Xem bản đầy đủ : Tham sân si do đâu mà có?
Vân Quang
03-02-2010, 23:38
Tham sâm si do đâu mà có
Nói về THAM thì ai cũng biết ý nghĩa, nhưng không thật sự rõ nghĩa, và ai đã biết được vì sao và do đâu mà có.
Một người có 11 viên kẹo , chia cho 10 đứa bé, mỗi đứa bé được 1 viên, đứa nào cũng hoan hỹ nhận kẹo của mình , bóc giấy, cho kẹo vào miệng ăn thật ngon lành, chỉ riêng có một bé không vội ăn, luôn luôn liếc nhìn viên kẹo còn lại trên bàn và mong muốn có nó, ta nói đứa bé nầy tham.
Nhưng khi biết tại sao em lại muốn có thêm một viên kẹo nữa, em nói:
- Con muốn xin nó cho mẹ!
Tại sao em không ăn viên kẹo của em:
- Con muốn dành nó cho mẹ!nên không dám ăn
Tại sao con không ăn , mà nhìn về viên kẹo còn lại chưa chia cho ai
- Con muốn xin nó cho mẹ!
Các bạn nghĩ sao?
………………
Có những cái thể hiện tâm THAM nhưng không có cái gốc của SI, nhưng khi có cái gốc SI cấy vào cái Tâm THAM thì than ôi, vì THAM mà mù quáng, không còn biết đạo lý, vì tham mà buông bỏ tất cả để đạt được cái mà mình mong cầu, cái nầy là đại họa!
Thông thường , Tâm THAM và Tâm SÂN rất là đáng ngại khi nó có cái gốc SI.
Ở đây tôi muốn đưa vấn đề do đâu mà có tham sân si, tất cả tham sân si phát triển lúc đứa bé mới chào đời cho tới lúc thiếu niên, do nhiều nguyên nhân.
Mẹ cho ăn không đúng giờ, trễ giờ , trẻ đói, lần sau nó sẽ tham ăn hơn một chút…..bắt đầu lớn lên một chút, đứa bé bắt đầu làm việc nhà nhẹ được hay đi học , mẹ nó dạy ráng (làm đi) học đi , làm xong (học xong) mẹ cho con ăn kem .
Đứa bé cảm thấy , trước đây mình không làm gì mẹ cũng mua cho mình kem ăn mà, vậy là nó muốn 2 cây, vì nó đã làm (học).Nghĩ vậy là nói liền:
- Con ăn 2 cây!
- Ừ , thì hai
Vậy là lòng tham của bé đã được khích lệ.
………………..
Những phần mà đức Phật giảng giải trong vi diệu pháp rất phức tạp, ở đây tôi chỉ muốn tóm lược để chúng ta biết cách nào mà từ bỏ Tham Sân Si
Từ cái tâm Tham ta có thể nói:
Tham ăn thì bệnh nhập
Tham nói thì họa tòng
Vì sao?
Vì bệnh tòng khẩu nhập
Họa tòng khẩu xuất
Bệnh do ăn uống mà ra, họa do nói bậy mà theo.
Như vậy nếu ăn uống điều độ , không để cho đói quá rồi mới ăn , mà cũng chẳng cầu thật no, không ăn nhiều thức ăn chướng ngại, nặng nề , không ăn thức ăn hư thối, có mầm bệnh thì sẽ tránh được rất nhiều bệnh.
Còn về phần nói, chẳng cần phải hơn thua nhau vì lời nói sẽ khó bị vạ, hoặc có người oán hận; cũng có nhiều câu ví von : thần khẩu hại xác phàm
Khi tính tham bị lược bỏ thì sẽ khó bị lường gạt ngoài đường, xin kể một ví dụ.
Có một thanh niên nọ, đang đi giữa đường nghe điện thoại reng, chàng bèn tấp vào lề, có một cô gái đang chờ ai đó, anh chàng nầy có máu dê và cũng muốn khoe của, giơ cái điện thoại Vertu có giá 68 triệu ra , và nói chuyện qua điện thoại, anh đậu xe gần cô nàng chừng vài bước chân.Nói xong định cho vào túi, nàng bèn đến gần , miệng cười thật tươi:
- Hổng dám nào, xin mượn anh cái điện thoại, điện cho người bạn đến rước nhé!.
Chàng vì tâm tham gái, bèn đưa ngay.
Cô nàng cầm điện thoại lên, nhấn số gọi, lùi về phía sau vài bước chân, hất hàm lên và nói to:
- Anh qua đây đi! cái thằng nầy nó dê tui nè!
Phía bên kia đường 1 tay thật bặm trợn, vừa nghe điện thoại, vừa nẹt ga xe, và dợm quẹo qua.
Anh chàng hết hồn bỏ luôn cái vertu 68 Tê.
…………….
Vân Quang
03-02-2010, 23:42
Trong bài giảng của vi diệu pháp về Tâm Sân có hai ví dụ rất hay.
1/Tâm sân do cha mẹ truyền cho con cái
Mẹ dặn con trai:
- Mẹ nói khi mắc đái nhớ kêu mẹ nghe chưa! để đái ra quần là không được đâu đó.
Đứa bé ham chơi , đang chơi bổng mắc đái, xón đái rồi mới gọi mẹ:
- Mẹ! con đái!
