợ dạy lúc ban sơ mới về), tánh tình phần lớn là do ảnh hưởng của tập quán, cho nên phải cẩn thận từ bước đầu tiên. Cá nhân là phần tử của xã hội, trong thiên hạ bình yên hay loạn lạc, cội nguồn đều do sự hiền lương hoặc bạo ác của con người. Vậy những điều trên đây quan hệ, thiết yếu, không phải tôi bàn luận chuyện vô ích, xa vời...
- 14 -
Ấn Quang tôi năm nay đã quá già yếu, tinh thần mỗi ngày thêm suy kém, không còn đủ sức để phúc đáp những bức thơ gởi đến. Chỉ vì sự lưu thông thuận tiện, nên xa gần lầm nghe chút hư danh, gởi thơ hỏi đạo quá nhiều. Nếu tôi không đáp, vẫn tự hơi có phụ ý người gởi; như mỗi mỗi đều phúc đáp, thật ra cũng không đủ tinh thần. Vì thế, tôi cho in bức thơ dài nầy để phúc đáp cùng khắp. Trong đây, những điều quan hệ về sự tu trì, cách lập thân xử thế, đạo thờ cha mẹ, dạy con cái, tôi đều nói lược qua. Về sau, ai đưa tin đến hỏi đạo, tôi đều dùng thơ nầy phúc đáp, hoặc có vài điều đặc biệt, cũng chỉ nên thêm đôi hàng nơi bức thơ gởi đến mà thôi. Như thế, để cho đạo niệm đôi bên được thông nhau, mà tôi cũng đỡ bớt sự nhọc mệt. Nếu vị nào muốn hiểu suốt kinh nghĩa, xin thưa hỏi nơi các bậc Pháp Sư dựng cao tràng pháp, Tông Giáo kiêm thông. Nhưng nên biết, dù thông suốt kinh pháp, cũng chưa chắc được thoát sanh tử. Muốn thoát sanh tử luân hồi, phải chú trọng nơi sự tín nguyện niệm Phật cầu sanh Tây Phương!
http://www.dianguctaisanhhocphat.com/index.php

gioidinhhue
22-01-2010, 14:35
http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/TayPhuongTamThanh1.jpg


http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/video_01.jpg http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/video_02.jpghttp://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/video_033.jpg


http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/PS-TK.jpg (http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/TieuSuHTTK.htm)


PHẬT HỌC VẤN ĐÁP
(Hòa Thượng Tịnh Không) (http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/httk.jpg)
Lời Tựa: Ðức Thế tôn thị hiện tại thế gian này giảng kinh thuyết pháp, giúp cho chúng sanh đoạn dứt nghi hoặc và sanh trưởng lòng tin, phá mê khai ngộ, lìa khổ được vui, giải thoát rốt ráo. Chúng ta có thể thấy phần đông kinh điển đều do các đệ tử của Phật đề ra câu hỏi xin đức Phật Thích Ca giải đáp. Do đó có thể thấy được khi học sinh có thắc mắc xin thầy giáo giải đáp để xóa hết nghi hoặc, tiến thêm một bước để giải quyết những vấn đề trong sanh hoạt hằng ngày, đây là một quá trình quan trọng trong sự học Phật. Nay có nhóm Hoa Tạng Giảng Ký (nhóm ghi chép bài giảng) chép lại từ băng ghi âm những giải đáp của lão hòa thượng Tịnh Không trả lời các vấn đề Phật học cho mọi người và chỉnh lý. Chỉnh lý xong, ấn tống để cúng dường đại chúng. Họ nhờ kẻ mạt học này viết lời tựa, đành chỉ viết sơ lược vài hàng cho xong trách nhiệm.

Thích Ngộ Ðạo viết lời tựa tại Ðài Bắc 1-7-2003
http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/l.gif 1. Niệm Phật (http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/NiemPhat.htm) http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/l.gif 2. Tu trì (http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/TuTri.htm) http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/l.gif 3. Tử sanh (http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/TuSanh.htm) http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/l.gif 4. Nhân quả (http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/NhanQua.htm) http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/l.gif 5. Sanh hoạt (http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/SanhHoat.htm) http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/l.gif 6. Giáo dục (http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/Giaoduc.htm) http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/l.gif 7. Hoằng pháp (http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/HoangPhap.htm) http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/l.gif 8. Hoằng hộ (http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/HoangHo.htm) http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/l.gif 9. Biểu pháp (http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/BieuPhap.htm) http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/l.gif 10. Ðạo tràng (http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/DaoTrang.htm) http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/l.gif 11. Hội tập (http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/HoiTap.htm) http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/l.gif 12. Phật Học (http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/PhatHoc.htm) http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/l.gif 13. Cúng dường (http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/CungDuong.htm) http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/l.gif 14. Tôn giáo (http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/TonGiao.htm) http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/l.gif 15. Chánh trị (http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/chanhTri.htm) http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/l.gif 16. Siệu độ (http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/SieuDo.htm) http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/l.gif 17. Phóng sanh (http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/PhongSanh.htm) http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/l.gif 18. Xuất gia (http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/XuatGia.htm) http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/l.gif 19. Tại gia (http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/TaiGia.htm) http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/l.gif 20. Hiếu đạo (http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/HieuDao.htm)
http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/l.gif 21. Nghi quy (http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/NghiQuy.htm)
Lão Hòa thượng Tịnh Không
Nhóm Hoa Tạng Giảng Ký cung kính ghi chép
Bài ghi chép những câu trả lời của Lão Hòa Thượng Tịnh Không giải đáp vấn đề học Phật cho các bạn đồng tu. Bài này chưa được lão hòa thượng giám định, chỉ là do Nhóm Ghi Chép Bài Giảng Hoa Tạng nghe băng ghi âm rồi chép ra, biên soạn sơ khởi thành cuốn sách nhỏ này để cúng dường độc giả.
Trong quá trình chuyển ngữ chắc không tránh khỏi thiếu sót, xin các bậc thức giả hoan hỷ phủ chính cho.
Xin thành thật cám ơn.
Một nhóm Diệu Âm cư sĩ, 6-15-2004


http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/LADA.gif PHẬT HỌC VẤN ĐÁP (http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/PHATHOCVANDAP_singapore.htm) (Giảng tại Singapore) http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/new_018.gif
http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/LADA.gif NGŨ KHOA TỊNH ĐỘ (http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/NGUKHOATINHDO.htm)
http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/LADA.gif BA BÀI KHAI THỊ CHO OAN GIA TRÁI CHỦ (http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/3KHAITHIOANGIA.htm)
http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/LADA.gif KHAI THỊ CHO PHẬT TỬ DỰ TRONG NIỆM PHẬT ĐƯỜNG (http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/KT_NIEMPHATDUONG.htm)


http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/HT-TK.jpg
“Trồng các thiện căn, nguyện sanh Cực Lạc thấy Phật A Di Đà“.Người giác ngộ phải nên đem việc này làm thành việc lớn của cả một đời, trong cuộc sống đây là sự việc trọng đại nhất. Một đời này đến thế gian này để làm gì? Chính là cầu sanh tịnh độ, chính là vãng sanh đến thế giới Tây Phương Cực Lạc chính là thấy Phật A Di Đà, ngoài việc này ra không có việc thứ hai đó mới là chân thật phát tâm.
Con người chúng ta có một ý niệm sai lầm rất nghiêm trọng, chính là luôn thấy người khác sai, mình thì đúng. Chỉ cần có ý niệm này tồn tại, thì xã hội vĩnh viễn sẽ không có an định, thế giới không có hòa bình.

gioidinhhue
22-01-2010, 15:05
http://music.easyvn.com/buddgism/cungduongphap/cungduongphap.jpg



http://music.easyvn.com/buddgism/cungduongphap/TayPhuongTamThanh1.jpg
Tất cả vì lợi ích Chúng Sanh và vì Phật Pháp, chúng con đều lấy lòng thành kính và chân thành Hộ Niệm trợ giúp. Không có mục đích thương mại, không MUA và BÁN. Tất cả đều là Cúng Dường. KHÔNG NHẬN TIỀN.


BAN HỘ NIỆM CHÙA HOẰNG PHÁP
Liên hệ: 0909.925.897 (Cô Diệu Thường)
http://music.easyvn.com/buddgism/cungduongphap/rosebar.gif
BAN HỘ NIỆM LIÊN HOA
(TP. COLUMBIA – BANG MISSOURI)
Liên hệ: 573-529-4225 (Quang Việt)
573-529-6213 (Phương Trang)
http://music.easyvn.com/buddgism/cungduongphap/rosebar.gif
BAN HỘ NIỆM HOA SEN ĐÀ NẴNG
Tel: 0511.3565.285
Đ/c: 127 Hòang Văn Thụ, TP Đà Nẵng
Website: http://bhnhoasendn.vn/
http://music.easyvn.com/buddgism/cungduongphap/rosebar.gif
BHN HƯƠNG QUẢNG GIA LAI
Liên hệ: 0934 920028 (Nhật Minh - Nguyễn Minh Đường)
http://music.easyvn.com/buddgism/cungduongphap/rosebar.gif
http://music.easyvn.com/buddgism/cungduongphap/cham.gif Danh sách BHN Việt Nam (http://music.easyvn.com/buddgism/cungduongphap/BHN-List.htm)
http://music.easyvn.com/buddgism/cungduongphap/cham.gif Quy Tắc Trợ Niệm & Pháp Ngữ Khai Thị (http://music.easyvn.com/buddgism/tinhphapam/tinhphapam.php?username=buddgism&file=tinhphapam/tinhphapam.php&pass=0)
http://music.easyvn.com/buddgism/cungduongphap/rosebar.gif

DẦU DỪA CHỮA NHIỀU THỨ BỆNH (http://music.easyvn.com/buddgism/huongtubi/DauDuaChuaBenh.html)
ĐỘT QUỴ (http://music.easyvn.com/buddgism/huongtubi/DOTQUY.HTML)
CHỮA UNG THƯ (http://music.easyvn.com/buddgism/huongtubi/chuabenh_ungthu.html)
CÁC BÀI THUỐC CHỮA UNG THƯ, MẮT MỜ, TIỂU ĐƯỜNG, TIỂU TIỆN KHÔNG THÔNG. (http://music.easyvn.com/buddgism/huongtubi/PhuongThuocBiTruyen.pdf)
DỊCH CÂN KINH (http://music.easyvn.com/buddgism/huongtubi/dichcanKinhAll.pdf)
TRỊ TÊ BẠI TÒAN THÂN, BÁN THÂN, ĐAU NHỨC CỘT SỐNG, THẤP KHỚP, NHỨC MỎI (http://music.easyvn.com/buddgism/huongtubi/THUOC_TRI_TE...HTML)
TRỊ TIỂU ĐƯỜNG (http://music.easyvn.com/buddgism/huongtubi/TRI_TIEUDUONG.HTML)
ĂN CHAY CÓ ĂN TRỨNG VÀ UỐNG SỮA? (http://music.easyvn.com/buddgism/huongtubi/ANCHAY_TRUNGGA.HTML)
Đời là Vô Thường. Bệnh do nghiệp mang đến, dù có hết bệnh hay không, chỉ có 1 cách chuyển nghiệp đó là Hồng Danh “NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT“
http://music.easyvn.com/buddgism/huongtubi/rosebar.gif



http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/ho1.JPG http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/fo.JPG http://music.easyvn.com/buddgism/taylacvien/ho1.JPG
Nam Mô A Di Đà Phật,

Viện Tây Lạc xin được đăng tải những thông tin Vãng Sanh mới nhất - những bằng chứng Niệm Phật thành tựu Vãng Sanh.

Rất mong những chứng cứ thiết thực và hữu ích này sẽ tăng trưởng lòng tin vững chắc cho sự quyết tâm của chư vị đang, đã và sẽ Niệm Phật để Niệm Phật nhiều hơn cầu sanh Cực Lạc Quốc Độ. Được như thế chư vị sẽ là Bồ Tát là Phật tại cõi Tây Phương và cùng là bạn bất thối ở Chín Phẩm Sen Vàng.

Nguyện đem tất cả công đức hồi hướng cho khắp pháp giới chúng sanh để nguyện cầu cho tất cả quay về bến giác Đồng Sanh thế giới của A Di Đà Phật trong một đời này.
http://www.tinhtong.com/

^:)^^:)^^:)^

Tịnh Lộc
19-04-2010, 01:20
Một lá thư phúc đáp khắp nơi này của Người hay quá,nếu không có thời gian xem hết các lá thư của Ấn Tổ thì chỉ xem lá thư này thôi thì cũng có thể nói là đủ để dùng rồi ^:)^ .

gioidinhhue
23-04-2010, 12:04
Hỏi rằng: Kinh Vô Lượng Thọ có nói: Người nguyện vãng sinh, đều được vãng sinh, chỉ trừ (các hạng làm) năm (tội) nghịch (và) phỉ báng chính pháp. (Nay) kinh Quán Vô Lượng Thọ (lại) nói, làm năm nghịch, mười ác đủ hết các bất thiện, cũng được vãng sinh. Hai kinh này (nói khác nhau như vậy), làm sao để hiểu?

Đáp rằng: Một kinh (thì) cho rằng đủ hai loại tội nặng, một là năm nghịch, hai là phỉ báng chính pháp, do vì hai thứ tội này cho nên không được vãng sinh. Một kinh (lại) chỉ nói làm mười ác, năm nghịch các tội, (chứ) không nói phỉ báng chính pháp, do vì không phỉ báng chính pháp cho nên được sinh.

Hỏi rằng: Giả sử một người có đủ năm tội nghịch, mà không phỉ báng chính pháp, (thì) kinh chấp nhận cho được vãng sinh. (Nếu) lại có một người chỉ phỉ báng chính pháp, mà không có năm tội nghịch kia, (mà) nguyện vãng sinh (thì) được sinh hay không?



Đáp rằng: Chỉ cứ phỉ báng chính pháp, dù không có tội gì đi nữa, cũng sẽ không được vãng sinh. Lấy gì để nói như vậy? Kinh nói: người (làm) năm tội nghịch, đọa vào đại địa ngục A Tỳ (6), chịu đủ tội nặng (trong) một kiếp. (Còn) người phỉ báng chính pháp, đọa vào đại địa ngục A Tỳ, kiếp này nếu (chịu tội) xong, lại chuyển đến đại địa ngục A Tỳ trong các phương khác, cứ thế xoay vần qua trăm ngàn đại địa ngục A Tỳ, Phật không xác nhận khi nào được ra. Do phỉ báng chính pháp là tội cực nặng. Lại chính pháp chính là Phật pháp, (nên) kẻ ngu si kia đã sinh phỉ báng, thì có lý do nào lại có nguyện sinh cõi Phật cho được. Giả như chỉ do tham (các sự) an lạc của cõi kia mà nguyện sinh thì cũng như cầu băng (tuyết) mà không phải là nước, (cầu) lửa không có khói, có lý do nào như thế sao?

Hỏi rằng: Những tướng (như thế) nào là phỉ báng chính pháp?

Đáp rằng: Nếu nói là không có Phật, không có pháp của Phật, không có Bồ Tát, không có pháp của Bồ Tát (7), các cái thấy như vậy, hoặc tâm (mình) tự hiểu (như thế), hoặc nghe theo kẻ khác, (một khi) tâm (nghĩ) như thế (mà) quyết định (rồi), thì đều gọi là phỉ báng chính pháp.

Hỏi rằng: Các suy nghĩ như thế chỉ là việc của riêng mình, đối với chúng sinh có (gây) khổ não nào (cho họ) đâu mà còn hơn cả tội nặng năm nghịch nữa sao?

Đáp rằng: Nếu không có chư Phật, Bồ Tát nói (ra) các đường thiện về thế gian và xuất thế gian để giáo hóa chúng sinh, thì có biết được chăng nhân, nghĩa, lễ, trí, tín (8)? Như thế tất cả thiện pháp của thế gian (sẽ) đều đoạn, tất cả (các pháp) xuất thế gian đều diệt. Ông chỉ biết năm tội nghịch là nặng, mà không rõ là năm tội nghịch do không có chính pháp mà sinh. Cho nên kẻ phỉ báng chính pháp, tội ấy nặng nhất.

Hỏi rằng: Kinh Nghiệp Đạo có nói: nghiệp đạo (9) như cân, cái nặng kéo trước (10). Như kinh Vô Lượng Thọ nói: có người tạo năm nghịch, mười ác, đủ hết các bất thiện, đáng đọa ác đạo trải qua nhiều kiếp chịu khổ vô lượng. Ngay khi mệnh chung, gặp thiện tri thức dạy xưng (danh) Nam mô A Di Đà Phật, như vậy dốc lòng khiến tiếng không dứt, đủ hết mười niệm, liền được vãng sinh tịnh độ An Lạc, tức nhập vào tụ (11) chính định của Đại thừa, rốt cùng không thối (chuyển nữa), vĩnh viễn cách xa các khổ của ba đường (ác). (Nếu vậy) ý nghĩa “kéo trước” (của kinh Nghiệp Đạo), theo lý lẽ thì (phải hiểu) thế nào? Lại bao kiếp đến nay, tạo đủ các pháp hữu lậu (thuộc) hành (12), (vốn) ràng buộc vào ba cõi, (nay) chỉ lấy mười niệm (để) niệm A Di Đà Phật, liền ra khỏi ba cõi, (thì cái) ý nghĩa nghiệp ràng (buộc) là (hiểu nó) ra làm sao đây?

