PDA

Xem bản đầy đủ : Bệnh muốn thành bậc thông gia trước mặt đại chúng


gioidinhhue
11-03-2010, 21:33
524. Thư trả lời cư sĩ Giang Dịch Viên (thư thứ sáu)



Pháp danh của bảy người [xin quy y] được viết trong một tờ giấy khác. Thời cuộc nguy hiểm, hãy nên bảo ai nấy đều ăn chay, niệm Phật và niệm Quán Âm để cầu Phật, Bồ Tát gia bị khiến cho chiến sự sớm chấm dứt, ngõ hầu nước nhà đều được yên vui. Điều quan trọng nhất là phải biết nhân, hiểu quả. Nước ta loạn lạc đến cùng cực như thế này đều là do người đời trước cao giọng đề xướng học thuyết bài bác nhân quả, coi “hễ có làm gì để làm lành đấy là làm ác” mà ươm thành. Nếu vẫn chẳng chịu nói điều này mà muốn cho thiên hạ thái bình thì sợ rằng sẽ chẳng có ngày ấy đâu!



525. Thư trả lời cư sĩ Giang Dịch Viên (thư thứ bảy)



Đã lâu chưa gởi thư. Tháng trước lệnh điệt Thủ Tiên đã gởi Tục Thi[23] đến. Quang do bận bịu cùng cực, phải đến hơn nửa tháng mới xem trọn hết đầu đuôi. Tôi cảm thấy [Ấn Quang Văn Sao] Tục Biên so ra còn quan hệ lớn lao hơn [Ấn Quang Văn Sao] Chánh Biên, do vậy gởi đi, chắc anh ta đã gởi thư báo tin rồi. Trước tác của các hạ có ích rộng lớn, thi văn đáng để dẫn dắt kẻ không có lòng tin sanh khởi lòng tin. Xin hãy giữ gìn sức khỏe để tu trì Tịnh nghiệp.



526. Thư trả lời cư sĩ Trần Huệ Thành



Nhận được thư đầy đủ. Trong khoảng Xuân - Thu năm sau, Quang vẫn còn có nhiều chuyện phải lo liệu, chẳng có lúc nào rảnh rỗi để đi tới một chỗ nào cả! Chỉ có vào mùa Đông là muốn sang chỗ ấm áp để tránh rét. Sau đấy sẽ hành tung bất định, đến đâu cũng là nhà. Chưa đầy dăm ba tháng sau, lại qua chỗ khác để khỏi phải thù tiếp thư từ đến nỗi tự hỏng chuyện [liễu sanh tử của chính mình]. Trong bài kệ niệm Phật, có [những đoạn] văn nghĩa của phần trên và phần dưới chẳng liên quan mật thiết, hoặc âm vận chẳng phù hợp, hoặc có chỗ dùng chữ chưa khéo, tôi đều sửa đổi đôi chút. Bài kệ cuối cùng và bài kệ theo lối mỗi câu năm chữ tiếp ngay sau đó, ngữ ý quá ngạo mạn nên tôi sửa đổi. Phàm làm người chớ nên tự cao tự đại; tự đại thì người khác chẳng trọng, chớ nên không biết [điều này]!

Long Thư Tịnh Độ Văn chưa gởi vì [số sách tôi có] thì đã gởi đi hết không còn. Tác phẩm này đắt lắm, mỗi cuốn là ba cắc. Vì thế không đủ sức để in nhiều. Những vị như Vương Châu Thị v.v… đã muốn quy y thì nay đặt pháp danh cho họ. Vương Châu Thị pháp danh là Huệ Thục, Mã Viên Thị pháp danh là Huệ Ý, Viên Tam Thư pháp danh là Huệ Trinh. Xin hãy bảo bọn họ đều y theo Văn Sao, Gia Ngôn Lục để tự hành, lại còn dạy người thì sẽ chẳng thẹn là đệ tử đức Phật. Tôi bận bịu đa đoan chẳng rảnh rỗi để nói cặn kẽ được! (mồng Mười tháng Chạp, viết dưới đèn)



527. Thư trả lời cư sĩ Vương Trí Trác



Chúng sanh trong đời Mạt muốn liễu sanh tử mà chẳng cậy vào Phật lực quyết khó được như nguyện. Các pháp môn trong các tông đều nên nghiên cứu, nhưng kẻ trí thức nông cạn, ít ỏi, việc đời bận bịu làm sao lo trọn được? Muốn học các tông khác, ắt phải đã thông suốt hoàn toàn Tịnh Độ, trọn chẳng có nghi hoặc gì thì mới được. Chứ nếu chưa thông Tịnh Độ, vừa học các tông khác, hễ hơi có sở đắc sẽ gác bỏ Tịnh Độ ra ngoài. [Như vậy thì] lợi ích đạt được trong tương lai chỉ có thể làm cái nhân đắc độ trong vị lai, chứ quyết chẳng thể thoát sanh tử ngay trong đời này. Đối với Tịnh Độ ông còn chưa biết đường lối, sao lại muốn học Duy Thức? Người học Phật hiện thời quá nửa đều thuộc hạng ham cao chuộng xa, muốn thành bậc thông gia trước mặt đại chúng, chứ trọn chẳng học Phật để liễu sanh tử!