Mẹ nó tức quá vì mới dặn mà nó đã quên, phát vào mông mấy cái, làm thằng bé đang đái nín khe . Đứa bé đang đái , tức là đang hưởng sự sung sướng của việc đái, có nghĩa là đang thọ lạc, nó cũng không hiểu rõ lắm tại sao bị đánh đòn. Tâm nó vẫn nhớ như in, mình đang khoái vì được đái, giờ lại bị mẹ quánh, không tức làm sao được. Tâm nó ghi nhận và căm hận quyết trả thù kẻ nào đang sửa soạn sướng sẽ làm cho kẻ đó tức lên như nó từng bị.
Trong hẻm mấy đứa bé đang chơi bắn bi, đứa nhỏ có viên bi gần lỗ nhất sửa soạn bắn bi vào lỗ, chổng mông thủ thế; bổng, bịch! Thằng nhỏ bị thằng nhóc kia đá vào mông một phát lăn cù. Thằng nhỏ bị mẹ đánh vì đái ra quần, nó rất là hả hê, vì đã thỏa lòng làm cho kẻ khác cũng bị đau khổ và oán hờn như nó khi sắp được thọ lạc như nó.
Tâm sân đã được truyền từ mẹ sang con rồi!
2/ Có một người con gái từ nhỏ sống với mẹ, lớn lên đi làm ăn xa,không có chồng con chi cả, lúc cô khoảng 42 tuổi,đêm nào cũng nằm chiêm bao thấy cầm dao đâm mẹ mình, thật là kinh hoàng, cô rất mực hiếu thảo và yêu thương mẹ...., tại sao lại có hiện tượng nghịch lý nầy?
Rồi cô tìm bác sĩ tâm lý để trị bệnh, bác sĩ hỏi từ lúc còn bé, gia cảnh, cách sống .....cuối cùng cô kể, khoảng tuổi 6, 7 gì đó, sáng chủ nhật nào cô cũng đi nhà thờ cùng với mẹ mình, hai mẹ con ngồi kế nhau, mẹ cô nói:
- Ngồi im đây nhe, để mẹ cầu kinh xong rồi về.
Con nít làm sao ngồi im được, nhìn sang bên kia thấy người bạn trai , hai đứa bèn lén ra sân nhà thờ chơi....Sau khi cầu kinh xong , mẹ cô không thấy cô bên cạnh, bà tìm kiếm khắp nơi và cuối cùng gặp được, bà đánh cô mấy cái bạt tai.....Cô khóc mà không hiểu vì sao.....Mình với người bạn chơi đùa ở nhà thờ cũng giống như chơi ở sân trường , có tội gì mà bị đánh, thâm tâm cô sinh oán hận mẹ mình....
Bác sĩ nhấn mạnh , trong cuộc đời của cô không có sự xích mích nào với mẹ ngoại trừ việc nầy, và cho rằng chính vì sự oán hận mẹ mình mà cô đã ghim vào tiềm thức và cuối cùng sau ba mươi mấy năm , trong giấc mơ cô cầm dao đâm mẹ......
Tâm sân của người mẹ đã truyền cho cô từ rất lâu,và trong tâm của cô lúc đó cũng khởi lên tâm sân, tâm oán hận cái hành động của mẹ dành cho mình, nhưng tới ba mươi mấy năm sau mới thể hiện bằng giấc mơ.Thật là khủng khiếp quá phải không?
Vân Quang
04-02-2010, 00:44
Như vậy sự sân hận nầy có thể vì không rõ nguồn gốc của sự trừng phạt của người trên mà mang tâm " không biết " kèm theo, cái tâm "không biết , không hiểu, không rõ " nầy cũng là một phần trong định nghĩa của Tâm Si, tức "vô minh" tức "tự huyễn" tức "bất hoặc", tự cho điều gì đó là đúng và làm theo, không cần nghi ngờ điều mà mình nghĩ là sai, không cần phản biện và bất chấp ai ngăn cản, bất chấp mọi lý lẽ chân thật, như người nghiện xì ke, nghiện thuốc lá, nghiền rượu, cũng do Tâm Si mà ra, người nghiền thể xác sắc dục cũng do Tâm Si mà ra, tâm Si được duy trì thường thường do cái tự ngã của mình cộng với sở hữu trợ tha và tâm bất thiện mà tạo thành, nếu cái tự ngã của mình không muốn, thì các sở hữu trợ tha và tâm bất thiện khó mà níu kéo được !, như vậy muốn cắt bỏ Tâm Si phát khởi (cần phải cắt khi nó bắt đầu phát khởi), thì chính mình phải cắt đi cái mà mình cho là ...cái mà mình nghĩ là... cái mà mình thường làm..., cái mà mình thường nghĩ...,sau khi nhận được các sóng não từ các Căn; hãy thật sự quan tâm, quyết tâm dũng mãnh mà rời bỏ nó, thì tức thì chơn Tâm của ta sẽ cắt rời khỏi Tâm Si ngay.
Tự ngã (thân, ý,hành) + Si phần <==> sở hữu trợ tha + tâm bất thiện
Vấn đề là Tâm Si khởi lên từ đâu?
Lục trần có thể khởi Si, Lục căn tiếp nhận vào não sinh ra lục thức và Si phần ở trong Tâm của mình sẽ nhân lên hay lũy thừa , (Lục thức sau khi chuyển về não bộ, cái đã nhận biết do lục căn nhiếp vào, chuyển thành Ý và chuẩn bị chuyển thành hành động tương ưng).