Đáp rằng: Ông cho các thứ năm nghịch, mười ác, nghiệp ràng buộc là nặng, cho mười niệm của kẻ hạ hạ phẩm là nhẹ, đáng bị tội kéo đi, trước (phải) đọa địa ngục, (buộc) ràng trong ba cõi. Nay xin lấy nghĩa so lường, (thì) ý nghĩa nặng (và) nhẹ là nơi tâm, nơi duyên, nơi quyết định (chứ) không nơi thời gian lâu, gần, nhiều, ít vậy. Thế nào là nơi tâm? Kẻ tạo tội kia (là do) tự y nơi (các cái) thấy điên đảo hư vọng mà sinh (tội). Mười niệm là y theo thiện tri thức phương tiện (13) (mà) an ủi, (và) nghe pháp thật tướng (mà) sinh (mười niệm). Một thật một hư, sánh được với nhau hay sao. Ví như căn phòng ngàn năm tăm tối, ánh sáng (chỉ cần) tạm đến thì liền sáng sủa. Tối tăm chả lẽ nói được là (vì) ở trong phòng ngàn năm (rồi) nên không (biến) đi sao? Đó gọi là nặng nhẹ nơi tâm. Thế nào là duyên? Kẻ tạo tội kia tự y nơi tâm vọng tưởng, y theo chúng sinh phiền não hư vọng quả báo (14) mà sinh (tội), còn mười niệm ở đây là y nơi tâm tín vô thượng, y theo danh hiệu (vốn là) phương tiện trang nghiêm chân thật thanh tịnh vô lượng công đức (15) của A Di Đà Như Lai mà sinh (mười niệm). Ví như có người bị trúng tên độc, đứt gân gẫy xương, (nếu) nghe (được) trống thuốc (16) trừ độc, thì tên (độc tự động rơi) ra (và) (chất) độc (tiêu) trừ. Lẽ nào lại nói được rằng bị tên sâu độc nặng, nghe tiếng trống nổi mà không nhổ được tên, trừ được độc hay sao? Đó gọi là (nặng nhẹ) nơi duyên. Thế nào là nơi quyết định? Người tạo tội kia, y nơi tâm (còn) có sau (17), tâm có gián đoạn (18) mà sinh tội. Mười niệm đây là y nơi tâm không có sau, tâm không gián đoạn mà sinh (mà niệm). Đó gọi là (nặng nhẹ) nơi quyết định. So lường ba nghĩa (với nhau) (cho thấy rõ là) mười niệm là nặng, nặng thời kéo trước (nên) có thể ra khỏi ba (cõi) hữu, hai kinh trên đồng một nghĩa vậy.
(Trích từ "Vô Lượng Thọ Kinh Ưu Bà Đề Xá Nguyện Sinh Kệ Chú" do Đàm Loan Đai Sư chú giải)

http://www.huongquang.com/tinhnghiep/index.php?option=com_content&view=article&id=253:hieu-nhu-the-nao-doi-voi-loi-nguyen-thu-18&catid=1:tinh-do&Itemid=81

gioidinhhue
23-04-2010, 13:28
Do họ không biết chính mình là nghiệp lực phàm phu

39. Thư trả lời cư sĩ Châu Quần Tranh



Hòa Thượng Liễu Thanh đưa thư của ông cho tôi đọc, cảm kích sâu đậm tấm lòng chân thật vì pháp của cư sĩ. Ông yêu mến tôi tới tột bậc, nhưng chẳng biết cách yêu mến, nên chẳng thể không trình bày đại khái để dứt nghi tình. Bộ Phật Môn Vựng Tải được biên soạn nhằm chấn hưng pháp đạo, chỉ dạy kẻ ngu mê, nếu [tác phẩm nào] lý không đạt tới mức uyên thâm, bút mực không siêu diệu như biển rộng trời cao, vàng rung, ngọc chạm, khiến cho người khác vừa đọc sẽ sanh lòng tỉnh ngộ mạnh mẽ như trong đêm tối nghe tiếng chuông sẽ tỉnh ngay giấc mộng hư huyễn thì làm sao đáng đưa vào trong ấy! Ấn Quang là một ông Tăng tầm thường, trăm sự chẳng làm được một, mắt lại còn bị tật đã lâu, chẳng thể đọc khắp các kinh luận, lại trọn chẳng có tánh nghe, nghe xong liền quên sạch, trọn chẳng nhớ được tí ti nào! Làm sao có thể dự vào trong hội tốt lành ấy cho được? Trong mấy chục năm qua, không có chuyện gì [cần thiết] thì tôi chẳng gần gũi bút mực. Úy Như sưu tập những bản văn hủ bại đem khắc ván là đã quá phận rồi, huống chi nay lại giao cho Thời Sự Tân Báo Quán ư?

Tục ngữ có câu: “Không gạo không sao nấu cơm được!” Không phải là Quang chẳng muốn được thể diện, nhưng do không có gạo nên chẳng thể đem đất, đá, trấu, tấm giả làm món ăn ngon lành khiến cho người khác chê cười! Đối với dòng họ ngoài đời, năm tháng xuất gia, những chỗ đã trụ, những chuyện đã làm, đấy chính là những dữ liệu về bậc đại thông gia có công đối với pháp đạo nên được người đời sau sao chép để nêu gương nhằm phát khởi cái tâm kính ngưỡng, mong mỏi, hâm mộ của người khác nên không thể nào chẳng làm như vậy. Còn như Quang là một ông Tăng tầm thường, ngoài chuyện ăn ngủ ra, trọn chẳng biết gì cả, trọn chẳng làm được gì! Sao đáng để noi theo khuôn sáo ấy? Dùng khuôn sáo ấy sẽ trở thành khắc phân người giả làm Chiên Đàn, đẹp thì đẹp mặt thật đấy, nhưng chỉ thối tha, không thơm tho gì! Cũng giống như đem đất, gỗ giả làm vàng ngọc, choáng lộn thì choáng lộn thật đấy, nhưng chỉ có sắc chứ chẳng thể tỏa sáng được! Khi chưa xuất gia, Quang đã coi chuyện hư trương thanh thế là điều đáng thẹn, huống chi nay đang muốn theo gót các vị thượng thiện nhân ưu du trong thế giới An Dưỡng! Há chịu biến không thành có để lừa đời, dối mình ư?

Một câu Nam Mô A Di Đà Phật chỉ cần niệm cho thuần thục thì thành Phật còn có thừa, không học Mật pháp nào phải áy náy gì? Mỗi ngày niệm Phật ba chục vạn câu thì ý căn lẫn thiệt căn đều nhạy bén, nhưng đừng chỉ hâm mộ niệm cho nhiều! Hãy nên dốc sức nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối mà thôi! Hơn nữa, những kẻ tu hành phù phiếm, hời hợt hiện thời phần nhiều đều chẳng tu hành chân thật, chỉ mong được hư danh. Quang từng thấy rất nhiều kẻ công khóa hằng ngày niệm Phật tới mười vạn câu Di Đà, nhưng đều là phô phang thanh thế sáo rỗng nhằm dối mình lừa người mà thôi! Hễ nhiễm phải thứ tập khí ấy thì sẽ chỉ nhọc nhằn chứ không có công hiệu gì đâu! Nhỏ thì sẽ biến không thành có, lớn thì đem phàm lạm thánh, chẳng những không có công lao gì mà tội lỗi cũng chẳng thể nói trọn hết được!

Hiện nay tăng nhân tuy nhiều, nhưng kẻ có thể hoằng pháp thật ít. Do thỉnh pháp sư chẳng dễ, cho nên đến nỗi như thế. Nhưng nghe kinh giống như tu trì Tịnh nghiệp, hễ nêu rõ nguyên do của tự lực và tha lực thì sẽ có lợi lớn lao. Nếu chỉ cầu thông đạt giáo nghĩa, chẳng chú trọng Tịnh Độ thì sợ rằng sẽ không có sức đoạn Hoặc chứng Chân. Muốn đới nghiệp vãng sanh mà lại chẳng sanh tín nguyện thì tuy có Phật lực nhưng không có cách nào nương cậy, sẽ trở thành kẻ có nhân không quả, nghiệp thức mờ mịt! Cần biết rằng: Những giáo pháp được nói trong suốt một đời đức Phật đều thuộc về pháp môn tự lực, chính là giáo lý theo đường lối thông thường; còn Tịnh Độ chính là pháp môn đặc biệt, hoàn toàn cậy vào Phật lực. Nếu có thể đoạn Hoặc chứng Chân ngay trong đời này thì chẳng cậy vào Phật lực cũng chẳng mắc lỗi gì! Chứ nếu đã không thể đoạn Hoặc chứng Chân ngay trong đời này mà lại chẳng cậy vào Phật lực thì nếu không ngu ắt cũng là cuồng! Những bậc đại thông gia hiện thời thường là như thế đấy, buồn thay!

Người học đạo chuyện gì cũng phải noi theo thật tình, cuối thư há nên dùng chữ “trăm lạy” sáo rỗng? Chắc là ông nghĩ khuôn phép sáo rỗng ấy là cung kính đấy chăng? Từ nay về sau đừng nên như thế nữa! Chỉ nói “đảnh lễ” là được rồi!

Thư của Lâm Tâm Liên hỏi về Lý Trác Ngô. Người này cũng thuộc hạng “tưởng chừng là đúng mà thật ra là sai!” Xét ra, ông ta xuất gia nhưng không thọ giới, liền tự nói pháp, tới khi người trong vùng chê là tà thuyết, ngông cuồng, trái nghịch, bèn đội mũ làm nhà Nho. Xét theo học thức của Trác Ngô, làm sao có thể phô bày, đề cao tâm pháp của Thích - Nho được? Ông ta đột ngột hoàn tục tức là hành vi không có đường lối nhất định, cứ làm bừa theo ý mình. Há còn đáng gọi là bậc quân tử hiểu lý, thấu hiểu tận cùng tánh hay chăng? Cuốn Cư Sĩ Truyện[43] đặc biệt viết truyện về ông ta, quả thật là đề cao quá đáng! Sợ ông Lâm vẫn chẳng chấp nhận lời Quang là đúng, vì thế tôi viết kèm thêm vào thư gởi cho ông.

Ông muốn xuất gia đã lâu, chẳng biết khẩn thiết như thế nào? Nay thấy [cách xử sự khi] ông ở chùa Thái Bình thì cũng là phường hời hợt, hờ hững. Tức là[color=#FF0000] ông muốn xuất gia chỉ nhằm cầu được thanh nhàn, tự tại mà thôi! Nếu thật sự muốn tu trì sẽ chẳng đến nỗi thong dong, lửng lơ như thế![/color]

[color=#4000FF] Kinh Lăng Nghiêm có gì mà chẳng thể nghiên cứu [/color]được! Nhưng [color=#FF0000]cần phải lấy Tịnh Độ làm chủ [/color]thì [color=#FF0000]hết thảy kinh sẽ xiển dương lợi ích của Tịnh Độ.[/color] Phần mở đầu kinh Lăng Nghiêm [color=#4000FF]gạn hỏi cái tâm khó khăn như thế thì biết chúng sanh đời Mạt nếu cứ muốn nghiên cứu [kinh điển xuông] để giải quyết sự việc thì sẽ tự lầm, lầm người lớn lao! [/color]Huống chi trong phần Hai Mươi Lăm Pháp Viên Thông, kinh [color=#4000FF]xếp pháp Viên Thông của ngài Thế Chí trước pháp Viên Thông của ngài Quán Âm, hàm ý lấy Tịnh Độ làm [pháp môn] chủ yếu cũng lớn lao thay![/color] Đến phần giảng rõ về [color=#4000FF]cảnh Ngũ Ấm Ma, [Phật dạy] kẻ phá được hai ấm Sắc và Thọ mà vẫn còn có chuyện bị ma dựa, đủ thấy sự khó khăn khi dùng tự lực để liễu sanh tử, sự dễ dàng khi dùng Phật lực để liễu sanh tử.[/color] Nghiên cứu được như thế thì sẽ có lợi ích lớn lao.

Phàm [color=#4000FF]khi nghiên cứu, ắt phải lắng lòng, dứt bặt suy nghĩ, ngưng thần đọc kỹ[/color] thì sẽ [color=#4000FF]như vào trong đảo châu báu lớn, ắt sẽ có thu hoạch.[/color] Nếu [color=#4000FF]chỉ mong đọc ào ào cho nhanh, hận chẳng vừa đọc là xong ngay, thì chẳng những không hiểu được nghĩa lý của kinh mà lâu ngày chắc sẽ bị bệnh đến nỗi tổn khí, thổ huyết v.v…[/color] Người [color=#4000FF]khéo được lợi ích, không gì chẳng tạo lợi ích; kẻ cam chịu tổn hại, không gì chẳng phải là tổn hại![/color] Kinh Lăng Nghiêm quả là bản kinh mầu nhiệm để hoằng dương Tịnh Độ,[color=#4000FF] nhưng kẻ chưa hiểu pháp môn Tịnh Độ thường do kinh Lăng Nghiêm mà ngược ngạo coi thường pháp môn Tịnh Độ[/color]. Đấy gọi là “kẻ nhân thấy là nhân, kẻ trí thấy là trí”, do chính mình chưa có đủ chánh nhãn, cứ cậy vào ý kiến của chính mình để hiểu ý kinh mà ra!

Lăng Nghiêm quán nhiếp[44] khá rõ ràng, nhưng giải thích kinh văn dễ dàng, rõ ràng nhất thì không gì bằng sách [Lăng Nghiêm] Chỉ Chưởng; nhưng đa số những chỗ trọng yếu trong Chỉ Chưởng lại không theo sát kinh văn, đấy là do mỗi người khéo hiểu mà thôi![color=#0080FF] Thoạt đầu cần phải nghiên cứu Tịnh tông đến chỗ không còn bị dao động, mê hoặc thì mới có thể đọc rộng rãi các kinh luận.[/color] Nếu chưa hiểu rõ Tịnh tông, hễ đọc rộng rãi các kinh luận sẽ khó khỏi bị kinh giáo hoặc lời lẽ của tri thức xoay chuyển, ngược ngạo gác bỏ Tịnh Độ ra ngoài. [color=#4000FF]Người đời nay hễ hiểu kinh giáo đôi chút bèn chú trọng nơi nghiên cứu, hễ hơi hiểu Thiền ý bèn chú trọng nơi tham cứu.[/color] Nguyên nhân nói chung là[color=#FF0000] do họ không biết chính mình là nghiệp lực phàm phu chẳng thể tự chứng giải thoát[/color] được! [color=#4000FF]Cái cực thâm diệu nằm ở chỗ cực bình thường! Ví như một câu Phật hiệu vốn cực bình thường, nhưng niệm tới cùng tột thì trăm ngàn pháp môn, vô lượng diệu nghĩa đều có thể hiểu được![/color] Lại [color=#4000FF]như gốc cây, vốn cực bình thường, nhưng sanh rễ, nẩy mộng, đâm cành, trổ nhánh, nẩy lá, đơm hoa, kết quả, thật mầu nhiệm chẳng thể nghĩ bàn! [/color]Vì thế, kẻ biết nhìn vào, biết [color=#4000FF]thực hiện cái bình thường thì chính mình mới thật sự có sở đắc.[/color] Nếu [color=#4000FF]chỉ biết thâm diệu thì phần nhiều khó thể tận tụy thực hiện được, trở thành kẻ chỉ biết nói những lời lẽ thâm diệu mà thôi![/color]

Lệnh hữu bị bệnh, chỉ nên khuyên ông ta trở về nhà dưỡng bệnh. Vàn muôn phần chớ nên để ông ta tới Phổ Đà; do ông ta quen thói kẻ cả, thức ăn phải nấu nướng khéo léo, nhà cửa phải lộng lẫy, người hầu hạ phải lanh lợi, hễ gặp một chuyện gì không vừa ý liền sanh phiền não! [color=#4000FF]Ở Pháp Vũ chẳng có một điều nào hợp ý ông ta được đâu! Huống chi ông ta tự cao tự đại, trọn chẳng có tín tâm, tuy anh ông đã ghi tên xin quy y giùm ông ta, thế mà khi Quang đến Thượng Hải, ông ta trọn chẳng có một lần nào đến thăm hỏi (Quang không trách ông ta bất kính, nhưng do vậy biết ông ta tự đại cũng như thiếu hẳn tín tâm)[/color]. Làm sao tới núi dưỡng bệnh cho được? Nếu chẳng nói rõ những chuyện này, chắc ông ta sẽ nghe theo lời hai anh em ông khuyên, đường đột chẳng nghĩ thân phận, tánh tình của mình như thế nào, Pháp Vũ là nơi chốn như thế nào để rồi đến ngay, sẽ trở thành chướng ngại, không bao lâu sẽ phải bỏ đi, đâm ra bị tổn hại vô ích! Ngàn vạn phần đừng khuyên ông ta tới núi kẻo đến nỗi đôi bên đều bất an.