Ông muốn học Phật, ắt phải giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt lòng tà, giữ lòng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành, thật vì sanh tử, phát Bồ Đề tâm, dùng tín nguyện sâu, trì danh hiệu Phật. Người làm được như thế sẽ là đệ tử thật sự của đức Phật. Nếu hành vi trái nghịch với Phật, dẫu có tu chuyên ròng cũng khó thể cảm ứng được Phật bởi tâm hạnh đã trái nghịch với Phật. Nay đặt pháp danh cho ông là Trí Trác, nghĩa là dùng trí huệ để tự lập vững vàng thì sẽ tự được lợi ích chân thật. Để dạy dỗ trẻ nhỏ, hãy thường lấy Âm Chất Văn, Cảm Ứng Thiên làm cửa ngõ dẫn nhập đức hạnh, để cho trẻ ngay từ thơ ấu đã biết đạo làm người và lý nhân quả thì mai sau quyết định chẳng dám làm chuyện vượt lý phạm phận. Nếu không, chúng nó sẽ bị tà kiến dụ dỗ, chắc sẽ đến nỗi làm những chuyện giống như những kẻ phế hiếu, phế luân thường, vứt bỏ lòng thẹn như trong cõi đời hiện nay vì trong hiện tại có quá nhiều những thứ tà thuyết như thế ấy! Nay gởi cho ông một gói sách, xin hãy đọc kỹ. Quang bận bịu đến tột cùng, đừng gởi thư đến nữa!

http://www.niemphat.net/Luan/aqvstambien/aqvstambien14.htm

gioidinhhue
11-03-2010, 22:04
Như thế chính là hiền nhân!

517. Thư trả lời cư sĩ Ôn Quang Hy (thư thứ mười hai)



Đọc thư ông, khôn ngăn hoan hỷ! Bọn họ trong bảy ngày liền có thể vãng sanh, liền có thể thành Phật thì người trong khắp cả thế gian đều thành Phật. Chúng ta là nghiệp lực phàm phu, ắt sẽ có vô lượng vô biên Phật độ thoát, may mắn chi hơn? Nhưng chúng ta hãy giữ bổn phận ta, nhường cho bọn họ thành Phật độ thoát chúng ta, há chẳng phải là càng ổn thỏa hơn ư? Như bọn họ còn có nguy hiểm, chứ trong pháp môn này của ta trọn chẳng có nguy hiểm! Nếu nghe bọn họ nói thì thật bùi tai, khôn ngăn nhiệt tâm dấy lên. Nếu thành thì may mắn, nhưng bại sẽ thành quyến thuộc ma, thật khiến cho người ta nguội lạnh cõi lòng! Thần thông của gã X… đã hoàn toàn thất bại. Ngôn luận của gã X… và gã Y… đều đúng là vu báng, miệt thị thánh hiền. Bọn họ đã thành Phật, sao lại có hiện tượng ấy? Do vậy biết: Bọn họ hoàn toàn chẳng khác gì lũ trẻ đầu đường xó chợ, nói chi có Phật tâm cho được? Những điều khác chẳng cần phải nhắc đến nữa!