Vậy thì Tâm Sân ở hai thí dụ trên còn có sự cộng thêm của Tâm Si, căn là Sân nhưng có sở hữu của Si phần
………………….
Tự ngã không phải là cái chơn ngã, mà là cái mình tự cho mình phải nghĩ theo, phải làm, phải tưởng theo điều gì đó, mà điều đó đã được dạy từ trước, do gia đình, do xã hội, do dân tộc, hay do cái mà ta gọi học thức, kiến thức, định kiến xã hội, tôn giáo...và mình tự nhũ rằng mình là nó.
Khi yêu một cô nàng thì ta tự đưa ra 10 hay 20 cái tiêu chuẩn, nhưng ta vừa là thí sinh vừa là giám khảo .( cũng có thể gọi là vừa là chủ đầu tư vừa là giám sát thi công)
- Điều 1 nàng phải đẹp, đẹp đối với mình nhưng chưa phải đẹp với tất cả
- Điều hai, phải tự lập được
- Điều 3, phải có hiếu với cha mẹ
- Điều 4, phải biết tiết kiệm
- Điều 5, phải thương yêu con nít
- Điều 6, phải có học thức
......
Làm sao mà tìm được người nào có đủ các điều kiện mà mình nêu ra, họ chỉ có thể đáp ứng được vài ba mươi phần trăm, nhưng trong đó lại có cái mà sở hữu SI phần của mình chiếm lĩnh, còn lại 70 % kia không thể có hoặc không hề có, mình cũng tạm thời chấp nhận, và như vậy là mình yêu cái "tự ngã" của mình chứ nào yêu cái cô nàng đó đâu cà!
Bàn về :
"Lục trần có thể khởi Si"
Khi thân tứ đại được phát sinh, thì Lục căn cũng dựa vào đó mà phát triển. Vậy thế nào là Lục căn? Căn là chỗ nương tựa, làm gốc cho những cái khác nẫy nở, tạo thành. Lục căn thì gồm có:
¨ Nhãn là mắt, dùng để nhìn.
¨ Nhĩ là tai, dùng để nghe.
¨ Tỷ là mũi, dùng để ngửi.
¨ Thiệt là lưỡi, dùng để nếm.
¨ Thân là da bọc thân người, dùng để nhận biết những cảm giác như nóng, lạnh..
¨ Ý là tư tưởng, dùng để phân biệt.
Chung quanh chúng ta có biết bao nhiêu là hiện tượng, vật thể, biến đổi không ngừng cũng như chi phối từ tư tưởng đến hành động của chúng ta từng giây từng phút và chúng ta gọi nó là “trần”. Như thế, trần có nghĩa là buị, mà đã là bụị thì dơ bẩn và luôn luôn đổi dời. Trần ở đây cũng còn có nghĩa là phần vật chất, hay những cảnh vật chung quanh con người. Chúng ta gom lại được 6 trần nên gọi là lục trần:
v Sắc: là màu sắc, hình dáng.
v Thanh: là âm thanh phát ra.
v Hương: là mùi vị.
v Vị: là chất vị do lưỡi nếm được.
v Xúc: là cảm giác như cứng, mềm, nóng, lạnh.
v Pháp: là những hình ảnh, màu sắc, hương vị được lưu lại từ 5 trần ở trên.
Khi Lục căn (six sense organs) tiếp xúc với Lục trần (six sense objects), có nghĩa là: mắt thấy được hình ảnh nào, mũi ngửi được mùi thơm nào đó, lưỡi nếm được chất chua, cay hay ngọt, tai nghe được điệu nhạc êm đềm, thân thì cảm thấy đau đớn, hay lạnh lẽo, còn ý thì bắt đầu suy nghĩ, thì ký ức của chúng ta phát sinh ra sự phân biệt. Và chính sự phân biệt, hiểu biết và phán đoán này được gọi là thức. Cũng như Lục căn, thức cũng có 6 thức nên thường được gọi là Lục thức (six sense of consciousness). Do đó Lục thức gồm có: Nhản thức, Nhĩ thức, Tỷ thức, Thiệt thức, Thân thức và Ý thức. Tất cả những chủng tử của nghiệp từ nhiều đời trong quá khứ cộng với biết bao nhân duyên để tạo thành con người trong hiện tại mà nhà Phật gọi là Ngũ uẩn. Ngũ uẩn thì có sắc uẩn thuộc về phần thân xác và thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn thì thuộc về phần tâm thức. Vậy ý nghĩa nó thế nào?
Ngũ uẩn tự nó không có được, mà là do nhân duyên kết thành nên tự nó không có tự tánh hay chủ thể tức là vô ngã. Nhưng một khi mà do nhân duyên kết hợp thì nó làm sao cố định cho được. Trước khi nhân duyên hòa hợp nó chưa có, sau khi nhân duyên ly tán thì nó cũng tiêu tan theo.
Tâm thì dựa theo Lục căn để nhận biết Lục trần và phân biệt thành Lục thức mà Ngũ uẩn thì biến chuyển rất nhanh thành thử Tâm của con người cũng phải chạy theo. Ý niệm đua nhau sinh khởi trong tâm thức của con người. Ý niệm sau thay thế ý niệm trước vì thế mà vọng tưởng không bao giờ dừng lại. Vọng tưởng còn thì chân tâm biến mất.
Trong 49 năm hành đạo, tôn chỉ của Đức Phật là dạy chúng sinh phải giữ tâm của mình cho được thanh tịnh và loại bỏ tất cả mọi phiền não. Bởi vì vọng tưởng và phiền não biến tâm của chúng ta thành mê muội, mà mê muội là cội nguồn của tham, sân, si.