Sư Hoằng Nhất chỉ muốn làm một gã tự giải thoát, muôn phần chẳng thể đảm nhiệm sự việc được! [color=#4000FF]Do thầy ấy tâm hạnh tỉ mỉ, tinh tế, hễ phải đảm nhiệm công việc sẽ bị tổn thương, hễ bị tổn thương sẽ phải bỏ cuộc giữa chừng.[/color] Nếu tự mình dụng công thì sẽ được yên vui.

[color=#4000FF] Mua loài vật phóng sanh, nếu dựa theo lý rốt ráo “tự thương, thương người” để luận[/color], [khi con vật bị chết trước lúc được phóng sanh] cố nhiên nên đem chôn, chớ nên đổ xuống nước khiến xác con vật đã chết trôi lềnh bềnh trong nước, rốt cuộc chẳng phải là kế sách tốt đẹp! [color=#4000FF]Nếu bảo là vì nó đã chết, liền đem cho người khác ăn và thí cho người nghèo ăn thì cũng không phải là không được. [/color]Hãy[color=#40BF00] nên bảo người ăn niệm Phật cho con vật đã chết ấy thật nhiều bởi nó là con vật được phóng sanh; nếu không, ăn vào sẽ bị mắc tội.[/color] Nếu [color=#4000FF]có thể niệm Phật cho nó thì đôi bên đều được lợi ích. Dùng điều này để khuyên bảo thì cũng có thể dẫn dụ người ăn kia gieo được chút thiện căn.[/color] Dẫu [color=#4000FF]chưa thể thả được sanh vật thì đối với những thức ăn do chính mình sắm sửa, hãy nên niệm Phật cho nó thì đôi bên cũng đều được lợi ích.[/color] Ông [color=#4000FF]chấp chặt hẹp hòi như thế, cho rằng đã nói quy y niệm Phật thì không được ăn, tức là dạy kẻ ăn thịt nhất loạt chẳng niệm Phật![/color] Những [color=#408000]kẻ ăn thịt ấy chỉ biết thịt là thứ có vị ngon, chẳng biết sau này khi chính mình cũng sẽ là thức ăn có vị ngon[/color] để cho người khác giết ăn thì trong tâm họ mới cảm thấy khó chịu.[color=#4000FF] Kẻ ấy đã chẳng hiểu sự việc như thế thì đành để mặc cho kẻ ấy sau này đợi người khác giết ăn là được rồi; cần gì phải phí sạch tâm tư khuyên nhủ hắn![/color] [color=#0000FF]Hắn đã mong cầu được người khác ăn hắn, ông khuyên hắn đừng muốn tìm cầu sự khổ ấy, đâm ra trong tâm hắn lại chẳng yên vui! [/color]Cứ [color=#4000FF]để mặc hắn đi, để cho hắn đem thân làm món ăn cho người khác; đến lúc ấy, dẫu tâm can đau xé cũng vô ích.[/color] Khi ấy hắn sẽ tự hiểu sự sai lầm trong lúc này và lời ta đã nói với hắn chẳng phải là dọa dẫm thì cũng đã muộn rồi!

[color=#4000FF] Thuốc là vật dùng để trị bệnh, hễ bị bệnh do nghiệp gây ra thì thuốc men chẳng làm gì được[/color] cả! Huống hồ sắp chết thì thuốc có thể hồi sanh được hay chăng? [color=#4000FF]Dẫu không phải là do nghiệp gây ra mà chí tâm niệm Phật thì cũng sẽ tự chẳng sanh bệnh.[/color] Mắc bệnh thì uống thuốc cũng được! Nếu chuyên trông cậy vào thuốc thì nhà phú quý, nhà thầy thuốc sẽ không có ai bệnh tật, đều trường thọ cả rồi!

Những [color=#4000FF]kẻ ăn thịt kia do tâm tham sai khiến, muốn bảo họ đừng ăn thì phải từ nhân quả báo ứng và nỗi đau khổ, oán kết phát sanh vì bị giết hại mà nói thì mới dễ lay động lòng người [/color]được! Nếu [color=#4000FF]chỉ biện minh là tịnh hay bất tịnh thì đấy chỉ là sự việc nơi cành nhánh. Hơn nữa, người ta đã muốn ăn thì đâu cần bận tâm thịt là thứ bất tịnh![/color] Trước kia,[color=#4000FF] có một vị đại cư sĩ hoằng pháp mấy chục năm, nhưng hằng ngày vẫn ăn thịt [/color](tên của vị này Quang chẳng nói, ông cứ suy ra là biết liền), [color=#4000FF]huống chi những kẻ hời hợt, hờ hững ư?[/color] Nếu ông [color=#4000FF]thật sự muốn làm lợi người khác, hãy nên lưu truyền những lời răn dạy cực thống thiết của cổ nhân.[/color] Còn như trong bài văn ông đã soạn, ông[color=#4000FF] nêu ý nghĩa “một người phóng sanh thì mười nhà được hưởng lợi ích” và thuyết “những thứ ấy chẳng phải là tam tịnh[45] nhục” thì đấy chính là những nghĩa lý chi ly, vụn vặt, phiền phức của các vị giảng sư.[/color] [Nghe nói về những nghĩa ấy], kẻ có tín tâm thì còn sanh được thiện tâm, chứ kẻ không có lòng tin chắc sẽ phỉ báng.

Tôi đã nhận được bài văn Mười Thứ Lợi Ích, đem tặng hết rồi. Suy nghĩ cặn kẽ thì thấy những điều được nói trong bài văn ấy sẽ có thể khiến cho những gã đứng ngoài cửa dấy lên lời dị nghị, hễ tặng hết bài văn ấy xong hãy đừng in nữa thì hơn. [color=#4000FF]Tôi chẳng bảo những lời ông nói không đúng, chỉ là chưa nói được cương lãnh trọng yếu. Cương lãnh trọng yếu là ở chỗ nào? Chính là ở chỗ [sát sanh] sẽ kết oán thù triền miên, đời đời kiếp kiếp tàn sát lẫn nhau.[/color] Ông chỉ[color=#4000FF] nên chí tâm niệm Phật để làm phương kế siêu thoát cho những kẻ giết chóc và những con vật bị giết chóc thì sẽ có lợi ích lớn lao.[/color] Nếu khăng khăng đem bài văn ấy đăng trong các tờ báo Phật giáo thì rốt cuộc có được mấy ai xem? [color=#FF0000]Vợ và em gái ông nhất định muốn dùng thịt để đãi khách, hai người ấy chết đi chắc chắn phải biến thành lợn, dê, gà, vịt, tôm, cá.[/color] [color=#4000FF]Nếu chẳng biến thành những thứ bị người khác giết để ăn thì trời đất cũng sẽ đổi vị trí, mặt trời, mặt trăng sẽ xoay sang phương Đông. [/color]Vì sao vậy?[color=#00BF00] Do nhân như vậy nên phải cảm quả như vậy.[/color] Xin hãy [color=#0040FF]đem lời này của Quang đưa cho họ xem, chắc còn có thể cứu được! Nếu không, chắc họ sẽ thường biến thành món ăn ngon nhất cho người ta đãi khách, chẳng biết họ sẽ vừa lòng thỏa ý hay đau khổ mong mỏi được cứu nhưng vạn phần chẳng có cơ duyên được cứu? Trong cõi đời, những người ăn chay phần nhiều khỏe mạnh, những ai ăn thịt thường lắm bệnh tật.[/color] Do[color=#FF0000] ăn thịt trược ác nên dễ sanh dục tâm, ăn chay thanh tịnh nên dục tâm nhẹ ít[/color]. Kẻ [color=#FF0000]ngu chẳng hiểu lý, tưởng ăn thịt để bổ dưỡng con người, đấy là muốn cho cả mình lẫn người sẽ đều biến thành súc sanh trong đời kế tiếp và đời sau,[/color] chẳng đáng buồn ư?

Ông nay [color=#FF0000]muốn cầu được vãng sanh Tây Phương ngay lập tức, ý niệm ấy cũng tốt, nhưng chỉ nên thuận theo nhân duyên của chính mình.[/color] Nếu [color=#FF0000]đặc biệt khởi lên cái tâm quyết liệt, cứ mong được vãng sanh ngay[/color] thì sẽ [color=#FF0000]trở thành cái gốc để bị ma dựa đấy![/color] Cái họa mai sau làm sao tưởng tượng được! Sách Trung Dung có câu: “Quân tử tố kỳ vị nhi hành. Tố hoạn nạn hành hồ hoạn nạn”[color=#FF0000] (Quân tử hành xử theo đúng địa vị; gặp cảnh hoạn nạn bèn cư xử theo đúng cảnh hoạn nạn).[/color] Cách cư xử theo đúng cảnh hoạn nạn ấy nay ông hãy nên bắt chước làm theo[color=#4000FF]. Gặp cảnh tật bệnh, phiền não bèn cư xử theo đúng cảnh tật bệnh, phiền não, coi chính mình là kẻ thường bị bệnh tật thì không có cái tâm bộp chộp mong gấp được lành, cứ nhất tâm niệm Phật thì mới chóng lành.[/color] Thấy [color=#FF0000]quyến thuộc đáng giận hay đáng yêu liền nghĩ những người ấy chính là hòn đá thử vàng để ta trui luyện công phu nên đặc biệt đối với kẻ đáng giận sẽ chẳng sanh lòng giận, đối với kẻ đáng yêu sẽ chẳng sanh lòng yêu.[/color] Đấy gọi là “chuyển phiền não thành Bồ Đề, chuyển bệnh khổ thành an lạc”. Nhất tâm niệm Phật cầu mau được vãng sanh.[color=#FF0000] Nếu như chẳng thể vãng sanh được ngay, chớ nên khởi lên tâm niệm bộp chộp, mong gấp đạt được thì bệnh khổ sẽ tự tiêu diệt, quyến thuộc sẽ tự hòa thuận [/color]tốt lành. Xin ông hãy suy nghĩ sâu xa. [color=#00BF00]Bệnh chưa hoàn toàn bình phục hẳn, trọn chớ nên gần nữ sắc[/color]!

[color=#0040FF] Hiện thời trừ đề xướng nhân quả báo ứng và giáo dục trong gia đình ra, sẽ chẳng thể nào cứu vãn được [/color]đâu! [color=#FF0000]Giáo dục trong gia đình phải rất chú trọng tới nhân quả báo ứng. [/color]Các vị Lưu, Trì đáng gọi là [color=#4000FF]biết bệnh, biết thuốc, nhưng chưa đề cập đến giáo dục trong gia đình thì vẫn chưa thể viên mãn [/color]đầy đủ. Xin hãy nói tường tận với các vị ấy.

Đức Như Lai [color=#4000FF]thuyết pháp đều thuận theo tình người[/color],[color=#FF0000] chẳng ép người khác làm chuyện khó [/color]khăn. Như [color=#4000FF]kẻ thọ giới Ưu Bà Tắc, hoặc thọ một, hoặc hai, hoặc ba, hoặc bốn điều, hoặc thọ trọn đủ, đều tùy theo ý muốn của con người.[/color] Ngay như [color=#4000FF]giới dâm, kẻ xuất gia phải đoạn hoàn toàn, chứ với người tại gia chỉ ngăn cấm tà dâm[/color]. Bởi lẽ, [color=#FF0000]nam nữ lập gia đình có quan hệ lớn với luân thường nên chẳng ngăn cấm;[/color] nhưng [color=#FF0000]đã thọ giới nhà Phật thì ắt phải tiết dục.[/color] Nếu[color=#FF0000] chẳng vì [có người nối dòng để] thờ phụng tổ tiên, chỉ mong vui sướng, tuy chẳng phạm giới vẫn phạm lỗi[/color] lớn; chẳng qua [color=#4000FF]so với tà dâm thì giảm nhẹ hơn mà thôi! [/color][color=#00BF00]Bồ Tát sống trong cõi tục tuy cũng có vợ con nhưng không có dục niệm[/color], cũng [color=#4000FF]vì thuận theo tình cảm con người mà có lúc làm chuyện vợ chồng, bởi phàm phu chẳng thể vô tình.[/color] Nếu[color=#4000FF] muốn trọn chẳng thân ái, chắc sẽ tạo thành oán hận đến nỗi khởi lên họa hại hủy báng Phật pháp. [/color]Chẳng những [color=#4000FF]không thể tăng trưởng thiện căn mà còn tạo thành nghiệp hủy báng, đọa lạc trong ác đạo[/color]. Vì thế, [color=#FF0000]trước hết phải dùng dục để lôi kéo, sau mới làm cho con người tiến nhập Phật trí.[/color] Đấy [color=#0000FF]chính là lòng đại từ bi uyển chuyển thuận theo tình cảm của con người, khéo bày phương tiện[/color]. Chỉ[color=#0040FF] nên tiết dục, bất tất phải tuyệt dục. Mỗi quý (ba tháng) gần gũi một lần, ngõ hầu vợ chẳng đến nỗi mang nỗi khổ oán vọng mà sự tu trì của ông cũng chẳng bị trở ngại, lại còn có thể dẫn dụ vợ tu trì Tịnh nghiệp.[/color]

Hãy nên nói:[color=#FF0000] “Nếu chẳng tu hành Tịnh nghiệp sẽ vĩnh viễn tuyệt giao!”[/color] Cô ta sẽ gắng sức thực hành. Đối [color=#4000FF]với chuyện có sanh con hay không, chẳng cần phải bàn đến nữa! Bởi lẽ anh em ông thật đông con, há cứ cần chính mình phải có con thì mới chẳng tuyệt dòng nối dõi tổ tiên ư?[/color] Ấy là [color=#4000FF]vì vợ chồng ăn ở với nhau bởi có túc duyên. Chẳng thể làm cho vợ mình gieo thiện căn, nỡ lòng bỏ mặc cô ta đọa trong ác đạo ư? [/color]Kinh Thi có câu: “Thê tử hảo hợp, như cổ cầm sắt. Huynh đệ ký hấp, hòa lạc thả trạm. Nghi nhĩ thất gia, lạc nhĩ thê noa” (Vợ con hòa hợp, như gảy đàn cầm, như đánh đàn sắt. Anh em hòa thuận, vui sướng, yên ổn. Gia đình êm ấm, vợ con vui vầy). Khổng Tử nói: “Phụ mẫu kỳ thuận hỹ hồ!” (Cha mẹ đẹp lòng vậy thay). [color=#4000FF]Ông nhất ý tu hành, đoạn tuyệt dục sự, chắc cô ta sẽ oán hận triền miên, hoặc đến nỗi uất ức mà chết.[/color] Nếu [color=#4000BF]ông quả thật đạt được Thượng Phẩm Thượng Sanh thì không bị trở ngại lớn lao gì. Nếu không, sẽ mắc lỗi trái ý cha mẹ, trở thành kẻ oán đối của vợ thì cũng là phiền lụy lớn lao, so với nỗi phiền lụy do nới lỏng dục sự đôi chút thì sẽ sâu đậm hơn nhiều lắm! [/color]Quang [color=#4000FF]là Tăng nhân, trọn chẳng khuyên người khác tạo nghiệp. Người ta đã đem thân giao phó cho ông thì hãy nên trọn hết đạo vợ chồng.[/color] [color=#4000FF]Chuyện này chính là nghĩa trọng yếu trong đường tu hành, là điều chí tình nơi luân thường.[/color] Xin ông [color=#FF0000]hãy phát Bồ Đề tâm, dẫn dắt cô ta là kẻ chẳng biết “dục chính là cội khổ” cùng sanh về thế giới Cực Lạc[/color] vô dục, ngõ hầu chẳng phụ đời trước có duyên với nhau, đời này làm vợ chồng vậy!

Lại nữa, [color=#4000FF]nếu vợ sanh con thì sẽ là phiền lụy lớn[/color] lao. [color=#4000FF]Không con thì sẽ yên vui tột bậc![/color] Nhưng cháu cả một bầy, chứ đâu phải chẳng có đứa con nào! Luận sát sao theo sự thật thì ông có phước thù thắng hơn anh em ông nhiều lắm, nhưng người đời phần nhiều chẳng thấy được điều này, nên suốt cả đời làm đầy tớ cho con cái. Thử suy nghĩ sẽ thấy quả thật là một điều may mắn lớn lao! Lời này tuy trái nghịch tình cảm, nhưng thật ra là chí lý chí tình.