518. Thư trả lời cư sĩ Ôn Kê Đức Chánh



Chồng bà là Đức Trung Ôn Quang Hy nói: “Bà phát tâm cúng dường tôi”, tôi sẽ dùng món tiền ấy để in sách lợi người. Bà may mắn được gả vào gia đình giàu có, trọn chẳng biết đến những nỗi khổ trong đời người, lại không có ai khuyên dạy, khai thị nên sống uổng một đời. Như vậy thì sau này làm sao thoát khỏi luân hồi lục đạo cho được? May chồng bà là Quang Hy hơi biết Phật pháp. Tuy bà chưa thể tin nhận ngay, nhưng đã dần dần được tiêm nhiễm, lâu dần sẽ có ngày thiện căn phát hiện. Bà nằm mộng thấy cảnh tượng kỳ quái liền sanh lòng sợ hãi, cầu xin tôi nói cách cứu vớt, che chở. Bà chẳng biết: So với tướng trạng luân hồi trong tam đồ lục đạo, tướng khổ ấy nhỏ nhoi chẳng thể nào thí dụ được! Sự khổ trong luân hồi giống như đại địa, còn nỗi khổ [bà cảm nhận trong giấc mộng] ấy giống như vi trần. Chúng sanh tâm lượng hẹp hòi nên chỉ thấy được chuyện nhỏ nhoi, chẳng thể thấy được chuyện lớn lao. Bà sanh lòng sợ hãi nơi sự khổ nhỏ nhoi, cầu tôi nói pháp cứu khổ, sao lại trọn chẳng để ý tới nỗi khổ sanh tử lớn lao vậy?

Nay tôi nói cho bà một pháp để cứu chung đại khổ lẫn tiểu khổ. Nếu bà có thể y theo lời tôi nói, chắc chắn trong hiện tại bà sẽ không gặp nỗi kinh sợ nhỏ nhoi ấy, tương lai nhất định thường an lạc. Pháp ấy ra sao? Chính là chí thành khẩn thiết niệm Phật và niệm danh hiệu Quán Âm Bồ Tát. Pháp tắc niệm như thế nào nên hỏi Quang Hy. Chớ nên chỉ biết an vui, nhàn tản, bỏ uổng thời gian. Lại còn nghiêm túc trọn hết bổn phận của chính mình, nghĩa là “hiếu thuận với cha mẹ ruột, với bố mẹ chồng, hòa thuận với anh em trai, chị em gái, chị em dâu, vợ chồng kính trọng nhau như khách, khuyên nhau làm lành, nhắc nhở nhau sửa lỗi, khéo dạy dỗ con cái, đối đãi khoan dung với kẻ dưới”. Làm được như thế chính là hiền nhân! Lại còn kiêng giết, bảo vệ sanh mạng, niệm danh hiệu Phật, cầu sanh Tây Phương; dẫu cho nỗi sợ hãi lớn lao là sanh tử cũng sẽ hoàn toàn tiêu diệt, huống hồ những nỗi sợ hãi nhỏ nhặt trong giấc ngủ mà chẳng lập tức ngưng mất ư?

Tôi là phàm phu, nhưng lời này của tôi có thể khiến cho hết thảy mọi người siêu phàm nhập thánh. Bà hãy nên chí tâm tin nhận sẽ có lợi ích lớn lao. Sách Khuê Phạm đã hết, đợi khi nào có người sang Thượng Hải sẽ bảo họ thỉnh Nữ Tử Nhị Thập Tứ Hiếu (hai mươi bốn tấm gương hiếu nữ), Nữ Tứ Thư[14], Liệt Nữ Truyện[15] v.v… gởi tới để tặng cho những phụ nữ thông hiểu văn lý, biết luân thường. Lại còn có Đạt Sanh Thiên cũng sẽ gởi tới một hai gói. Đối với những chuyện trước khi sanh, trong khi sanh và sau khi sanh, sách này đều nói tường tận. Trong lời Tựa của Quang lại còn giảng rõ: “Trong khi sanh nở, niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát nhất định sẽ không bị sản nạn mà mẹ lẫn con đều được vẹn toàn, gieo đại thiện căn”. Bà hãy nên thường đem chuyện niệm Phật, niệm Quán Thế Âm để giáo hóa hàng phụ nữ quen biết ngõ hầu ai nấy xoay vần khuyên chỉ lẫn nhau thì sẽ có lợi ích lớn lao cho bà lẫn những người quen biết. Bà chớ nên gìn giữ mãi thói kiêu ngạo, lười nhác, thích làm chuyện vô ích như cờ bạc, la cà ngoạn cảnh, sẽ chẳng thể nào không đạt được lợi ích lớn lao. Đối với bệnh của Quân Tốn và hai cô con gái Quân Tĩnh, Cẩm Du cũng có thể niệm Quán Thế Âm Bồ Tát để trị. Quán Thế Âm Bồ Tát không ai cầu chẳng được ứng nghiệm, chỉ sợ con người chẳng chí tâm mà thôi! Xin hai vợ chồng bà khéo thấu hiểu lòng tôi thì may mắn lắm thay!