Chẳng hạn như hôm nay trên đường đi làm về, chúng ta thấy (nhãn căn) một cô gái đẹp lái chiếc xe màu xanh (sắc trần) lạn qua lạn lại trước mắt của chúng ta. Khi về nhà ngồi yên tịnh thì hình ảnh cô gái hiện lên (nhãn thức) làm cho tâm tư chúng ta xao động. Khi mình nghĩ về những hình ảnh củ nầy thì tư tưởng sẽ phát sinh ra si mê. Nếu sự si mê này không được thỏa mãn thì nó sẽ biến thành căm hận và đây chính là lòng sân đã nổi dậy trong tâm của chúng ta rồi.
Thật vậy, chính tham, sân, si là đại lộ kinh hoàng để đưa chúng ta vào đường ác nghiệp và làm cho chúng ta mãi mãi trầm luân trong lục đạo luân hồi.
Trong kinh Lăng Nghiêm, Phật dạy rằng:
“Khi thấy,nghe, hay, biết, mà khởi vọng niệm phân biệt, đó là gốc vô minh. Còn khi thấy, nghe, hay, biết mà không khởi vọng niệm phân biệt, đó là Niết bàn”(*).
Trong các phiền não, chỉ có sân hận là thô bạo nhất, bởi thế cổ nhân có nói:”Nhứt niệm sân tâm khởi, bá vạn chướng môn khai”, tạm dịch là khi phát sinh một niềm giận hờn tức đã mở muôn ngàn cửa chướng ngại. Tệ hại hơn nữa, một khi tham, sân, si phát khởi, thì dâm, sát, đạo, vọng sẽ phát sinh. Đây là bốn đại ác nghiệp mà người tu Phật phải tránh xa.
Phật dạy rằng:
“A Nan, ông tu thiền, nếu không đoạn lòng dâm, thì cũng như người nấu cát muốn cho thành cơm, dầu trãi bao nhiêu kiếp cũng không thành được”.
Do đó giới đầu tiên của thiền sinh, là "dâm giới", không phải "tà dâm" , mà là "dâm", cũng không phải là giới các cư sĩ là "tà dâm", hay giới thứ nhất của Phật tử là sát giới.
Vậy ai tu thiền mà còn gần gũi với vợ (chánh dâm), em út (tà dâm), thì cũng chẳng khi nào tu tới nơi được hết.
.....
Xin quý vị lưu ý dùm cái dấu (*) ở sau chữ Niết Bàn , theo tôi thì Phật nói cái sát na mà ta cắt đứt tham sân si chính là Niết Bàn
Trở lại cái Tham trong tu tập mà có cái Si dính vào, có người nói:
- Tôi phải làm việc cho lẹ lẹ, để còn có thời gian nhiều mà hành thiền, vì thiền làm cho tâm tôi tự tại và an lạc lắm Quý vị ơi!
Ta hãy phân tích xem có Tham ở trong câu nầy hay không, và cái Si ở đâu?
Rõ ràng là tham cái chuyện ngồi thiền để được cái tâm an lạc như vậy là có Tham, đã vậy mà còn không biết mục đích của thiền, thiền đâu phải là làm cho thân tâm an lạc, mục đích của nó là thanh tịnh sinh tuệ trí, tuệ trí sinh chánh giác, thiền để cho trí sáng suốt để phân định chân giả, để tìm đường đúng mà đi, để chân ngộ, đâu phải mục đích là an lạc thân tâm, như vậy ở đây là có sở hữu Si phần rồi.(vô minh)
Với câu nói trên có đầy đủ cái Căn Tham và sở hữu cái Nhân Si, thì làm sao mà minh tâm kiến tánh được đây.
Lại nữa, có nhiều người tu là mong có thần thông để chứng tỏ, họ không hề biết phát bồ đề tâm mới là mục tiêu chính của tu giải thoát, ai làm cho họ để tạo nên cái kết quả của thần thông? tầng A tu la , các thiên binh, thiên tướng thực hiện, như vậy vay trả ở đâu? quý vị nhờ người ta thể hiện thần thông, thì nợ họ rồi có phải không?
Các chùa chiền hiện nay cũng chỉ hồi hướng lên các tầng thiên và A tu la, để mong cầu cho chùa mình đông Phật tử, họ có hồi hướng và chuyển phát bồ đề tâm về cỏi ngạ quỷ, cỏi địa ngục để cứu rỗi ai đâu! Do đó chùa giàu thì càng giàu thêm vì tương tác với cỏi thiên, chùa nghèo thì càng nghèo vì tương tác với cỏi địa ngục là vậy đó.
Một câu chú hướng về A tu la, A tu la được hưởng phước họ sẽ giúp mình cái mình cầu ngay đó là "Tùy cầu tức đắc".
Một câu chú hướng về địa ngục, gông xiềng phá nát, ma quỹ bị đọa địa ngục thấy được thần lực, và chấp nhận niệm Phật theo để tu, họ sẽ được giải phóng là như thế đó!
Giữa hai mắt là chi?