Bảy anh em của ông nội lệnh hữu do cùng một cha sanh ra, con cháu của ông nội thứ năm[46] đều là hậu duệ của cùng một ông cố. Vì hai gian nhà cho thuê thâu nhập hơn ba trăm đồng liền muốn kiện nhau nơi cửa quan, chắc sẽ tốn bộn tiền. Chuyện kiện tụng chỉ là khoe tài cãi lý, muốn biến vô lý thành chuyện hữu lý! Nếu họ khởi lên ác tâm, thốt ra lời ác [chửi bới, tranh chấp nhau], sẽ khiến cho người chung quanh cũng như người đời xầm xì[color=#4000FF]: “Nhà ấy tổ đức đã suy nên lũ con cháu trong cùng một nhà tranh chấp lẫn nhau, anh em bêu riếu nhau!”[/color] Nhục [color=#4000FF]lây đến tổ tiên, tội không chi lớn hơn nữa![/color] [color=#40BF00]Chuyện nhỏ tí tẹo trong gia đình, hãy nên nghĩ đến ân đức tổ tiên mà đặc biệt rộng lượng, chớ nên [xử sự] giống như tranh chấp cùng người đời![/color] Dẫu là [color=#0000FF]đối với người trong cõi đời đi nữa, vẫn nên làm chuyện nghĩa, chỉ mong cho ai nấy được sống yên vui, dẫu ngàn vàng cũng chẳng nuối tiếc![/color] Huống chi [ai nấy] đều là hậu duệ của cùng một cụ cố hay sao?

Bảy chi họ đều [color=#4000FF]có sản nghiệp, chi dụng trong nhà cố nhiên chẳng cần phải nhờ vào mối thu nhập ấy để sống còn, sao lại ăn thua đủ với nhau, chẳng ai chịu nhường ai?[/color] Vì [color=#4000FF]tranh chấp món tiền mấy chục đồng ấy mà kiện nhau ra cửa quan, chưa chắc bảy chi họ đã khỏi phải tốn một đồng nào! Dẫu chẳng phải tốn một đồng nào đi nữa, không gì bằng chôn vùi tổ đức, nỗi nhục ấy còn quá bại gia phá sản! [/color]Chỉ[color=#4000FF] vì một chi họ tuy vẫn đủ ăn, nhưng toan độc chiếm tài sản chung do tổ tiên để lại, đến nỗi sáu chi họ kia cùng dấy lên cái tâm bất bình, tức là đã vứt bỏ tổ tiên ra ngoài, chỉ muốn mưu tính cho con cháu [của chi họ mình] được giàu có, trái nghịch tổ đức, phạm các điều ác! [/color]Đừng nói là hơn ba trăm đồng, dẫu cho ba trăm vạn đồng đi nữa cũng chẳng phải là điều phước cho con cháu mà chính là chuốc họa cho con cháu để mong cho chúng bị tuyệt diệt đấy! Đọc sách hiểu lý, sao lại tăm tối đến như thế?

Hãy thử xét xem: [color=#4000FF]Xưa nay những ai giúp người lợi vật, tôn kính tổ tiên, thương yêu cho dòng họ, con cháu không ai chẳng nắm địa vị cao, hưởng phước dầy, đời đời kế thừa tổ đức triền miên chẳng dứt?[/color] Kẻ chỉ biết lợi mình, chẳng đoái hoài tổ tông, đất nước, nhân dân, không ai ba đời chẳng nối tiếp nhau tuyệt diệt hay chăng? Vì sao vậy? [color=#4000FF]Do căn bản tâm địa đã hoại, giống như dùng nước có chất độc để tưới tắm cây hoa, lúa, đậu, chẳng những vô ích mà còn có hại![/color] Nếu [color=#0000FF]một chi họ đã như vậy thì sáu chi họ kia há nên bắt chước ăn thua đủ, cứ muốn “cá đối bằng đầu” với họ, trọn chẳng muốn chiếm địa vị cao cả, cứ nhất quyết phải cùng với họ chen chân vào chốn hèn hạ ô uế ư?[/color]

Hãy nghĩ xem: Nếu tổ tiên chẳng để lại căn nhà ấy thì có còn làm người được hay chăng? Lại [color=#0000FF][color=#0000FF]may mắn là tổ tiên để lại lắm của cải, chứ nếu nghèo trắng tay thì sẽ tranh giành với ai?[/color] Suy nghĩ đến điều ấy thì nhường cho bọn anh em trong họ mấy chục đồng có gì mà không được? [/color]Phạm Văn Chánh (Phạm Trọng Yêm) còn tậu nghĩa điền cho cả họ, huống là anh em cùng một nhà ư? Họ Phạm từ đầu đời Tống cho đến cuối đời Thanh đỗ đạt chẳng dứt, ấy là do đức dầy của Văn Chánh Công và con cháu đời đời vâng giữ, tu tập tổ đức mà ra. Bọn anh em cùng một chi họ của lệnh hữu đều là con em nhà thư hương, dẫu chẳng nghe tới đạo lý rất sâu của Phật pháp, nhưng những chuyện ấy (tức gương tốt đẹp của Phạm Trọng Yêm) chắc đã từng nghe, sao chẳng [color=#4000FF]“thấy người hiền mong được bằng” [/color]để chú trọng vun bồi tổ đức? Xin hãy đưa thư này của Quang cho khắp các chi họ của lệnh hữu được xem, chắc ai nấy sẽ nghĩ đến tổ đức, noi theo dấu vết cũ. Nếu không, hãy khuyên lệnh hữu đem món tiền của mình dùng vào việc công để mong chấm dứt được chuyện ấy. Ông ta không có con cái, vẫn nên [coi như] dùng [món tiền ấy] cho con cái mình thì sẽ rạng rỡ tổ đức, rạng rỡ pháp đạo. Mai sau được tốt đẹp như thế nào chẳng phải là điều Quang có thể biết được nổi!

[url]http://www.niemphat.net/Luan/aqvstambien/aqvstambien22.htm[/url]

gioidinhhue
23-04-2010, 13:47
Giữ được lòng thành và lắng nghe

40. Thư trả lời cư sĩ Lý Cận Đan (thư thứ nhất)



Nhận được thư, khôn ngăn cảm kích, hổ thẹn. Quang là ông Tăng chỉ biết cơm cháo, trừ mặc áo, ăn cơm ra, chẳng làm được gì khác! May là vẫn chịu học theo thói ngu phu ngu phụ nên chẳng đến nỗi than thở xuông, chẳng biết làm sao! Các hạ muốn thọ Tam Quy Ngũ Giới, sao chẳng chọn vị nào đạo đức học vấn cao siêu, lại chọn một ông Tăng chỉ biết cơm cháo thì các hạ cũng muốn dự vào đội ngũ ngu phu ngu phụ, chẳng muốn gia nhập hàng ngũ của những vị cao siêu, lạ lùng, đặc biệt ư? Tuy nhiên, đang trong thời thế này, hành theo ngu phu ngu phụ vẫn thực tế hơn! Nếu kẻ cao siêu kỳ đặc chịu buông xuống những chuyện cao siêu, lạ lùng, đặc biệt, ắt sẽ có kết cuộc cao siêu, lạ lùng, đặc biệt lớn lao! Nếu không chịu buông xuống thì cũng chỉ đạt được kết cuộc là hư danh cao siêu, lạ lùng, đặc biệt, quyết chẳng đạt được sự cao siêu, lạ lùng, đặc biệt thật sự. Pháp Niệm Phật lý cực cao sâu, sự thật bình thường, muốn cầu tâm tương ứng với Phật thì điều thứ nhất là phải chí thành khẩn thiết, điều thứ hai là [lắng] nghe. Quay trở lại nghe nơi tiếng niệm Phật, cùng giữ được lòng thành và lắng nghe thì sẽ tự trừ được hôn mê tán loạn!



41. Thư trả lời cư sĩ Lý Cận Đan (thư thứ hai)



Nhận được thư, biết cư sĩ tự đảm nhiệm và quyên mộ người khác đảm nhiệm in Đại Sĩ Tụng, lấy hai ngàn bộ làm chuẩn, khôn ngăn vui mừng, an ủi. Cư sĩ cảm khái vì lòng người chẳng bằng thuở trước, biếu tặng thiện thư rất ít đạt hiệu quả, nhưng người trong nước ta gần đến năm vạn vạn người! Trước đây, Quang đã cho khắc ván An Sĩ Toàn Thư, sau đấy lại bảo Trung Hoa [Thư Cục] sắp chữ ấn hành, quyên mộ chỉ được bốn vạn cuốn. Trung Hoa Thư Cục in kèm và in riêng tổng cộng được một vạn hai ngàn bộ. Nếu luận về hiệu quả thì cũng chỉ được một hai phần! Ấy là vì con người chưa suy xét kỹ, đa số không biết. Quan Quýnh Chi tin tưởng Phật pháp là do bản khắc ván của An Sĩ Toàn Thư phát khởi; Chí Viên giảng thuyết cho ông ta nên từ đấy bèn sanh lòng chánh tín. Nếu đất Hỗ (Thượng Hải) không có Quýnh Chi thì sợ rằng cảnh tượng nơi đất Hỗ sẽ kém xa hiện thời!

Chúng ta chỉ cần phát khởi cái tâm làm lành cho người khác, còn người ta có phụng hành hay không thì tùy họ. Ấn Quang sanh lòng tin đối với pháp môn Tịnh Độ là nhờ quyển Hạ của Long Thư Tịnh Độ Văn, đủ biết sách ấy có ích cho con người vừa sâu vừa xa vậy! Quán Thế Âm là chỗ nương tựa cho pháp giới chúng sanh, nếu ai nấy đều biết, sẽ có đông đảo người do vậy mà cầu mong tiêu tai thoát họa cho đến liễu sanh thoát tử. Tiếc cho cõi đời chưa có một bản sưu tập đến nỗi những kẻ chẳng tu tập Phật pháp đều chẳng được biết. Đấy chính là nguyên do vì sao Quang thỉnh ông Hứa Chỉ Tịnh soạn sách Đại Sĩ Tụng này vậy!



42. Thư trả lời cư sĩ Lý Cận Đan (thư thứ ba)



Hôm trước, sư Minh Đạo đến đây, cho biết đã đưa bộ Đại Tạng Kinh bản đời Tống của ông qua chùa Hiển Ninh, công đức vô lượng. Thầy ấy chẳng lượng sức, tiếp nhận bốn ngôi chùa hoang tàn ở Hàng Châu, đều do các vị cư sĩ đất Hỗ và thầy của ông ta giúp đỡ duy trì. Về sau, Tam Thánh Đường ở trên núi [Phổ Đà] bị hỏa hoạn, cháy rụi một nửa, vị thầy ấy không thể lo liệu thêm các nơi khác được. Hiện thời còn thiếu tiền công thợ và các hóa đơn phải chi phí hơn ba ngàn đồng, không làm cách nào được. Những khoản tiền dư ra ở chỗ Quang phần lớn đều để giúp cho hai chùa Linh Nham và Thọ Lượng, cũng chẳng thể giúp đỡ thầy ấy! Thầy ấy chỉ mong các vị đã bỏ tiền làm công đức trước kia mỗi người sẽ cho mượn ba trăm đồng, nhưng sợ chưa thể lo liệu mỗi việc vẹn toàn được! Nếu cư sĩ chịu giúp cho sự cấp bách cháy mày này thì trong năm sau vẫn còn tiến hành [sửa chữa cho xong] được. Nếu không, chắc là phải bỏ cuộc giữa đường, há có phải là thất bại khi sắp thành công hay chăng?



43. Thư trả lời cư sĩ Lý Cận Đan (thư thứ tư)



Những lời nói trong nhà Thiền tốt nhất là chỉ nên bỏ mặc, đừng bàn đến! Nếu muốn biết hiểu rõ ý nghĩa nguyên do của những lời lẽ ấy thì phải ngộ đôi chút. Nếu không, dẫu có đọc sách Thiền thì cũng như nói chuyện với người ngoại quốc, hoàn toàn chẳng thấu hiểu được cái hay trong ấy. Huống chi ông tuổi đã cao rồi, thời thế lại như thế này, há nên dùng thời gian đáng quý báu nhất để nghiên cứu những câu nói không thể suy luận ấy ư? Thường có những kẻ ở trong nhà Thiền mấy chục năm vẫn chẳng hiểu được những câu nói ấy có ý nghĩa gì! Dẫu có dùng ý tưởng để suy đoán đi nữa thì cũng là nói mớ trong mộng mà thôi! Xin hãy bỏ ý niệm ấy đi! Hãy nhất tâm niệm Phật, niệm đến mức Phật lẫn tâm đều mất thì vừa nhìn vào những câu nói ấy sẽ khôn ngăn bật cười. Nếu chẳng được như thế thì chỉ cần vãng sanh vẫn có thể đích thân chứng được lý ấy, huống là hiểu được những lời lẽ ấy ư? Nếu chẳng coi lời Quang là đúng, cứ suốt ngày đọc ngữ lục nhà Thiền thì Tông cũng chẳng thể thông mà Tịnh cũng chẳng chú trọng. Khi sanh tử xảy đến, chỉ đành theo nghiệp thọ sanh!

http://www.niemphat.net/Luan/aqvstambien/aqvstambien22.htm

gioidinhhue
23-04-2010, 14:11
Hạ Phẩm Hạ Sanh thì nghiệp đã vượt trỗi chư thiên trong tam giới

44. Thư trả lời cư sĩ Lý Cận Đan (thư thứ năm)



Hôm qua nhận được thư, biết Thánh Định đã vãng sanh Tây Phương, lâm chung chánh niệm, chết rồi đảnh đầu vẫn ấm, vẻ mặt càng đẹp, đang lúc nắng gắt mà chẳng hôi thối. Chỉ ngay từ mấy tướng lành ấy đã có thể quyết đoán bà ta được vãng sanh. Còn về phẩm vị vãng sanh thì nói chung là Trung Phẩm. Do Trung Phẩm đều là phẩm vị vãng sanh của người trọn vẹn điều lành nơi giới và điều lành thế gian; cũng chẳng cần phải nói cho dễ nghe, cứ khăng khăng bà ta Thượng Phẩm vãng sanh. Dẫu cho Hạ Phẩm Hạ Sanh thì nghiệp đã vượt trỗi chư thiên trong tam giới rồi, huống hồ vãng sanh trong bậc Hạ thuộc Trung Phẩm ư? Bốn mươi chín ngày không ngớt tiếng niệm Phật, chẳng những hữu ích cho người đã khuất mà quyến thuộc hiện tại cũng được lợi ích lớn lao!

Linh Nham theo lệ không niệm kinh, bái sám, phóng Diệm Khẩu, làm pháp sự hệ niệm, làm đàn Thủy Lục, truyền pháp, thâu nhận đồ đệ, giảng kinh, truyền giới, làm pháp hội. Công khóa hằng ngày giống như Phổ Thông Phật Thất. Chỉ những ai có tín tâm, chẳng chú trọng màu mè, hoa dạng, xin mở Phật thất thì liền chấp nhận. Nếu chèo kéo thân hữu rộng rãi và dẫn nữ quyến trẻ tuổi đến trước hôm mở thất và xong thất mới đi thì cũng không chấp nhận. Năm Dân Quốc 17 (1928), Trương Minh Kỳ (là đệ tử quy y) mở Phật thất bốn mươi chín ngày, không một ai bỏ đi. Năm Dân Quốc 18 (1929) cũng mở Phật thất hai mươi mốt lần, cũng không một ai bỏ đi. Năm Dân Quốc 19 (1930), có hai mươi mấy lần mở Phật thất cũng không quá năm sáu gia đình đến dự, nhưng cũng chỉ ở một hai ngày hoặc đôi ba ngày mà thôi. Năm Dân Quốc 20 (1931) do người đông phòng hẹp, liền cho xây cất lớn, Phật thất càng đông hơn. Nay gởi cho ông một tờ sao bài bi ký, ông đọc sẽ biết.

Nếu ông muốn tạo lợi ích giúp cho Thánh Định, do bà ta lúc sống thường ăn chay, khi làm ma chay chắc ông cũng chẳng đến nỗi dùng rượu thịt. Trong khi tang ma và cúng giỗ sau này, xin ông hãy bảo lệnh lang đừng bắt chước thói tục. Trong khóa tụng sáng tối, lúc hồi hướng Quang sẽ đọc pháp danh của bà ta để hồi hướng trong hai mươi mốt ngày cho trọn hết tình thầy trò.