519. Thư trả lời cư sĩ Giang Dịch Viên (thư thứ nhất)



Nhận được thư, biết các hạ thường viết nhiều bài đề xướng sự lợi ích Tịnh Độ, vui mừng, an ủi tột bậc. Sẽ gởi cho Thượng Hải Tịnh Nghiệp Xã để họ đăng tải trong nguyệt san, ngõ hầu độc giả đều cùng sanh lòng tin. Ông nói khí lực, thể lực hết sức suy yếu, tợ hồ có lẽ nên chuyển lòng đau buồn thương xót thành niệm Phật cho mẹ để người mất lẫn kẻ còn đều được lợi ích lớn lao, cần gì cứ phải khăng khăng giữ lòng buồn đau, tiều tụy mới là hiếu!

Ngày Hai Mươi Lăm tháng Ba, Quang đến chùa Thái Bình ở Thượng Hải. Vào ngày Hai Mươi Sáu thì khoản tiền hai trăm đồng từ Nam Thông chuyển tới. Thoạt đầu do bận bịu đến nỗi quên báo cho Thư Cục, sau đấy bảo họ gởi chừng đó sách, chẳng biết họ đã gởi hay chưa? Nay lại từ Phổ Đà gởi tới cho ông một gói nữa, xin hãy xem qua. Đợi khi sách được in ra vào lần thứ hai, lần thứ ba, sẽ gởi thêm nữa. Một trăm đồng sẽ thỉnh được ba trăm bộ; dẫu các hạ không gởi tiền, Quang cũng cần phải gởi ngần ấy bộ để mong ai nấy đều biết đến ân đức từ bi của Đại Sĩ. Hiện thời đã có người đảm nhiệm in đến bảy vạn bộ. Do năm ngoái có chiến tranh, chưa đưa giấy ra khỏi núi được; năm nay lại bị hạn hán đến nỗi lần khân tới tháng Tư.

Phật Quang Xã được các hạ đề xướng nào có thiếu sót gì mà cần Quang phải góp lời. Người tu Tịnh nghiệp chớ nên dính vào chút điểm xảo thuật nào. Nếu vẫn thích những chuyện kỳ lạ, không ưa chuyện bình thường, ắt sẽ biến khéo thành vụng. Do điều này, người thông Tông thông Giáo thường chẳng bằng ngu phu ngu phụ thật thà niệm Phật lại được ích lợi thật sự. Nếu chịu giữ nề nếp bình thường, đạm bạc, chất phác, thật thà thì sanh về Cực Lạc sẽ là điều có thể dự đoán chắc chắn được! Nếu không, chẳng sanh về Cực Lạc cũng là điều có thể đoán chắc được! Xin hãy thiết thực khuyên xã hữu tin tưởng như thế, hành như thế thì lợi ích lớn lao thay!

http://www.niemphat.net/Luan/aqvstambien/aqvstambien14.htm

gioidinhhue
11-03-2010, 22:26
Đừng dùng [lời lẽ] “đem phàm lạm thánh” để tâng bốc

515. Thư trả lời cư sĩ Ôn Quang Hy (thư thứ mười)



Sao ông không biết sự vụ đến mức như thế. Quang là hạng người nào mà có thể sánh bàn với Liên Trì đại sư? Ông nói lời ấy nhằm tâng bốc Quang, chẳng biết là đã hủy báng Quang vậy! Từ nay về sau đừng dùng [lời lẽ] “đem phàm lạm thánh” để tâng bốc tôi như thế nữa! Tôi thấy lời ấy như bị đánh, như bị nhạo báng, hổ thẹn khôn ngằn!

1) “Tâm thanh, trăng hiện”, há nên bàn luận theo kiểu chấp chết cứng? Cần biết rằng: Phàm phu có sự trong lặng hiển hiện của phàm phu, Thanh Văn có sự trong lặng hiển hiện của Thanh Văn, Bồ Tát có sự trong lặng hiển hiện của Bồ Tát; chỉ có thành Phật mới có thể đạt tới sự trong lặng hiển hiện rốt ráo. Nếu nói đúng như pháp thì trong hết thảy những địa vị khác đều chẳng phải là trong lặng hiển hiện, chỉ có Phật mới là trong lặng hiển hiện. [Do vậy, ông cho rằng] lời đại sư Liên Trì trở thành sai ngoa, chẳng biết chính mình hoàn toàn chưa mở được chánh nhãn nên mới có thứ lập luận mù quáng ấy! Sao lại khổ sở như thế?