Ánh sáng bắn sáng lòa
Từng luồng nhỏ rồi to
Phát đến tận hư không
Tan biến ở vô cùng
Rồi lại phát sáng tiếp
Ta định tại một nơi
tâm ta nhìn ánh sáng
Thấy ánh sáng bắn đi
Tâm ta theo ánh sáng
Chẳng thấy gì biến động
Dù là tới hư không
Xem như đang sở vị
Chờ phản chiếu thấy tâm
Như gương đang phủ bụi
Cầu kiến tất lau chùi
Bụi trần không thể dính
Bồ đề há mộc ư?
Gương sáng bất dụng đài
Từ vô thỷ tới nay
Chưa vật nào dính bụi
Tự tánh vốn tự có
tánh thanh tịnh bên trong
Cũng chẳng sanh chẳng diệt
Tự nó tự no đủ
Tư tánh chẳng rung động
Vạn pháp từ đó sinh
Chẳng nhận thấy bản tâm
Học pháp nhiều vô bổ
Tự nhìn thấy chơn tâm
Thị thiên nhân Phật đà
Đích thị ! thật đích thị!
Chẳng phải Phật là ai?
Chính vì vậy nên Phật mới dạy ta nên thiền Quán ,niệm thân; rồi gần đây còn có vị sư cô Hải Triều Âm đã chế ra quán "ba cái ai có dè" để thấy cái thức của mình chỉ là huyễn ảo.
Vân Quang
04-02-2010, 00:49
BA CÁI AI CÓ DÈ
Tôn Sư Hải Triều Âm chuyên tu đã phát minh ra phương pháp quán « BA CÁI AI CÓ DÈ », một cách rất khoa học, để nhận rõ được :
6 trần là ảo ảnh, 6 thức là mê lầm
Giải thích phương pháp quán:
* SẮC TRẦN LÀ TRÒ CHƠI CỦA SÁNG TỐI :
1). Ta cứ tưởng ta thấy cái bình bông ở bên ngoài. Ai có dè ta đang thấy ở trong mắt ta. (Lầm về vị trí)
2). Ta cứ tưởng thấy được bình bông thật. Ai có dè ta chỉ thấy bóng ảnh ở trong mắt ta.
Do ánh sáng mặt trời chiếu đến bình bông rồi phản chiếu qua con ngươi vào thần kinh. Thị giác thần kinh y hai trần sáng và tối hiển lên hình ảnh bình bông. (Lầm về bản chất)
3). Ta cứ tưởng bóng hình này phản ảnh trung thành cái bình bông. Ai có dè nó chỉ tuỳ duyên tuần nghiệp mà giả hiện.
Duyên : Ánh sáng. Ánh sáng khác đi thì hình ảnh cũng khác.
Tuần nghiệp: Mắt cua, mắt cá, mắt người ... mỗi loài con mắt khác nhau hiển lên những hình ảnh khác nhau. Vậy hình ảnh nào đúng với sự thật? (Lầm về hình tướng)
* THANH TRẦN LÀ TRÒ CHƠI CỦA ĐỘNG TĨNH :
1). Ta cứ tưởng ta nghe tiếng la từ miệng của cô A(ngoài). Ai có dè ta đang nghe trong tai ta.
2). Ta cứ tưởng nghe tiếng la từ miệng cô A đi vào tai là thật. Ai có dè ta chỉ lãnh nhận sự rung động của không khí.
Khi cô A động môi (nói) làm rung động không khí (tạo nên làn sóng âm ba), làn sóng âm ba này di chuyển đến tai, thần kinh thính giác y vào làn sóng âm ba mà biến ra âm thanh, chứ âm thanh là cái không hề có.
3). Ta cứ tưởng ta nghe rất đúng. Ai có dè nó chỉ tuỳ duyên tuần nghiệp mà giả hiện.
Duyên: Rung động không khí khác nhau thì các thứ tiếng cũng khác.
Tuần nghiệp: Tai người, tai chó, tai mèo, tai gà...mỗi loài nghe ra một thứ tiếng khác nhau tuy cùng một làn sóng âm ba.
* HƯƠNG TRẦN :
1). Ta cứ tưởng ta ngửi mùi thơm ở nước hoa (ngoài) . Ai có dè ta đang ngửi ở trong mũi ta.
2). Ta cứ tưởng ngửi được mùi thơm thật. Ai có dè mùi thơm chỉ là cảm giác do thần kinh khứu giác biến ra.
Khi mở lọ nước hoa, các phân tử mùi theo gió bay vào mũi, thần kinh khứu giác y vào phân tử này mà biến ra mùi thơm, chứ mùi thơm không hề có.
3). Ta cứ tưởng mùi thơm này phản ảnh trung thành với vật bên ngoài. Ai có dè nó chỉ tuỳ duyên tuần nghiệp mà giả hiện để phân biệt cảnh ngoài.
Duyên : Phân tử khác nhau thì mùi cũng khác nhau.
Tuần nghiệp : Mũi người, mũi chó, mũi mèo...mỗi loài ngửi ra một mùi tuy cùng một lọ nước hoa. Vậy mùi nào đúng sự thật?
* VỊ TRẦN :
1). Ta cứ tưởng ta nếm vị ngọt ở đường. Ai có dè ta đang nếm ở ngay lưỡi ta.
2). Ta cứ tưởng nếm được vị ngọt thật. Ai có dè vị ngọt chỉ là cảm giác do thần kinh vị giác biến ra.
Như cục đường để trên tay thì ta đâu có biết được vị ngọt. Khi đặt vào lưỡi, thần kinh vị giác y theo các phân tử của cục đường mà biến ra vị ngọt.