45. Thư trả lời cư sĩ Lý Cận Đan (thư thứ sáu)



Ông nói trong khi làm việc cũng không quên niệm Phật, ấy là tướng cái tâm niệm Phật thuần thục, sao lại bảo là hôn trầm, thuộc về vô ký (không thiện, không ác)? Nhưng cũng chưa phải là “vô niệm mà niệm”, mới chỉ có hơi hướng của “vô niệm mà niệm” đó thôi! Nếu tưởng đấy chính là “vô niệm mà niệm” thì sẽ giống như dùi gỗ thấy khói bốc lên liền bảo là đã được lửa, thôi không dùi nữa, sẽ không có cách nào được lửa cả! Ông công phu khá tốt, đạt đến cảnh giới ấy cũng chẳng phải là dễ dàng, nhưng cần phải chuyên tinh dụng công, đừng học theo thói ham cao chuộng xa, thấy lạ nghĩ khác của con người hiện thời thì tương lai sẽ đạt được lợi ích, sẽ tự có những điều chẳng thể nghĩ bàn. Nhưng đấy là chuyện thuộc về Hạnh môn, chứ trong Tín Nguyện môn càng phải nên dốc sức ngõ hầu quyết định đạt được lợi ích sâu xa do niệm Phật. Nếu bắt chước các tông khác, chuyên chú trọng vào công phu, bỏ mặc tín nguyện chẳng nhắc tới thì sẽ trở thành pháp môn cậy vào tự lực, mất mát lớn lắm!

“Tam luân thể không” chính là chẳng cậy công, chẳng nghĩ đó là đức. Nếu như lời ông nói thì sẽ thành hỗn độn, vô tri. Thế nào gọi là “Thể không”? Nói “Thể không” nghĩa là rành rẽ phân minh, phân biệt rõ [đối tượng nhận lãnh] đáng nên bố thí hay không nên bố thí, nhưng chẳng thấy mình có công đức đối với người ta, cũng chẳng thấy người ta nhận lãnh ân đức của mình. Kinh Kim Cang dạy: “Chẳng chấp vào Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp để bố thí” chính là nhằm diễn tả ý này vậy! Nếu chẳng phân biệt kẻ tốt lẫn người xấu, cứ tận lực thí cho người xấu thì sẽ khiến cho kẻ ấy tạo nghiệp, sẽ trở thành tội lỗi, chẳng gọi là công đức được!



46. Thư trả lời cư sĩ Lý Cận Đan (thư thứ bảy)



Phật pháp rộng lớn vô lượng vô biên. Chúng ta mang tư cách kẻ phàm phu sát đất, muốn ngay trong đời này giải quyết xong xuôi chuyện khó thể giải quyết trong trăm ngàn vạn ức kiếp thì phải trù tính sức lực của chính mình nhỏ hay lớn để tu tập, đừng lầm lạc ngỡ mình là thông gia! Đối với pháp này còn chưa thật sự hiểu chắc mà lại đi nghiên cứu dùi mài trong những tông khác đến nỗi ngược ngạo coi chuyện dễ được lợi ích nhất này như chuyện thừa thãi, vặt vãnh thì trong trăm ngàn vạn kiếp vẫn y như cũ, chẳng thể liễu thoát được!

Phật pháp giống như hư không, trọn không có Đông, Tây, Nam, Bắc, bốn phương bàng, trên, dưới! Nói Đông, Tây, Nam, Bắc, bốn phương bàng, trên, dưới là ước theo địa vị chính mình đang đứng để nói. Chính mình đã chẳng thể khế hợp với thái hư thì ắt phải luận theo địa vị nơi mình đang đứng; chẳng ngại gì ở trong nơi không có Đông, Tây, Nam, Bắc, bốn phương bàng, trên, dưới mà ước theo Đông, Tây, Nam, Bắc, bốn phương bàng, trên, dưới do chính mình đã định. Thiền Tông, Tướng Tông, Mật Tông không một tông nào chẳng hay, nhưng là người niên kỷ đã ngoài năm mươi, có được pháp cậy vào Phật lực để phàm phu dầy dẫy triền phược có thể liễu sanh tử mà lại dốc sức nơi pháp môn cậy vào tự lực thì tuy có thể giúp cho sự thấy hiểu Tịnh nghiệp một cách viên thông, nhưng tôi thật sợ ông tâm lực chẳng đủ, sẽ lấy pháp đó làm chánh, coi pháp này là lệ thuộc không quan trọng, chắc sẽ khó đắc lực!

Chẳng phải là Quang cự tuyệt không cho người ta nghiên cứu những tông khác, chỉ vì có những kẻ chẳng thông cảm nên mới giáng cho Quang những lời chê bai ngặt nghèo, bảo Quang cấm ngặt người khác không được nghiên cứu những tông khác! [Bị gieo tiếng ác như vậy] thì Quang sẽ ngấm ngầm được phước, còn đại chúng cho Quang là kẻ oan gia nơi cửa Phật. Xin ông hãy tự cân nhắc để quyết định!

Thêm nữa, sau khi viện Mồ Côi ở Nam Kinh được thành lập, ông bỏ ra ba trăm đồng, nhưng trong năm ấy viện vẫn chưa hoạt động, đến năm sau mới hoạt động, cho nên vẫn chưa nhận tiền thêm. Nghe nói năm trước ông vẫn bỏ ra ba trăm đồng, năm ngoái lại gởi thư nói sẽ quyên tặng riêng, cho nên năm nay cũng chẳng dám gởi thư tới nữa. Trước kia, ông Dư Trĩ Liên có cho biết tính xin ông quyên tặng suốt năm, hoặc mấy chục đồng, hoặc một trăm đồng, tùy ý. Từ năm ngoái tới nay, học sinh chùa Pháp Vân ngày càng chăm chỉ tiến bộ. Có Vương Kiến Bình là một thương nhân tài sản chưa hơn ba vạn mấy đồng, nhưng nghe nói tới viện Mồ Côi chùa Pháp Vân liền tới thăm, hết sức vui thích, bèn may quần áo, mền đắp cho các học sinh. Tất cả những em học sinh nào đủ trình độ có thể ra đời mưu sinh được, ông ta liền đỡ đầu giới thiệu tới làm việc trong các tiệm buôn [bởi lẽ] những môn sinh của ông ra mở tiệm có đến hai ba chục người cũng như ông ta có các bạn bè khác [trong nghề kinh doanh]. Vì thế, ông ta nhận lãnh trách nhiệm nặng nề ấy. Từ năm ngoái cho đến mùa Hạ năm nay đã giới thiệu bốn mươi tám em. Thế mà vẫn có người cần [xin thêm], do có những em trình độ quá yếu, ông ta không bằng lòng cho đi. Vì thế, số học sinh tăng lên đến một trăm sáu mươi em. Tất cả những phòng ốc cũ chẳng đủ dùng, lại phải cất thêm mười mấy gian nữa để làm xưởng thợ. Vương Kiến Bình còn bảo thợ làm khuy trong tiệm ông ta đến viện Mồ Côi dạy nghề, không lấy tiền học. Học sinh học được nghề sẽ liền dựa theo số lượng hàng làm ra để trả tiền công. Đường lối này chẳng cần tiền vốn, khá hữu ích. Hơn nữa, những món đồ do Pháp Vân Tự làm ra ai nấy đều tranh nhau mua, bởi chúng chắc chắn, sử dụng được. Tuy vậy, trong mấy năm gần đây, dẫu có thêm những người đảm nhận quyên tặng, nhưng do những người đã quyên tặng trước kia hoặc chuyển đi phương xa, hoặc có người đã qua đời, kinh phí trong viện tốn kém hơn trước, cảm thấy khá tốn sức.

http://www.niemphat.net/Luan/aqvstambien/aqvstambien22.htm

Quảng Định
23-04-2010, 14:43
chân thành cám ơn bạn GĐH ...đăng bài mình đọc mở rồng tầm mắt tu học

gioidinhhue
23-04-2010, 16:23
Bệnh cực khó trị, hãy đều nên trị bằng cách niệm Quán Âm

64. Thư trả lời cư sĩ Trác Trí Lập (thư thứ sáu)



Trước đây, Trí Thanh và Trí Mục có gởi thư đến, cậy tôi xem xét, sửa chữa bài “Duyên khởi thành lập thư viện” do họ soạn. Do Quang thấy bài duyên khởi ấy trọn chẳng nêu ra ân đức lợi sanh giúp đời của đức Phật nên viết một bài khác. Vì số chữ quá nhiều, sợ khó thể sử dụng cho thích hợp được, nên lại sao lục bài “Nêu bày những ý nghĩa ẩn kín qua tác phẩm Hành Dư Nhật Khóa của Lâm Văn Trung Công”, mượn oai đức, danh vọng của Văn Trung Công để chiết phục những kẻ chấp nhặt hẹp hòi, thiên chấp, tà kiến; đấy cũng là một tấm gương lớn lao để làm lợi người khác vậy!

Tôi chưa từng thấy những bài tán dương các vị tổ sư Liên Tông. Bài tán của ông Đổng rất hay, Quang cũng soạn một bài tán. Tuy chẳng hay bằng bài của ông Đổng, nhưng cũng có thể dùng được. Tịnh Độ Tông khởi đầu từ đức Phổ Hiền, Viễn Công tiếp nối nguồn pháp nơi Chấn Đán (Trung Hoa), lưu truyền rộng rãi khắp trong ngoài nước khiến cho khắp mọi thánh - phàm đều chứng Niết Bàn trong hiện tại. Cuối bộ kinh Hoa Nghiêm, Phổ Hiền Bồ Tát dùng mười đại nguyện vương dẫn về Tây Phương, đấy là lần xướng suất đầu tiên trong giáo pháp của đức Phật Thích Ca vậy (Tiểu Thừa đoạn sạch Kiến Tư Hoặc liền liễu sanh tử, chứng Chân Đế Niết Bàn. Do vậy, coi liễu sanh tử là chứng Niết Bàn. Trong Đại Thừa thì thành Phật mới là Niết Bàn rốt ráo, chẳng thể coi loại Niết Bàn ấy (tức Chân Đế Niết Bàn của Tiểu Thừa) là Niết Bàn rốt ráo của Phật được).



65. Thư trả lời cư sĩ Trác Trí Lập (thư thứ bảy)



Quang một mực chẳng thích chụp hình, bởi lẽ chụp hình luôn luôn là chuyện hao phí tiền bạc của tín thí, dùng tiền tài hữu dụng để làm chuyện vô ích hoa mỹ rỗng tuếch, người tu hành há nên làm ư? Ông hãy xét kỹ lời tôi, thấu hiểu sâu xa lòng tôi, tuy chưa gặp mặt mà đã gặp nhau bằng tấm lòng, nào còn thiếu sót, áy náy chi? Nếu không, dẫu có cùng ở chung một nhà với Phật mà tâm chẳng vâng theo, như Điều Đạt (Đề Bà Đạt Đa), Thiện Tinh[4] vẫn phải đọa vào địa ngục A Tỳ ngay trong lúc sống, huống hồ những kẻ hời hợt, hờ hững hiện thời ư? Xin hãy tận tụy thực hiện nhằm nêu gương cho học trò và người trong làng nước, đấy chính là điều tôi mong mỏi vậy. Sáng chiều lễ Phật là được rồi, há nên sau khi lễ Phật liền lễ Quang? Lễ Quang rốt cuộc có ích chi đâu? Nếu cứ nói “vì nhớ đến ân chỉ dạy” thì hãy lễ trong khóa lễ sáng tối mồng Một, hôm Rằm, còn thường ngày chẳng cần phải lễ!

Chỉ cần ông có thể nghe theo lời Quang nói thì sẽ là đứa con thật sự của đức Phật, Quang và ông sẽ cùng sanh về Tịnh Độ ngay trong cuộc đời này, là bạn thiết nơi Liên Bang, may mắn vô cùng! Câu đối treo nơi đại điện hãy nên lấy đạo lý trong nhà Phật để soạn thành văn, chứ văn của người ấy và văn của ông đều là những thứ văn chương thù tạc trong khi nhàn rỗi. Nay tôi nghĩ ra một đôi câu đối như sau:

Nguyện trọng, bi thâm, cử tam căn nhi phổ độ,

Chân cùng, Hoặc tận, siêu Thập Địa dĩ độc tôn

(Nguyện nặng, Bi sâu, độ trọn khắp cả ba căn,

Chân cùng, Hoặc hết, độc tôn trỗi hết Thập Địa)

“Tam căn” chỉ khắp lục đạo, tam thừa. “Chân cùng” là lý để chứng đã được chứng đến mức cùng cực. “Hoặc tận” là Hoặc (phiền não) cần phải đoạn đã đoạn đến hết sạch. “Thập Địa” là Thập Địa Bồ Tát, là bậc đã gần thành Phật. “Duy” là chỉ một. Dùng chữ “độc tôn” thì cảm thấy rõ nghĩa hơn một chút. [Chứ nếu dùng chữ] “duy tôn”, chắc kẻ kém chữ nghĩa sẽ không hiểu rõ lắm nên tạm dùng chữ “độc tôn”, tuy chữ Độc chẳng đúng luật bằng - trắc cho lắm. Xin hãy châm chước để sử dụng; nhưng loại câu đối này cũng không phải là viết thiếp, đề thơ dùng trong thi cử nên [không tuân thủ luật bằng - trắc chặt chẽ] cũng không quan trọng lắm. Trong hai ba năm qua, vợ chồng Lâm Hồng Do cùng bị bệnh nặng; ấy là do túc nghiệp chiêu cảm, cố nhiên hãy nên nghiêm túc sám hối. Lại còn phải suy xét hành vi của chính mình, nếu có điều nào chẳng đúng pháp hãy cực lực sám trừ, sửa đổi lỗi cũ, từ nay tu tập, ngõ hầu liền được từ ân gia hộ. Xin hãy đem ý Quang nói với họ.

[color=#4000FF] Phàm những pháp thuộc về ngoại đạo đều là trộm cắp [những câu văn] từ kinh Phật, lời Tổ, rồi thay đầu đổi mặt để soạn thành kinh sách của chính họ.[/color] Nước ta kể từ khi Phật pháp được truyền sang phương Đông, chỉ có Sơ Tổ, Nhị Tổ, Tam Tổ, Tứ Tổ, Ngũ Tổ, Lục Tổ được cả cõi đời xưng tụng là Tổ. Pháp tôn của Lục Tổ tên là Đạo Nhất[5], họ ngoài đời là Mã. Do vị Tổ thứ hai mươi bảy ở Tây Thiên (Ấn Độ) có câu sấm ngữ “mã câu đạp sát thiên hạ” (con ngựa non đạp chết thiên hạ)[6], đương thời đều gọi Ngài là Mã đại sư. Khi mất rồi, [người đời] đều gọi Ngài là Mã Tổ. Ngoài ra, không một vị nào được gọi thẳng là Tổ. Ngay như Sơ Tổ, Nhị Tổ, Tam Tổ, Tứ Tổ, Ngũ Tổ, Lục Tổ cũng là do người đời sau tôn xưng, chứ chẳng phải là ngay trong đời các Ngài đã được gọi là Tổ.

[color=#4000FF]Trong vòng trời đất, số lượng con người thật đông, túc căn mỗi người mỗi khác[/color]. [color=#4000FF]Dẫu được đức Phật giáo hóa, nhưng những kẻ do chủng tánh chẳng lành liền nẩy sanh tà kiến, giống như trời đất lấy hai khí Âm - Dương để hóa sanh vạn vật, tuy khí Âm và Dương là một, nhưng vạn hữu được sanh ra chẳng giống nhau.[/color] Thứ ngọt ngào, thứ độc địa đều tùy theo chủng loại. Những kẻ nói “vì [ngoại đạo lẫn nhà Phật] đều cùng có những lời lẽ nói về niệm Phật nên bảo là giống nhau” thì có khác gì nói “do cùng nhận chịu khí Âm - Dương liền bảo là giống hệt như nhau” ư? Quê ông không có ai thông hiểu Phật pháp khiến cho những thứ tà thuyết như thế dấy lên mạnh mẽ. Ông đã không có con mắt trí huệ chân chánh, chỉ nên “ngươi là ngươi, ta là ta, ai giữ pháp nấy, ai hành đạo nấy”,[color=#4000FF] chẳng gia nhập bè đảng của bọn họ, mà cũng chẳng công kích, phê bình họ sai trái thì dù có sống chung với họ vẫn chẳng có những chuyện tiêm nhiễm, đố kỵ nhau v.v… [/color]Hòa quang nhưng không đồng trần chính là phương cách để giữ mình. Nói[color=#FF0000] “hòa quang” không có nghĩa là tu trì theo kiểu của họ mà chỉ là không công kích, không phê bình, mà cũng chẳng khen ngợi! [/color]Nếu[color=#FF0000] bị họ xoay chuyển thì sẽ trở thành “đồng trần”; nếu “đồng trần” thì sẽ trở thành tội nhân trong Phật pháp![/color] Phàm phu tu hành hãy [color=#4000FF]nên phát đại Bồ Đề tâm lợi người, lợi vật. Chuyện lợi người lợi vật chính là điều gì sức mình có thể làm được thì hãy gắng sức làm. Chuyện gì chẳng thể làm được thì ắt phải thường giữ tấm lòng ấy, [như vậy] thì sẽ chẳng trái nghịch với nguyện tâm Đại Thừa[/color] vậy!

[color=#4000FF] Căn bệnh nổi bướu của ông chẳng cần phải dùng tơ nhện, chỉ niệm Quán Âm cũng được lành.[/color] Do [color=#4000FF]ông hoàn toàn thiếu chánh tín nên lòng luôn rong ruổi theo thuốc men.[/color] Những vị [color=#4000FF]vĩ nhân lỗi lạc trong thế gian thường do bị bệnh vặt liền dùng thuốc đến nỗi mất mạng.[/color] Bọn họ [color=#4000FF]dốc sức nơi thuốc men, mà cũng chưa chắc đã dùng sai thuốc, chỉ vì túc nghiệp sai khiến nên thành ra như vậy.[/color] Phàm với[color=#FF0000] những bệnh cực khó trị, hãy đều nên trị bằng cách niệm Quán Âm.[/color] Nếu [color=#FF0000]kiền thành, ắt sẽ có hiệu nghiệm lạ lùng. [/color]Sao tâm ông lại sân hận hừng hực đến mức như thế ấy? Đủ biết: Chắc chắn đời trước ông là kẻ có quyền thế lớn lao, cho nên tập khí đã trở thành tánh! Nay hãy nên học tánh khiêm tốn, kiềm chế, [color=#FF0000]luôn biết mình chẳng đúng, chẳng thấy người khác sai trái,[/color] lâu ngày chầy tháng sẽ hàm dưỡng thành tánh, tập khí tiêu diệt.

Bàn đến số mạng thì hãy nên lấy thiên Lập Mạng của Viên Liễu Phàm làm gốc, bất luận là ai đều có thể đạt được lợi ích. Lưu tâm nơi ấy thì lợi ích ấy lớn lắm! Nhưng ý nghĩa trong ba thiên Cải Quá (sửa lỗi), Tích Thiện và Khiêm Đức (vun bồi đức khiêm nhường) đều phù hợp với mọi căn cơ để có thể nói với người khác được![color=#4000FF] So với thầy thuốc cứu sống người, công đức càng lớn hơn! Nếu ông giữ được cái tâm “gốc chánh, nguồn trong” để làm chuyện vun bồi nhân tài[/color] thì sẽ “chẳng giữ địa vị mà thực hiện sự cai trị, chẳng lên tòa mà thuyết pháp”, vui sướng chi bằng, há gây trở ngại gì cho niệm Phật? Sáng tối hãy tùy sức xưng niệm. Ngoài những lúc ấy ra, khi nào chẳng cần phải dùng tới tâm, hễ thuận tiện bèn niệm niệm.[color=#FF0000] Chỉ cần có đủ lòng tin chân thật, nguyện thiết tha, sẽ tự được vãng sanh.[/color] Nếu cứ nói “đích thân cày ruộng dễ niệm Phật”, tức là chẳng biết lúc phải tự cày ruộng do nhọc nhằn nên quyết chẳng thể niệm được! Ông nghĩ như vậy đều là vì chẳng tự phản tỉnh, mang tình kiến “đứng núi này trông núi nọ”, chẳng phải là trí thức thấu hiểu sâu xa tự tâm, thấu hiểu triệt để cõi đời vậy! [color=#4000FF]Ông chỉ nên “đừng làm các điều ác, vâng làm các điều lành, tin sâu nhân quả, tận lực giữ vẹn luân thường”, kiêm dùng tín nguyện để trì danh cầu sanh Tây Phương. Dùng những điều này để tự hành, mà cũng dùng những điều ấy để hóa độ người khác.[/color] Dẫu chẳng thể có bản lãnh lớn lao, vẫn có thể đội trời đạp đất, chẳng thẹn làm người, chẳng thẹn làm thầy vậy!

[color=#FF0000] Ông là phàm phu, chẳng phải là thánh nhân, làm sao khỏi ngủ, thôi ăn cho được? [/color]Chỉ[color=#FF0000] không tham ngủ, chẳng tham ăn, chỉ cốt dưỡng sức, khỏi đói mà thôi![/color] Nếu như ông nói,[color=#4000FF] cậy vào thần chú để thôi ngủ; nếu thật sự trì chú được linh cảm lớn lao chắc sẽ có thể không ngủ.[/color] Ngay trong [color=#4000FF]đêm đầu tiên trì chú ông đã không ngủ, tức là tâm thiết tha đến cùng cực, tinh thần đã hơi bị tổn thương, cho nên không ngủ. [/color]Nếu để [color=#4000FF]tinh thần bị tổn thương lâu ngày thì sẽ ngủ vùi chẳng tỉnh dậy được![/color] Kẻ [color=#4000FF]sơ tâm thường vì nhất thời tinh tấn quá độ, về sau ngã lòng biếng [/color]nhác. Buông thõng ống quần là tập quán của phương Nam; chứ nếu là người phương Bắc thì cũng không có thói quen ấy, huống là một vị cư sĩ học Phật ư? Vì thế, cư sĩ cũng nên buộc chặt ống quần lại thì mới nên. Những vị chân tu trong Tăng chúng, khi ngủ cũng không tháo [dây buộc] ống quần ra, huống là trong ban ngày ư?

Biết [color=#FF0000]có những điều không thể làm được nhưng vẫn dốc hết khả năng để thực hiện thì chính là tâm hạnh đại từ đại bi của Bồ Tát.[/color] Biết [color=#FF0000]có những điều chẳng nên làm nhưng cứ nhất loạt chẳng kiêng giữ thì sẽ trở thành chủng tử địa ngục![/color] Kẻ [color=#FF0000]tà kiến thường đem những điều chẳng thể thực hiện để ngăn trở người khác, bảo: “Con người mỗi một hơi hít vào có vô số trùng nhỏ nhoi bị hút vào bụng, đều là sát sanh, đều là ăn thịt, làm sao ông chẳng sát sanh, chẳng ăn thịt cho được?”[/color] Điều ấy thật[color=#FF0000] đúng như toàn thân vùi lấp trong hầm xí rồi cũng muốn lôi kẻ khác vào trong ấy[/color]. Người ta [color=#4000FF]chẳng chịu nghe theo, bèn nói: “Ngươi chê ta là hôi thối, vậy trên thân ngươi thường có ruồi, muỗi, rận tuôn phân vãi tiểu, mà vẫn chẳng phải là ở trong hầm xí, vẫn chê ta hôi thối ư?”[/color] Những loại tri kiến ấy đều thuộc tà kiến, [color=#4000FF]đều phát sanh từ những kẻ thông minh, đáng sợ thay! [/color]P[color=#FF0000]hật pháp coi trọng chuyện lợi người; đạo lợi người nên khởi đầu từ nơi người thân.[/color] Nếu [color=#4000FF]chẳng đem đạo này khuyên lơn cha mẹ, anh em, vợ con trước mà lo khuyên người khác tức là bỏ gốc chạy theo ngọn![/color] Cần phải cùng thực hiện, cùng hành cả hai thì mới nên!

[color=#4000FF] Dùng văn tự để khuyên người khác là chuyện cực hay[/color], nhưng cũng phải có phương cách. Như những chữ ông đã viết lúc ban đầu thì đúng là người nghiên cứu dẫu dùng để ghi sổ cũng chẳng chịu dùng. Gần đây tuy chẳng noi theo thói cũ, nhưng lại nói bừa viết loạn thật giống như điên cuồng. Nếu gặp phải bậc cao minh, chắc họ sẽ coi thường ông. Hơn nữa, hãy nên y theo chương trình của phàm phu để tu trì, [color=#FF0000]đừng mong vượt trỗi người khác thì sẽ có lợi ích thật sự.[/color] Nếu không, sau này nhất định sẽ có ngày nổi cơn điên cuồng lớn lao đấy! Do vậy sẽ đâm ra khiến cho kẻ vô tri lui sụt lòng tin! Xin hãy đọc kỹ Văn Sao và các trước thuật Tịnh Độ của cổ đức ngõ hầu trừ khử được tập khí ấy, chẳng đến nỗi bị ma dựa. Nếu không, khó bảo đảm chẳng bị ma dựa.[color=#4000FF] Bịt tai trì chú làm sao bằng dứt vọng trì chú? Bịt tai cũng là lề thói của ma đấy[[/color]7].

[color=#4000FF] Nghiệp thông ba đời, phàm phu bèn né tránh chẳng dám đón đầu, còn thánh nhân thị hiện giáng sanh trong thế gian lại lãnh nhận nghiệp giống như trả nợ.[/color] Các ngài đã [color=#4000FF]vượt thoát ra ngoài sanh tử, nhưng chẳng ngại thị hiện lãnh nhận túc nghiệp trong đời này giống như người đời hòng dứt cái tâm giết chóc của người đời sau[/color]. Ông hiểu như thế, [color=#4000FF]thật có thể nói dùng lòng phàm phu để lầm lạc suy lường thánh nhân, tội lỗi vô lượng[/color]. Tuy [color=#4000FF]chẳng thể biết được sở chứng của vị Tăng ấy, nhưng chớ nên chấp chết cứng “Sư chắc chắn không có nghiệp báo” đến nỗi người đời chẳng sanh lòng kinh sợ, tận lực trì thánh hiệu![/color]

Do có [color=#4000FF]những vị thị hiện làm kẻ ác gặp khổ liền dứt ác[/color], hoặc do [color=#4000FF]gặp ác báo mà sanh thiện niệm liền tự đổi mới cho nên những sự tích làm súc sanh, làm ngạ quỷ thật nhiều.[/color] Hiện thân ngạ quỷ Diện Nhiên[8] để rộng mở môn tế độ; những khoa nghi Mông Sơn, Diệm Khẩu, Thủy Lục hiện thời đều bắt nguồn từ đây! Những[color=#4000FF] chuyện [Phật, Bồ Tát] hiện thân súc sanh, đến cuối cùng mới hiển lộ Bổn khiến cho những kẻ trong hiện tại hoặc đời sau đều sẽ do đây mà sanh lòng tin niệm Phật, đoạn ác tu thiện chẳng thể đếm xuể, ông trọn chẳng để mắt tới, nên bảo là có ích gì, chẳng đáng buồn hay sao?[/color]

[color=#FF0000]Phật tuy từ bi rộng lớn, nhưng muốn độ chúng sanh đều cần phải chiết phục - nhiếp thọ[/color]. Dẫu khinh mạn Phật, hủy báng Phật, Phật thật sự chẳng sanh lòng yêu, ghét, nhưng [color=#4000FF]nếu không chiết phục sẽ không thể khuyên can được! [/color]Vì thế, [color=#FF0000]thần hộ pháp ắt phải gieo họa cho kẻ ấy để những ai bắt chước kẻ ấy làm ác đều kinh sợ, lòng từ bi ấy không chi bằng![/color] Lời ông nói chính là lời lẽ chẳng hiểu sự vụ, ăn nói lẫn lộn! “Hết thảy duy tâm” quả thật là lời luận tột cùng, nhưng cũng chẳng thể không nêu rõ ý chiết phục, chỉ chuyên nói duy tâm được!

[Nếu ai thấy] [color=#4000FF]cảnh Tây Phương thù thắng rành rành ngay trước mắt, kẻ ấy phải tâm tâm niệm niệm tương ứng với Phật thì mới nên.[/color] Nếu không, vừa trông thấy cảnh ấy sẽ ngược ngạo phát sanh ma sự! [color=#4000FF]Ví như thân chưa lành bệnh, chẳng dám hưởng sự vui sướng vì mát mẻ. Nguyện của ngài Liên Trì là nhất tâm niệm Phật[9], cố nhiên là chánh lý; còn như lời ông nói thì chẳng niệm mà được thấy ngay [thánh cảnh Tây Phương] nên trở thành nói nhăng, nói càn![/color] Kẻ mù từ lúc sanh ra chẳng thấy được mặt trời rực rỡ, chim cú ban ngày chẳng thấy được Thái Sơn, chứ nào phải mặt trời rực rỡ chẳng mọc, Thái Sơn chẳng tồn tại, mà do chính kẻ mù, chim cú bị nghiệp ngăn chướng nên chẳng thấy được đấy chứ!

[color=#4000FF] “Trái giác, hợp trần” là nói theo bản thể, chứ không phải là nói về Sự tu[/color] (tu hành trên phương diện sự tướng).[color=#4000FF] Bản thể khi chưa tu giống như vàng chưa tách ra khỏi quặng, sợ con người chẳng biết là Phật tánh nên gọi là Giác. Tu rồi bản thể sẽ tỏ lộ giống như vàng tách khỏi quặng, đấy chính là do tu mà hiển tánh, do Thỉ Giác hợp với Bổn Giác vậy![/color] Như vậy thì giống như đã thành vàng ròng, chẳng còn là quặng nữa! Ông chỉ biết nói bừa đạo lý, trọn chẳng chịu suy nghĩ nghĩa lý sâu xa, nhọc công tôi uổng phí biết bao nhiêu bút mực để rồi ông biến thành trò trẻ con đùa bỡn, biết bao giờ mới thôi!

Như Lai sanh ra từ hông phải, mẹ Ngài sau bảy ngày liền mất, sanh lên trời Đao Lợi. Về sau, đức Phật thành Phật, lên cõi trời Đao Lợi thuyết pháp cho mẹ, an cư một Hạ (ba tháng) trên cõi trời. Vua Ưu Điền[10] nghĩ nhớ đức Như Lai do vậy mới tạo tượng. Ông đã đọc Văn Sao mà sao không biết [chuyện này]? [color=#4000FF]Còn khi lâm chung thì đức Phật do lòng đại từ bèn thị hiện tướng nằm cát tường[11] giống như người đời. Vì muốn răn nhắc chúng sanh nên cũng làm như kẻ bệnh thân thể chẳng được thoải mái, thảnh thơi, bảo: “Nay lưng ta đau nhức”[/color]. Sau đấy, [color=#4000FF]do sợ phàm phu tưởng là thật, lại bay vọt lên hư không, hiện mấy chục thứ thần biến[12] rồi mới nhập diệt.[/color] Đã [color=#4000FF]nhập kim quan, khi Phật Mẫu từ trên trời xuống, lại từ kim quan ngồi dậy, an ủi mẹ[/color]. Xong xuôi,[color=#4000FF] vẫn nằm trong quan tài. Đến khi Ca Diếp từ núi Kỳ Xà Quật đến, từ trong quan tài Phật ló hai chân ra, Ca Diếp nâng chân Phật ve vuốt[/color]. Những chuyện này [color=#4000FF]hãy xem chi tiết trong phần sau (tức hai quyển cuối) kinh Đại Niết Bàn (bản bốn mươi quyển).[/color] Ngoại đạo hủy báng nói lời như vậy, bọn họ giống như con chó chỉ biết phân thơm, ngược ngạo chửi bới thức ăn ngon là hôi thối![color=#4000FF] Nếu là chó thì cố nhiên sẽ tin tưởng như vậy chẳng ngờ. Nếu chẳng phải là chó thì [sẽ cảm thấy] bẩn tai, dơ miệng, há nhắc đến những lời ấy hay chăng? Lời lẽ hủy báng của ngoại đạo phần nhiều là như vậy đấy, chỉ có người hiểu lý mới không bị mê hoặc![/color]

Ông đúng là kẻ chẳng thông hiểu sự việc trên đời. [color=#4000FF]Khổng Tử ghét kẻ xướng suất bày trò giết người khác để tuẫn táng nên bảo: “Kỳ vô hậu hồ!” (Kẻ ấy không có người nối dõi).[/color] Ông lại bảo [sử dụng] mộc ngư (mõ) thì cũng giống như vậy! Ăn nói kiểu đó đúng là trò đùa trẻ nít! [color=#4000FF]Người trong khắp cõi đời đều coi cá là thức ăn ngon; há lẽ nào khi chưa chế ra mộc ngư thì chẳng có chuyện người đời từng ăn cá hay sao?[/color] Lối ăn nói ấy vốn chẳng đáng trả lời, bởi nó thuộc kiểu nói giỡn chơi. Nhưng nếu không đáp, ông sẽ tưởng rằng ta có tài ăn nói khiến cho ông sư lòa vô tri vô thức phải cứng lưỡi!