3). Ta cứ tưởng vị ngọt này phản ảnh trung thành sự thật. Ai có dè nó chỉ tuỳ duyên tuần nghiệp mà giả hiện để phân biệt cảnh ngoài.
Duyên : Chất của các vật khác nhau thì vị cũng khác nhau. Thí dụ : cục đường, trái chanh, viên thuốc...
Tuần nghiệp : Lưỡi người, lưỡi trâu, lưỡi bò .... do cấu tạo lưỡi của mỗi loài khác nhau nên vị hiển lên khác nhau. Vậy vị nào đúng sự thật?
* XÚC TRẦN :
1). Ta cứ tưởng ta biết cái mát ở gió. Ai có dè ta đang biết ở ngay làn da của ta.
2). Ta cứ tưởng ta biết được cái mát thật. Ai có dè cái mát chỉ là cảm giác do thần kinh xúc giác biến ra.
Khi gió chạm vào làn da, thần kinh xúc giác y vào sự tiếp xúc đó mà biến ra cảm giác mát. Đây chỉ là cảm giác thôi, chứ không hề có thật.
3). Ta cứ tưởng cảm giác này phản ảnh trung thành sự thật. Ai có dè nó chỉ tuỳ duyên tuần nghiệp mà giả hiện để phân biệt cảnh ngoài.
Duyên : Các vật xúc chạm khác nhau thì cảm giác cũng khác nhau.
Tuần nghiệp : Da người, da trâu, da cóc..... mỗi loài có cảm giác khác nhau tuy cùng tiếp xúc với một làn gió. Vậy cảm giác nào đúng sự thật?
Thọ lãnh năm trần sắc thanh hương vị xúc, cho là cảnh thật tức là Kiến Hoặc của phàm phu. Giác tỉnh được chỗ này là chứng quả Thánh Tu Đà Hoàn.
Ý thức bên trong theo Mạt Na chấp ngã, bên ngoài y Kiến Hoặc mà phán xét phân biệt gọi là Tư Hoặc. Hàng phục được Tư Hoặc chứng A La Hán
Vân Quang
04-02-2010, 07:55
Tuy vậy nếu chỉ TU TÂM không thì làm sao diệt giản tội nghiệp tiền căn tiền kiếp của mình, chính vì vậy mới cần cầu tha lực của chư Phật để tịnh hóa nghiệp bằng cách lấy công đức của mình đổi lấy sự giảm trừ nghiệp chướng, người tu cần phải có pháp tu chính đáng và đúng thì mới khả dĩ làm được việc nầy.
Muốn thoát khỏi sanh tử mà không biết phát tâm bồ đề thành tâm vô lượng thì muôn kiếp không ra khỏi luân hồi
Tu tập tới một lúc sẽ rất cận kề với thế giới vô hình, với các tầng thiên, các tầng địa phủ, phải biết tập Tánh không để an nhiên bất cầu, bất chấp thì mới không bị lạc vào ma đạo, do đó cũng cần phải tham thiền để đạt chánh giác, chánh trí.
Tu Phật không cần phải học kinh thật nhiều biết nhiều pháp ,vì Phật không nói cái gì ngoài cái Tâm của ta đâu!, mà thật sự chỉ cần vài pháp chính là đủ.
- Sám pháp
- Tu tập Tâm bồ đề, Phát bồ đề tâm ra các cung cỏi
- Tu tâm Từ & Rải tâm từ
- Tu tập tánh không
- Hồi hướng cho họ hàng thân tộc, cho chúng sanh
- Quán tâm, tham thiền
- Tập thay thức bằng tánh để trục tham sân si ra khỏi tiềm thức, ra khỏi sự suy tưởng
- Làm phước giúp chúng sanh đang khổ não dưới mọi hình thức, nên giúp họ khi thật sự cần và truyền pháp theo cách mưa dầm thấm lâu...
- ....
Khi đã có TÂM tương đối bình đẳng-thanh tịnh-chơn thành- chánh giác- từ bi , lúc đó mới đọc lại thật kỹ 3 tạng kinh, các vị sẽ hiểu ngay cái nào là lời chính cái nào là phụ, trong mỗi cuốn kinh rất nhiều trang kinh , hàng trăm trang ,nhưng tụ tập lại không tới vài hàng chính yếu mà thôi .
Dụng tâm để học pháp
Dụng trí để truy chính niệm
Dụng huệ đễ liễu nghĩa
Dụng bi mẫn để làm pháp hành
Có như vậy thì ngày thấy được chơn tâm hiển lộ Phật tánh sẽ rất gần
…………
Tham sân si không thể diệt được, vì nó đã thể hiện mới gọi là tham sân si, ta chỉ có thể ngăn chặn nó khi nó bắt đầu phát khởi mà thôi, trong cái sát na mà ta biết có sự bắt đầu khởi tâm xấu,cái sát na đó là sát na mà ta không si (ta không bị vô minh che lấp), chính nó giúp ta thấy tâm nào phát khởi, sau đó và ta dùng pháp chỉ quán, lập tức tam độc nầy sẽ không phát sinh được.Tâm si có thể đi một mình, hoặc cặp đôi với Tham và sân.Và cũng có thể nói rằng nếu diệt được tâm si thì diệt được khá nhiều trường hợp Tham và Sân có nhân là Si vậy.
Thật sự có rất nhiều Thức nhưng tương ứng với lục trần chỉ có lục thức mà thôi.
Thức để biết ta (bản ngã) hay ngoài ta cũng nằm trong Thức Ý.