Đối với câu nói “tỳ-kheo hành đạo chẳng lạy Đế Thích”, sao ông lại gạt bỏ hai chữ “tỳ-kheo”? Do [color=#4000FF]tỳ-kheo là đệ tử Phật, lạy [Đế Thích] sẽ không hợp lễ, chứ không phải là người tại gia học Phật đều chẳng được phép lạy![/color] Người[color=#4000FF] tại gia tuy thông hiểu Phật pháp, nhưng tạm thời lễ bái một vị thần chân chánh trong thế gian thì cũng chẳng phải là không được.[/color] Nhưng nếu[color=#4000FF] ngày đêm thường lễ bái [thần thánh] giống như lễ Phật thì cũng chớ nên! [/color]Đấy chính là như thường nói: “Kính nhi viễn chi” ([color=#FF0000]kính trọng nhưng tránh xa)[/color] vậy! Đối với thuyết [color=#4000FF]“[lễ bái thần thánh thì cũng giống như lễ bái] cha mẹ trong nhiều đời”, đấy cũng là cưỡng nói. Cha mẹ trong nhiều đời trọn khắp lục đạo, sao ông không lễ khắp ngựa, trâu, dê, gà, chó, lợn? [/color]Do vậy, đức Phật dạy con người kiêng giết phóng sanh là vì [chúng sanh] đã bao kiếp sanh ra lẫn nhau cho nên dạy con người hãy phát khởi cái tâm từ bi để thực hiện chuyện cứu vớt.

Ông chỉ chuyên biết chấp trước tà kiến, coi đó là chánh pháp. “Bờ bên kia” quả thật phải tự lên, nhưng nếu chẳng niệm Phật đến mức “tâm tịnh, cõi nước tịnh”, làm sao tự lên được?[color=#4000FF] Ông nghe lý tánh liền muốn phế sự tu. Chỉ có chí thành đến mức cùng cực, tâm tương ứng với Phật thì mới có thể Cam Lộ Quán Đảnh, há nên bảo là do sức tác động từ bên ngoài? [/color]Do một khắc công phu mà khiến cho chúng sanh trọn khắp pháp giới đều ngộ thì mới chính là sức tác động từ bên ngoài![13] Khi [color=#FF0000]chính mình chưa đạt đến mức tâm tương ứng với Phật thì làm sao được Phật gia bị?[/color]

[color=#4000FF]Tiền Âm, Hậu Âm[14] thì có; tuy có nhưng không dùng đến. Trong ba mươi hai tướng của đức Phật[/color], tướng “khổng môn đầy đủ”[15] [color=#4000FF]chính là Hậu Ấm. Tướng Mã Âm Tàng chính là Tiền Âm.[/color] [color=#4000FF]Mã Âm Tàng[16] nghĩa là giống như bộ phận sinh dục của con ngựa, ẩn kín chẳng lộ ra ngoài.[/color] Người [color=#4000BF]sanh về cõi Tây Phương ai nấy đều có đủ ba mươi hai tướng, cứ suy từ tướng Phật mà có[/color][17]. Nhưng[color=#FF0000] ở Tây Phương không có nữ nhân, nghĩ đến đồ ăn liền được đồ ăn, những thứ để ăn đều là thức ăn được biến hóa ra; ăn vào cũng không có cặn bã nên Tiền Âm, Hậu Âm chẳng qua là để giống với người đời mà thôi![/color] Ông hỏi: “Khi hóa sanh có hiểu biết rõ ràng hay chăng?” thì đủ biết là ông đọc sách Tịnh Độ và Văn Sao đều theo kiểu nuốt trộng quả táo, trọn chẳng quan tâm mùi vị ra sao?[color=#FF0000] Người niệm Phật khi lâm chung biết trước lúc mất, há chẳng thể nhận biết rõ ràng ư? [/color]Dẫu chẳng thể kể với người khác nhưng đã được tiếp dẫn bởi lòng Từ của đức Phật thì có lẽ nào lại mơ hồ mờ mịt, như đang nằm mộng nhưng chẳng biết là mộng, cũng chẳng biết làm thế nào để tỉnh ư? Ông đúng là biết nói những lời lẽ thiếu đạo lý!

Giận tức học trò, sao lại nổi đóa đến nỗi chẳng thể nguôi được? [color=#4000FF]Chẳng qua là tạm hiện tướng nghiêm khắc cho chúng nó kiêng sợ mà thôi![/color] Nếu [color=#4000FF]nghiêm khắc quá đáng, bất quá [lũ học trò] cũng chỉ kiêng sợ tới mức như thế [/color]mà thôi, đâu còn kinh sợ hơn nữa được! [color=#FF0000]Phương cách dạy dỗ là nghiêm nghị, chánh đáng.[/color] Mỗi [color=#4000FF]một lời nói, mỗi một hành động đều chẳng cẩu thả, khinh bạc mảy may nào thì học trò sẽ như đến chỗ thầy dạy của nhà vua.[/color] Nếu [color=#4000FF]thường ngày trọn chẳng có dáng vẻ nghiêm nghị, trang trọng, lại còn hề hà, hệch hạc với chúng nó thì dù có nổi nóng đến chết uất như thế cũng có ích gì cho chúng nó đâu? [/color]Do ông hỏi câu này, tôi biết ông và thầy của ông đều chẳng khéo nêu gương. Nếu không, chắc chắn sẽ chẳng đến nỗi giận tức như thế! Huống hồ còn nói “rộng dung cho học trò tự sửa đổi” và nuông chiều dung dưỡng thói gian trá ư?

Một chú tiểu hết sức khinh bạc, quỷ quyệt, coi hết thảy mọi người đều không ra gì! Do vậy, thầy nó cậy Quang giáo huấn (thầy nó là bạn rất thân của Quang), Quang nói rõ nguyên do khiến cho thầy ấy trong lúc đó mặt không còn hạt máu, đã sợ hãi khôn cùng. [color=#4000FF]Về sau đưa nó đến, Quang bèn hòa nhã, bảo nó cặn kẽ: “Đừng trái lệnh ta. Hễ trái nghịch, quyết chẳng dễ dãi dung tha”.[/color] Tâm[color=#4000FF] nó tuy kinh sợ, nhưng rốt cuộc do chưa từng đích thân thử [nếm mùi xử phạt] nên chưa đầy hai ngày đã phạm quy củ[/color]. [color=#4000FF]Lúc Quang sắp đánh, liền nói trước quy củ với nó: “Không được động đậy, không được khóc!” Chưa đánh nó đã né trước. Quang nói: “Đây là lần thứ nhất ta chưa phạt. Còn né nữa sẽ nhất định trừng phạt”, rồi mới đánh, [nó đành đứng ngay đơ] giống như cái cây được trồng vậy![/color] Từ đấy trở đi, cả nửa năm sau chưa từng phải nói lớn tiếng một lần nào, huống là phải dùng đến kiểu tức giận không thể nguôi như thế ư? Đấy là chuyện xảy ra trong năm Quang Tự 12 - 1886 (nhằm mùa Xuân. Đến ngày Rằm tháng Tám, Quang xuống núi, sang núi Hồng Loa ở Bắc Kinh. Từ đấy chưa hề trở lại Trường An, đã ba mươi tám năm rồi).

Sao ông [color=#FF0000]chuyên môn dùng cách chấp trước chết cứng để bàn luận Phật pháp vậy? [/color]Ai bảo ông “chấp trung vô quyền” (chấp vào đạo Trung Dung, chẳng biết quyền biến)[18]. [color=#4000FF]“Chấp trung vô quyền” còn không nên; thế mà trước hết ông đã dốc sức chấp chặt vào một bên, chưa hề có một chút hơi hướng, dáng vẻ Trung Dung nào hết![/color] Ông [color=#4000FF]thấy Lục Tổ giữ lưới phóng sanh[19] liền cho là Ngài đã phạm giới trộm cắp và nói dối.[/color] Đấy chính là kiến thức “bất sủy kỳ bổn, nhi tế kỳ mạt giả” [color=#4000FF](chẳng suy xét tới cái gốc, chỉ lo vun vén cái ngọn) như Mạnh Tử[/color] đã nói. Ông thật đáng gọi là một gã hủ Nho, sao mà cũng chẳng biết nặng, nhẹ đến mức ấy? Hãy nên biết rằng:[color=#FF0000] Phật giáo lấy từ bi làm gốc[/color], [color=#FF0000]người thông đạt coi trọng việc thấu hiểu quyền biến! [/color][color=#4040FF]Như lời ông nói thì cha bắt trộm dê, con khen ngợi, đấy mới là chánh đạo, [em trai] ngồi nhìn chị dâu chết đuối chẳng chịu giơ tay cứu mới là chánh đạo![/color] Đã chẳng thể dựa theo [đạo giữ vững lẽ thường nhưng thông đạt quyền biến] ấy để hành đạo thì ắt sẽ đến mức trèo tường phía Đông nhà hàng xóm để dụ dỗ gái trinh[20]. Vì sao vậy? Do [quan niệm rằng] chẳng thân cận phi lễ thì đấy cũng là phi lễ, sao lại cứ phải chọn lựa ư?[21] [color=#FF0000]Nói lý như thế, gọi là nói cong vẹo, loạn xạ, Phật chẳng chịu đáp![/color]

Do [color=#4000FF]giữ giới không sát sanh liền đến nỗi chẳng chịu xử phạt [khi học trò phạm lỗi], không trị bệnh, không ăn cơm![/color] Ông[color=#4000FF] đúng là kẻ chấp nhặt chết cứng, nhai bã của cổ nhân, chẳng thể tiêu hóa được![/color] [color=#4000FF]Như thế thì làm sao tự lợi, lợi người được đây?[/color] Huống chi ông nói: “Mèo bắt chuột, rắn nuốt ếch. Cứu con này ắt phải giết con kia”. Nếu theo như lời ông nói thì hễ kiêng giết, ắt trước hết phải giết sạch những con vật nào sát sanh![color=#4000FF] Nhưng trong một đời, con người sát sanh để ăn chẳng biết số tới bao nhiêu, cố nhiên phải giết hết sạch con người đi thì mới đạt được cái quả không sát sanh vậy! [/color]Đáng thương lắm thay! Có trí thông minh như vậy mà chẳng thông đạo lý đến mức như thế đấy!

[color=#4000FF] Người trì giới hễ gặp người hay gặp thần đều đem luân hồi sanh tử ra khuyên[/color] dụ. [color=#4000FF]Dẫu cúng cỗ chay, đãi cơm chay, há thần lẫn người sẽ vì đó mà oán hờn ư? Huống chi ta trì giới của đức Phật, những tà quỷ thần ấy dám oán hờn, giáng họa ư?[/color] Nếu thật sự oán hờn thì vị thần ấy có còn là chánh thần, người ấy có còn là con người chánh trực hay không? Nếu [color=#4000FF]hành vi của chính mình chân thật, người lẫn thần sẽ bị cảm hóa, làm sao oán được?[/color] Nếu chính mình l[color=#4000FF]én lút ăn, khi kính thần, đãi khách thì làm ra vẻ trì giới. Như thế thì thần ắt giận, người ắt oán bởi kẻ ấy giả dối[/color]. [color=#4000FF]Ngụy quân tử sẽ giống như gái làng chơi hễ gặp người ta bèn khoe mình trinh khiết[/color], có ai tin tưởng đâu!

Ông thật là kẻ chẳng hiểu việc đời. [color=#FF0000]Kinh Phật ý nghĩa vô cùng. Dẫu chẳng hiểu rõ ràng, nhưng giống như đặt một vật cực thơm ở trong thân thì thân sẽ tự thơm tho.[/color] Ông toan coi hết thảy sách đều cũng giống như thế thì sẽ giống như đem vật hôi thối bỏ trong thân, thân có thơm tho được hay chăng? Kinh Kim Cang dạy: [color=#4000FF]“Kinh này nghĩa chẳng thể nghĩ bàn, quả báo cũng chẳng thể nghĩ bàn”[/color]. Những sách khác bất luận xấu hay tốt, há có nghĩa ấy hay chăng? [color=#4000FF]Phàm đọc sách thế gian, tâm liền tán loạn[/color] chẳng tịnh. [color=#4000FF]Phàm xem kinh Phật, tâm liền lắng tịnh. Do nghĩa ấy có thể thấy đức Phật là bậc đại thánh nhân, lời Ngài nói chính là khuôn phép để chuyển phàm thành thánh.[/color] Vì thế, kinh Lăng Nghiêm dạy: “Nếu tâm chúng sanh nhớ Phật, niệm Phật, hiện tiền, tương lai nhất định thấy Phật, cách Phật chẳng xa. Như người nhiễm hương, thân có mùi thơm. Đấy gọi là Hương Quang Trang Nghiêm”. Ông muốn coi hết thảy sách giống như kinh Phật sẽ trở thành kẻ chẳng biết thơm - thối, buồn thay!

[color=#4000FF]Tai ương, hoạn nạn xảy đến cũng là do túc nhân.[/color] Nếu [color=#4000FF]có thể quy mạng Phật, Bồ Tát, sẽ tự chuyển dời được.[/color] Thoạt đầu ông do lòng Thành hứa nguyện ăn lạt, ấy là một phen dốc lòng Thành vì mọi người. Đến khi khổ cảnh đã qua, tâm lực hơi mệt mỏi liền cảm thấy khốn khó. Người tu hành cố nhiên nên chọn lựa sao cho thích đáng;[color=#4000FF] phô bày hạnh lạ để mê hoặc mọi người chính là điều bị đức Phật răn cấm sâu xa.[/color] Hãy [color=#4000FF]nên ăn chay là được rồi, chẳng cần phải tiếp tục không dùng thức ăn để nuốt cho trôi cơm nữa! [/color]Chỉ nên thương xót bọn họ vô tri mà thường khuyên dạy ngõ hầu họ gieo thiện căn là được rồi!

Niệm[color=#4000FF] Cao Vương Kinh khá có lợi ích, nhưng kinh ấy không thật sự do đức Phật nói.[/color] Người thật sự [color=#4000FF]tin Phật cố nhiên nên y theo những điều đã dạy trong phẩm Phổ Môn mà chú trọng khuyên người khác niệm danh hiệu Quán Thế Âm để cầu Ngài gia bị.[/color] Đối với [color=#4000FF]phương pháp uống nước dạy trong kinh Địa Tạng[22], kẻ hờ hững hời hợt sẽ chẳng thể đạt được hiệu quả! Vì thế hãy nên dùng lòng chí thành niệm Phật để làm phương cách tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng phước huệ.[/color]

Trong Đại Bi Chú, không cần phải thêm chữ vào phía dưới câu “mạ mạ”[23]. Hễ làm vậy sẽ đâm ra trở thành chướng ngại. Cổ đức trì tụng đều không thêm vào. Tuy trong kinh có chép, nhưng câu ấy không thuộc chú văn, cố nhiên không phải là không thể noi theo khuôn phép không dùng như vậy. [Chữ La (囉)] trong La Đa (囉多) đọc như âm Lạp (拉)[24]. Niệm Phật mà còn nhớ nghĩ kèm thêm danh hiệu của hai vị Bồ Tát, lâu ngày chắc tâm lực sẽ bị tổn thương. Niệm Phật tâm nghĩ nhớ tượng Phật và tượng hai vị Bồ Tát, so ra đỡ tốn tâm lực hơn nhớ danh hiệu. Phàm là người học Phật [color=#4000FF]hãy nên y theo ngôn giáo của đức Phật, há nên tự lập chương trình?[/color] [color=#4000FF]Sữa bò lấy từ bò, tuy chẳng thương tổn sanh mạng, nhưng vẫn gây tổn hại cho bò, cố nhiên đừng nên dùng[/color]. Dẫu [color=#4000FF]có dùng cũng chẳng mắc lỗi phạm giới![/color]

Cải, ớt, tiêu, gừng chỉ cay chứ không hôi, há nên bảo chúng đều cay hôi giống như hành, hẹ ư? Há chẳng phải là vô sự sanh sự, nói đạo lý loạn xạ ư? Cải, ớt, tiêu, gừng cay chứ không hôi! [color=#4000FF]Tiêu, gừng, cải thì người ăn chay đều nên dùng, còn ớt thì nên ăn ít đi bởi ăn nhiều chẳng có ích gì cho con người cả![/color] [color=#FF0000]Tâm đã tạo được nghiệp thì tâm sẽ chuyển được nghiệp, nhưng tâm phải cực thành khẩn thì mới có hiệu quả thật sự.[/color] [color=#FF0000]Phận làm con phải uyển chuyển nương theo lễ nghi thế gian, đối với những gì cha mẹ quy định thì chớ nên không làm theo.[/color] [color=#40BF00]Dâng rượu, hiến đồ mặn [cho cha mẹ] cũng chẳng phải là không được, nhưng trong tâm phải thường sám hối túc nghiệp cho cha mẹ mong họ sẽ hồi tâm.[/color] Hễ [color=#408000]có dịp bèn thừa cơ dùng lời lẽ mềm mỏng khuyên nhủ, đấy là chân hiếu.[/color] Nếu[color=#4000FF] chỉ biết thuận theo lễ nghi thế gian, chẳng phát tâm độ cha mẹ, tức là thấy cha mẹ bị té xuống giếng bèn quăng đá theo để mong cho cha mẹ lập tức mất mạng![/color] Vì thế, hễ [color=#40BF00]cha mẹ không có lòng tin thì hãy uyển chuyển làm theo lễ nghi thế gian, còn cha mẹ có lòng tin thì hãy nên theo đúng pháp để tạo ích lợi cho huệ mạng. [/color]Hãy nên làm[color=#4040FF] sao cho thích nghi [/color]để đôi đằng đều được lợi ích!