Ngoài ra nếu hành giả tu đạt được các thần thông như thiên lý nhĩ, thiên lý nhản, tận lậu thông , tha tâm thông, tương ứng với những căn thần thông nầy sẽ có thêm một thức.
Có người nói Vi diệu pháp là phẩm đầu tiên của Đức Phật thuyết và sau đó các minh sư khác thêm vào thành TẠNG LUẬN, nhưng dù sao thì tạng luận là sự đúc kết tinh túy của trí tuệ minh triết, nên dù không phải tất cả TẠNG nầy hoàn toàn do chính Đức Phật nói ra, thì TẠNG nầy cũng là một tạng của sự minh triết và chánh đẳng chánh giác của chư Phật vậy.
Lại nữa nếu chỉ dùng riêng rẽ vi diệu pháp để phân tích tâm, mà không biết dùng phối hợp với các pháp hành khác như thiền quán và chỉ quán, thì hành giả cũng khó lòng thoát khỏi tham sân si, cứ tưởng là người tu cần phải diệt tham sân si, khi nó đã thành tam độc, cũng như người đã bị rắn cắn thì chỉ chờ chết nếu không có thuốc chữa, trái lại ta phải dùng pháp thiền để cắt tư tưởng diễn tiến của các tâm khi nó đi kèm theo sở hữu trợ tha và tâm bất thiện, đó chính là ứng dụng của thiền, mục đích chính của thiền không phải là ngồi một chổ để đạt tới đại định và chứng nầy chứng nọ, mà mục đích chính yếu là mọi lúc mọi nơi, mọi tư thế đều có thể định tâm để phân biện và quyết định YES/NO ngay cái sát na mà ta ngộ được các tâm đang bị các sở hữu trợ tha hay ngoại cảnh chi phối, để tâm không bị lôi kéo vào, không bị vướng vào cảnh, và dần dần thoát khỏi phiền não.Như vậy , pháp thiền phối hợp với vi diệu pháp, giống như người nuôi rắn biết cách lấy nọc con rắn, con rắn sẽ không còn nọc độc vậy.
Đó mới chính là mặt tích cực của Vi diệu pháp, vi diệu pháp không phải là một môn lý thuyết suông về tâm lý học, mà nó phải được kết hợp với các pháp hành khác để trở thành một pháp tu, sao cho vọng tâm tự rời bỏ chơn tâm, thì tự tánh sẽ hiễn lộ, đây mới chính là điều mà chư Phật mong muốn chúng sinh muốn thoát khổ phải tu tập.
Vì thế ta không hề nghe các kinh nói về Đức Phật, sau khi ngài ngồi thiền ở dưới cội bồ đề 49 ngày đêm; Ngài đã liễu thông, liễu ngộ tất cả các sắc pháp, Ngài có còn ngồi thiền nữa hay không?
Khi thân tâm đã luôn luôn thanh tịnh, thì thiền hay không thiền cũng thế mà thôi! Ngồi trong cảnh loạn động mà tâm không vướng, không bận thì đó là chân định!và cũng chính là "Ứng vô sở trụ " rồi!
Không phải cứ thấy ngoại cảnh loạn động, lại nói:
-Chờ tôi một chút để tôi ngồi thiền cái đã!
……………
Vân Quang
04-02-2010, 08:02
Ba điều không dễ
-Không dễ thiền quán phát tâm bồ đề, nếu mình không có tâm bồ đề,làm sao mà phát đây! (không có tâm bồ đề làm sao phát tâm bồ đề, ai mà phát như vậy cũng giống như đưa ngân phiếu không có tiền trong tài khoản, tội lỗi!tội lỗi! he! he!)
-Không dễ thiền quán tâm bồ đề, dù có tâm bồ đề mà không có trợ tha lực của chư Phật, cái quán nầy cũng chỉ là huyễn và không đi xa ra vô lượng, thì cũng chẳng có ích lợi gì.
-Không dễ thiền quán tâm bồ đề, nếu bản thân chưa có thân-tâm thanh tịnh, muốn có nó phải bỏ được tam độc tham sân si, rời xa ái dục nhiều hơn người bình thường, bỏ được ngã chấp, pháp chấp và tu tâm vô chấp tánh (tu tánh không) thì mới có tâm thanh tịnh, có tâm thanh tịnh thì mới có bệ phóng tâm bồ đề đi xa, đi cao, đi rộng ra các cung cỏi , các giới, và mới thật sự hữu ích, lợi lạc cho chúng sanh trong lục đạo luân hồi .
gioidinhhue
03-03-2010, 23:50
Học đạo phải lấy đối trị tập khí làm bước thứ nhất
450. Thư trả lời cư sĩ Hác Trí Hy
http://img.tamtay.vn/files/photo2/2010/2/15/21/303898/4b7957b3_73cd8b4d_16840_1238250738c3zu_resize.jpg
Nhận được thư, biết tập khí đời trước sâu dầy chẳng dễ tiêu diệt. Nhưng người học đạo phải lấy đối trị tập khí làm bước thứ nhất trong công phu tu hành. Nếu có thể trừ khử được một phần tập khí thì công phu mới thật sự đạt được một phần. Nếu không, chỉ có nhân, không có quả, khó được tương ứng với Phật! Ông đã biết [chính mình] tánh tình hung bạo, hãy nên luôn luôn nghĩ “ta chuyện gì cũng chẳng bằng người khác”; dẫu cho người ta phụ bạc ân đức của chính mình, vẫn thường nghĩ mình đã phụ bạc ân đức của người khác! Cảm thấy đối với hết thảy mọi người, ta đều đáng hổ thẹn, thiếu sót khôn cùng, thì tánh khí hung bạo sẽ không còn do đâu phát sanh được nữa! Phàm tánh khí hung bạo đều là do ngạo mạn mà dấy lên. Đã biết chính mình chỗ nào cũng có lỗi, tự nhiên tánh khí sẽ hòa hoãn, tâm bình lặng, chẳng tự ngã mạn, cao ngạo, lấn hiếp người khác!
Người học Phật hãy nên có con mắt chọn lựa pháp. Trong Phật pháp, pháp nào cũng hay, nhưng cần phải biết có tự lực và Phật lực khác nhau. Các tông Thiền, Giáo, Mật v.v… đều cần phải đoạn Hoặc chứng Chân thì mới liễu sanh tử được. Đoạn Hoặc chứng Chân há nói dễ dàng ư? Mật Tông tuy có nghĩa “hiện thân thành Phật” (thành Phật ngay trong thân hiện tại), nhưng không phải ai cũng có thể làm như thế được! Huống chi Mật Tông thường dùng thần thông để thu hút, lay động người khác. Thầy đã dùng chuyện ấy để hấp dẫn người khác, đệ tử sẽ chẳng thể không dốc chí hâm mộ thần thông. Nếu cái tâm hâm mộ, hy vọng thần thông thật thiết tha, thật tột bực, sẽ rất nguy hiểm chẳng thể nào kể xiết! Xin đừng chú trọng thần thông thì may mắn lắm thay!
Lời lẽ trong Tông môn ý nằm ngoài lời. Vì thế, phải vứt sạch hết thảy để chuyên ròng tham cứu. Nếu chỉ đọc được mấy cuốn sách Thiền, liền học đòi tung hứng những lời cơ phong, tội sẽ cực nặng. Ví như khẩu lệnh trong quân đội người ngoài doanh trại chẳng thể biết được. Nếu chỉ thuận theo mặt chữ mà giảng giải cơ phong, sẽ như kẻ ở ngoài doanh trại lầm lạc mưu toan đoán mò ý nghĩa của khẩu lệnh trong quân doanh rồi tự trà trộn vào, há chẳng nộp mạng ngay nơi ấy hay sao?
Ông hãy dựa theo Gia Ngôn Lục, Văn Sao mà tu, cũng như khuyên thê thiếp, con cái đều dựa theo sự giáo dục trong gia đình mà làm thì ông cùng với thê thiếp, con cái đều có thể dự vào bậc thánh hiền trong khi còn sống, lên cõi Cực Lạc sau khi khuất bóng. Nếu chẳng giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt lòng tà, giữ lòng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành thì nền tảng đã chẳng lập, dẫu có thể tu tập theo pháp môn Tịnh Độ như đã nói, rốt cuộc khó đạt được lợi ích thật sự, bởi lẽ tâm chẳng tương ứng với Phật nên chẳng thể đạt được lợi ích chân thật.
Nay đặt pháp danh cho ông là Đức Hậu, chỉ có đức dày thì mới chẳng thấy “người sai, ta đúng; người hèn kém, ta cao trội; ta có thể lấn hiếp người, người chẳng lấn hiếp được ta”. Như thế thì tánh hung bạo sẽ tự nhiên tiêu diệt không còn chi nữa! Lệnh thê pháp danh là Đức Ôn, Ôn là khoan dung, nhân hậu, nhu hòa. Có thể khoan dung, nhân hậu, nhu hòa thì sẽ giúp chồng, dạy con, cai quản kẻ dưới chẳng đến nỗi hà khắc, dữ dằn, bạo ngược, cũng như nuông chiều con mù quáng v.v… đủ mọi khuyết điểm! Lệnh thiếp pháp danh là Đức Cung, cẩn thận giúp đỡ, vâng thuận ý chồng và vợ cả thì gia đình êm ấm, hòa thuận, con cái bắt chước theo. Lại dùng lòng chí thành, khẩn thiết niệm Phật cầu sanh Tây Phương, trọn chẳng có một tâm niệm lười nhác, đấy gọi là Đức Cung. Ý nghĩa của Đức Cung là như thế đấy.
Nay gởi cho ông bốn gói sách để làm hướng dẫn tốt lành cho tiền đồ. Còn chuyện có ảnh chụp của Quang hay không đều chẳng quan hệ gì. Quang già rồi, đã sống uổng sáu mươi chín năm, trong năm nay sẽ diệt tung tích, ẩn dật lâu dài. Từ rày chẳng cần phải gởi thư tới nữa, sợ sau khi Quang ẩn dật rồi, ông sẽ mất công vô ích. Hiện nay muốn vãn hồi thế đạo nhân tâm mà chẳng đề xướng giáo dục trong gia đình và nhân quả báo ứng, sẽ trọn chẳng thể được! Xin hãy thường nói với mọi người về hai chuyện này. Giáo dục trong gia đình phải bắt đầu từ lúc con mới vừa hiểu biết; lại phải chú trọng dạy dỗ con gái, nếu con gái hiền thì sau này chồng và con cái cũng như con cháu của con cái sẽ đều là hiền thiện cả!
http://www.niemphat.net/Luan/aqvstambien/aqvstambien12.htm
vBulletin® v3.7.4, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.