Hãy nói rõ về chuyện bột ngọt có chỗ nào chẳng đúng pháp! Họ có địa chỉ, ông hãy nên gởi thư sang đấy trình bày cặn kẽ, chứ còn bảo tôi nói lại với họ thì chắc là ông cho rằng tôi suốt ngày không hề có một chuyện gì chăng? Tôi có rất nhiều chuyện chưa rảnh rang để lo tới, nào còn có thời gian, sức lực để bàn đến chuyện này! Ông bảo là “người hèn, lời nhẹ”, còn người ta vừa cầu được tiếng vừa cầu lợi, há chẳng chịu nghe theo lời nói chánh đáng của ông ư? Ông lại nên biết rằng: Người ta in ra những tờ hướng dẫn ấy, chẳng biết đã in mấy vạn bản; nếu có sửa đổi thì cũng phải dùng hết những tờ đã in ấy rồi tiếp đó mới dùng bản đã được sửa đổi! Nếu ông thấy tờ hướng dẫn chưa được sửa, liền bảo “họ chẳng nghe lời”, tức là chẳng biết sự vụ rồi! Ông thật sự đáng được coi là người có lòng, nhưng tôi chẳng rảnh rỗi để lo tới. Nếu do một lời chẳng được thỏa ý, liền chê là “ôm củi chữa lửa, giúp vua Kiệt[25] làm ác”, sao mà chẳng khoan dung quá đáng như thế? Nhưng nếu vứt bỏ chuyện này, mặc kệ cho người khác ăn thuần thịt thì lửa có giảm bớt sức mạnh, Kiệt có trở thành nhân hậu hay chăng?

[color=#FF0000]Vì người chẳng thể ăn chay hoàn toàn mà Phật khai duyên Tam Tịnh Nhục và những ngày Lục Trai, Thập Trai, còn ông một chữ cũng chẳng cho nói mà lại có thể khiến cho hết thảy mọi người đều chẳng tham đắm vị thịt được hay không? [/color]Còn như [color=#4000FF]Quang dùng một chuyện đau lòng nhất để khiến cho ai đọc đến trong lòng sẽ hồi hộp bất an, ắt sẽ ăn ít đi cho đến dứt hẳn, ông lại bảo là khơi gợi cơ duyên giết chóc rồi bảo hãy tước bỏ [đoạn văn ấy] đi! [/color]Vậy là [color=#FF0000]“giới” của ông nghiêm ngặt hơn giới của Phật nhiều lắm,[/color] huống là [quan niệm về giới của] Quang ư? Sao ông chẳng lường nặng - nhẹ đến mức như thế ấy? Ông gởi thư cho Hoằng Đại Thiện Thư Cục, nhưng chẳng hiểu nguyên do của Hoằng Đại. Nếu biết, sẽ chẳng tốn công vào chuyện ấy, nhưng ý ấy rất có lợi ích. Lá thư ấy nên giữ lại để người in thiện thư đọc, nhưng cũng chớ nên chấp chết cứng.[color=#4000FF] Nếu bỏ hết những loại thuốc có dùng tới những con vật sống [để chế thuốc] thì [các thầy lang chữa bệnh] ngoại khoa sẽ khó thể chữa trị được.[/color] Chúng ta [color=#4000FF]giữ tấm lòng lợi vật, hãy đừng ăn nói theo cái kiểu “thúc đẩy đến cùng tận nghĩa lý” ấy thì người ta sẽ nghe theo.[/color] Nếu [color=#4000FF]không, đâm ra người ta sẽ đem chuyện thúc đẩy đến cùng tận nghĩa lý để trách móc ông đấy![/color]

[color=#4000FF] Con người sống trong thế gian họa - phước dựa dẫm lẫn nhau.[/color] Tiêu Sơn[26] do chết dưới tay kẻ quyền gian mà danh được rền khắp vũ trụ. Nếu không mắc cái họa này, hễ được đắc chí, nhất định sẽ diệt Phật thì đối với đất nước, đối với chính mình đều bất lợi lớn lao. Vì sao biết thế? Ông ta làm Điển Sứ tại Địch Đạo[27] vì dân tạo điều lợi, trừ điều tệ, thói tệ mấy trăm năm đều trừ sạch. Niên Phổ của ông ta chép (trong thời gian làm Điển Sứ), [dân chúng] nơi ấy (tức huyện Địch Đạo) thích lễ Phật, thắp hương, ngay cả kẻ làm quan vẫn có người làm như vậy; bởi thế, ông ta bèn nghiêm cấm. Thoạt đầu nại cớ bất tiện, không lâu sau thì ai nấy đều biết ông ta là kẻ “sùng chánh, ghét tăng”[28]. Ông ta làm Điển Sứ tại Địch Đạo chưa đầy một năm mà còn như thế, nếu làm Tể Tướng há chẳng thể không thực hiện chuyện diệt Phật giáo lớn lao ư? Chuyện diệt Phật nếu thành sẽ có quan hệ lớn lao đối với xã tắc, chứ không phải chết đi sẽ đọa trong địa ngục A Tỳ mà thôi! Thời Gia Tĩnh [triều đình] một mực ưa chuộng Đạo Giáo, ghét Phật giáo. Nếu trọng dụng Tiêu Sơn, đích xác ông ta sẽ vì nước, vì dân, hưng khởi điều lợi, trừ mối tệ, nhưng do đã lậm sâu chất độc của Trình - Châu ắt sẽ coi diệt Phật giáo là công đức bậc nhất rồi dốc chí mạnh mẽ thực hiện vậy!

Tiêu Sơn hoàn toàn chưa từng đọc kinh Phật, nhưng trong Niên Phổ đã chép khi ông ta thọ hình trọn chẳng biết đến đau khổ. [color=#FF0000]Người thiếp của ông ta là bà X… niệm Quán Âm, chắc là được Quán Âm gia bị mà ra, cho nên bị cực hình mà chẳng đau khổ![/color] Đấy cũng là do lương tâm phát hiện. Vợ ông ta cũng chẳng biết Phật pháp, dâng sớ xin chết thay cho chồng, chính mình và hai đứa con đều không nhắc tới niệm Phật một chữ nào! Con người sắp chết, lời nói ắt lành. Nếu dựa trên tâm hạnh của Tiêu Sơn thì lẽ ra ông ta phải rất ghét người thiếp ngu mê thì mới hợp với tâm ông ta vậy! Ông ta đã cảm kích người thiếp niệm Quán Âm, há đâu lại nghiêm cấm dân chúng thắp hương lễ Phật? Đủ biết là tuy ông ta không tin Phật, nhưng đến[color=#4000FF] khi đại nạn xảy tới, trong lương tâm cũng thốt ra lời tin tưởng! Học thuyết khiến con người bị lầm lạc lắm thay![/color] Bởi lẽ, với thiên tư của Tiêu Sơn, nếu nghiên cứu Phật pháp đến mức cùng tận, há lẽ nào chỉ cống hiến cho nước, cho dân, cho thân như thế mà thôi!

Ông đã làm thơ, viết kệ khuyên người sao chẳng dùng chánh vận[29], lại dùng âm vận của đất Mân (Phước Kiến), nhưng vẫn chẳng chịu thay đổi thì gởi cho tôi để làm gì? Hơn nữa, ông lại ghép hai chữ Ấn Quang để làm câu đối, chẳng ngại làm cho thật nhiều là vì muốn gì đây? Ông đem gởi [những câu đối ấy] cho tôi để biểu thị lòng Thành của ông hay là làm trò con nít đùa bỡn vậy? [color=#FF0000]Lấy tên ghép thành câu đối và làm kệ[30] là thói quen của cõi tục trong đời gần đây. Ông hãy nên làm những chuyện chánh đáng theo lẽ thường, chớ đừng không có chuyện gì bèn bới ra chuyện để làm![/color] Há lẽ nào Quang lại vui thích vì được ông tâng bốc như thế ấy?

[color=#4000FF]Tấm lòng lợi người lợi vật của ông quả thật là khó có, nhưng chẳng biết sự vụ. Sợ rằng nếu không nói toạc ra, chắc sau này ông sẽ càng thêm chấp trước, ắt sẽ đến nỗi không làm người được nữa! [/color]Vì thế, Quang xót cho ông do lòng Thành mà chấp trước nên mới nói dài dòng một phen như thế này! Nếu cho là không đúng thì Quang là người đất Tần (Thiểm Tây), ông là người đất Mân, hai nơi cách nhau cả mấy ngàn dặm, mà người cũng chưa từng gặp mặt nhau, ông cứ làm theo chí của ông. Từ nay, chẳng cần phải gởi thư đến nữa để tôi khỏi phải xung đột với ông. Ông hỏi như vậy, tôi đáp như vậy! Nếu có mấy người giống như ông thì tôi sẽ mệt nhọc đến chết mất! Ông đã có Văn Sao, có sách Tịnh Độ, nhưng chẳng bắt chước theo những thứ ấy, cứ hướng về tôi để chọn lấy những lời lẽ ngoài miệng hoặc nơi ngòi bút. Nếu tôi có thể hiện khắp các sắc thân thì cố nhiên không trở ngại gì! Nếu không, chắc là ông chưa được lợi ích mà tôi đã chết trước vì nhọc nhằn rồi! Nếu mai sau vẫn cứ lôi thôi như thế này, tôi sẽ không trả lời nữa đâu!

[url]http://www.niemphat.net/Luan/aqvstambien/aqvstambien23.htm[/url]

gioidinhhue
24-04-2010, 13:49
76. Thư trả lời bà Bạch Huệ Đạo



Quảng Tây là nơi Phật pháp không lưu thông, bà mang thân nữ, lại tự tìm được thầy, tu trì Tịnh nghiệp, thật là khó có! Hôm Mười Bảy tháng Bảy, Quang xuống núi, Mười Chín đến Thượng Hải, Hai Mươi Tám đến Hàng Châu. Hôm Ba Mươi tháng Tám trở về Thượng Hải. Thư từ, văn kiện người khác sai viết giùm chất đống, suốt ngày chẳng được rảnh rỗi, lại còn bận việc túi bụi. Thư của bà từ núi chuyển tới cũng chẳng rảnh rang để phúc đáp. Hôm mồng Sáu tháng Mười trở về núi mới lôi ra trả lời. Nay gởi qua bưu điện cho bà một gói Quán Âm Bổn Tích Tụng, một gói Văn Sao, một gói Thọ Khang Bảo Giám, xin hãy lắng lòng xem kỹ thì những nghĩa chánh yếu trong Phật pháp, quy củ lớn lao để làm người, pháp môn để liễu sanh tử ngay trong đời này, đạo lý để thất phu cứu giúp thiên hạ sẽ đều biết rõ!

Nay đặt pháp danh cho bà là Huệ Đạo, nghĩa là dùng trí huệ để tự hướng dẫn và hướng dẫn cha mẹ ruột, bố mẹ chồng, chồng và anh em trai, chị em gái, chị em dâu, thân thích, con cái v.v… để họ cùng được gội ân Phật, cùng niệm Phật hiệu. Trong đời này làm một người lành chân thật, lâm chung sang thẳng ao báu để thọ sanh. Cổ nhân thường nói: “Thiên hạ chẳng yên, thất phu có trách nhiệm”. Thất phu, thất phụ làm sao có thể khiến cho thiên hạ bình trị được? Cần biết rằng: Cái gốc của thiên hạ là gia đình. Cái gốc của gia đình là tấm thân. Gia đình khéo dạy dỗ thì con cái sanh ra sẽ đều hiền thiện. Nhà có con hiền thì đất nước sẽ có hiền tài. Hễ cùng quẫn thì tự yên, ảnh hưởng đến khắp cả làng xóm. Hễ hiển đạt sẽ làm cho người khác đều cùng được lành, tạo lợi ích cho khắp mọi người dân. Lợi ích như vậy phát xuất từ sự giáo dục trong gia đình. Giáo dục trong gia đình thì sự dạy dỗ của mẹ là quan trọng nhất. Đấy chính là lý do vì sao người đời gọi nữ nhân là Thái Thái do họ có thể giúp chồng dạy con, giữ yên bên trong gia đình. Do vậy sẽ đạt hiệu quả là “chồng ắt sẽ thành tựu đức nghiệp, con cái đều hiền thiện”, giống như Thái Khương, Thái Nhiệm, Thái Tự đời Châu vậy. Nếu bà có thể dựa theo những điều đã được nói trong Văn Sao để tự lợi, lợi người, ngõ hầu quý địa cùng được gội nhuần sự giáo hóa của đức Phật, dùng công đức ấy hồi hướng vãng sanh thì sẽ lên thẳng sen báu Thượng Phẩm.

Nói tới đạo “thất phu, thất phụ có thể cứu giúp thiên hạ”, chớ có hiểu lầm! Đấy chính là “trọn hết bổn phận của chính mình, dốc lòng vun vén luân thường, cha từ, con hiếu, chẳng phụ bạc thiên chức [của chính mình]”. Lại còn đề xướng nhân quả báo ứng và giáo dục trong gia đình, nhưng giáo dục trong gia đình phải chú trọng nhất nơi nhân quả báo ứng. Làm được như thế thì hết thảy mọi người sẽ tự có thể mong mỏi “đừng làm các điều ác, vâng làm các điều lành”, lại còn “tu trì Tịnh nghiệp, lợi khắp các hàm thức”. Đấy chính là cứu giúp, chỉ có như vậy mà thôi! Những kẻ cổ động nam nữ bình quyền hiện thời, muốn cho nữ nhân làm chuyện của nam giới, chẳng biết phát huy chuyện giúp chồng dạy con, đáng thương quá sức!

Năm sau sẽ còn có Ấn Quang Pháp Sư Gia Ngôn Lục, Di Đà Kinh Bạch Thoại Chú được in ra, cũng sẽ gởi cho bà chừng đó gói. Văn Sao, Quán Âm Tụng, Thọ Khang Bảo Giám, nếu có ai tin nhận thì cũng sẽ lại gởi chừng đó trong mùa Xuân năm sau để mong lợi khắp người nơi quý địa. Chữ Niệm (念) trong “niệm Phật” chớ nên thêm chữ Khẩu (口). Chữ Niệm [hàm nghĩa phát xuất] từ nơi tâm. Nếu thêm vào chữ Khẩu thì Niệm (唸) sẽ có nghĩa là rên rỉ, chứ không có nghĩa là ức niệm (nghĩ nhớ) nữa. Bài thơ của bà hay lắm, nhưng chớ nên thường làm thơ. Bởi lẽ, thường làm thơ thì trong tâm sẽ thường chú trọng cân nhắc, chọn lựa từ ngữ, niệm Phật sẽ trở thành chuyện ngoài da, làm thơ trở thành chuyện cốt tủy! Làm sao đạt lợi ích chân thật nơi niệm Phật cho được? Hết thảy văn nhân hễ muốn đạt được lợi ích thật sự đều phải nên như vậy. Huống chi bà là nữ nhân, há nên dùng thơ ca để được nổi danh ư? Phàm đối với những kinh sách giảng nói Phật pháp đều phải nên cung kính, chớ nên khinh nhờn! Muốn tặng cho người khác thì trước đấy phải đem điều này răn nhắc họ, ngõ hầu họ chẳng đến nỗi lầm lỡ gây nên tội báo!



77. Thư trả lời cư sĩ Huệ Trung



Trong khi gặp nguy hiểm lớn lao, niệm Phật một tiếng liền không còn nguy hiểm, đủ biết từ trước đến giờ bọn nhà Nho báng Phật là tự lầm, lầm người, tội vừa sâu lại vừa nặng! Đã vừa niệm liền được gia bị thì khi lâm chung vãng sanh cũng sẽ vô ngại, cố nhiên nên cực lực đề xướng. Những chữ được in màu đỏ trên tờ giấy in lá thư của Quang chỉ nên hơi có màu sắc đôi chút, há nên in màu đỏ thật đậm, ngay cả màu của những chữ in kèm thêm cũng đã quá đỏ, huống hồ tám chữ “chư ác mạc tác…” (đừng làm các điều ác…)! Đúng là trở thành rối loạn, mắt già quáng lòa, đều chẳng biết là câu văn gì? Ông in kiểu này đủ biết là chẳng thông cảm cho người khác quá sức! Chính ông đọc được, chứ nếu có ai nhìn chẳng rõ, chắc là sẽ đến nỗi hỏng việc, há nên làm cho lá thư của tôi khiến cho người đọc phải hao tốn tâm lực, mục lực, rốt cuộc có ích gì cho chính mình đâu? Cái thói thông tục ấy vàn muôn phần chớ nên dùng. Hễ dùng sẽ bị tổn phước, lại còn chuốc lấy sự ghét bực, chê trách của người khác!

http://www.niemphat.net/Luan/aqvstambien/aqvstambien23.htm