Sự trong lặng hiển hiện của phàm phu là sự trong lặng hiển hiện do quán hạnh. Thanh Văn đoạn Kiến Hoặc, Tư Hoặc chính là sự trong lặng hiển hiện thuộc về địa vị Tương Tự. Bồ Tát thuộc địa vị Nội Phàm, [tức là những địa vị] từ Sơ Tín đến Thất Tín cũng giống như Thanh Văn. Bát, Cửu, Thập Tín phá Trần Sa, chứng Pháp Không, há nên nói là “phá Pháp Không”? Sơ Trụ liền phá Vô Minh, chứng Pháp Thân. Đây chính là địa vị đầu tiên của bậc Phần Chứng. Cho đến Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Đẳng Giác (Đẳng Giác là địa vị cuối cùng thuộc Phần Chứng. Trong các địa vị thuộc Phần Chứng, phàm những gì Phật chứng được, họ đều chứng, nhưng chưa chứng được viên mãn rốt ráo). Bốn mươi mốt địa vị chính là sự trong lặng hiển hiện nơi Phần Chứng; chỉ có Phật mới là trong lặng hiển hiện rốt ráo.

Hơn nữa, ngay trong một địa vị còn có vô lượng vô biên [tầng cấp chứng ngộ] sâu - cạn bất đồng. Ví như người nước ngoài đến Trung Quốc, vừa đến biên giới Trung Quốc liền có thể nói là “đã đến Trung Quốc”, nhưng từ đấy vẫn còn có đường dài mấy ngàn dặm mới tới được kinh đô Trung Quốc. Ý ông cho rằng: “Đã đến rồi thì không cần bàn đến đường đi nữa; đã chưa đắc đạo mà nói sự hiển hiện trong lặng thì thành sai ngoa, trái nghịch với sự tướng cậy vào Phật từ lực đới nghiệp vãng sanh”. Lỗi ấy là do ông thích xưng là bậc thông gia, chứ không phải vì Liên Trì đại sư nói lời chẳng thích đáng! Từ nay về sau, hãy nên sốt sắng niệm Phật, bớt nói lời phô trương! Nếu vẫn [dùng lời lẽ] đem phàm lạm thánh tâng bốc Quang như thế tức là khiến cho thiên hạ hậu thế thóa mạ Quang! Sao lại khổ sở làm những chuyện tổn hại vô ích như thế?

2) Lời của Liên Trì đại sư là lời viên dung vô ngại. Nếu căn cơ sâu, y theo đó tu trì sẽ có đại lợi ích. Nếu căn cơ nông cạn, hoặc mắc khuyết điểm chấp Lý phế Sự, chỉ nên chiếu theo sự tướng chí thành trì danh thì mới là ổn thỏa. Thuyết “Lý nhất tâm” do không làm được, có nói cũng vô ích; chỉ không đề xướng là được rồi, [chứ thốt ra] hai chữ “bài xích” chẳng phải là ăn nói vớ vẩn hay sao? “Tâm này làm Phật, tâm này là Phật”. Nếu chẳng làm Phật mà nói “tâm này là Phật” thì có thể bài xích được. Nếu niệm Phật mà nói “tâm này là Phật” thì đấy chính là căn bản để khuyên người, há nên lẫn lộn thốt lời bài xích! Nếu bài xích sẽ trở thành tà kiến, tội cực nặng! Phàm quán tưởng hay trì danh đều gọi là “làm Phật”.

3) Lời ấy của Liên Trì đại sư dành cho kẻ chuyên chí quán tưởng. Ông đem cái tâm suy tưởng tán loạn của ông để so đo, nên trở thành lời lẽ chẳng biết thân phận! Phàm phu tâm như khỉ - vượn, chẳng thể định được trong khoảnh khắc nào, há có thể tưởng tướng nào sẽ thấy được tướng ấy ư? Nếu thâm tâm quán tưởng, quán cái này lại thấy cái kia, tức là không tương ứng. Vì thế gọi là tà, là chẳng tương ứng! Ông lại cho là ma thì là đã sai quá rồi! Nhưng nếu chẳng tương ứng mà chẳng nhận biết thì lâu ngày chắc sẽ có ma sự!

4) Ông thật sự là một gã hồ đồ chẳng biết trời cao đất dầy nên mới dám dẫn chuyện Thiện Đạo đại sư xả thân để làm tiền lệ. Ngài Thiện Đạo niệm Phật miệng tỏa quang minh, chính là bậc thánh nhân đại thần thông. Lâm chung Ngài trèo lên cây liễu nói kệ, nhảy xuống bèn đứng qua đời, ông ngỡ là Ngài từ trên cây té xuống chết! Ông đúng là tội lỗi, mắt quáng mà chuyên thích nói lời lẽ mù quáng. Ông muốn xả thân sẽ thành con quỷ chết oan, mong sanh Tây Phương thì có mộng cũng chẳng mơ được đâu! Trong những truyện ký về Thiện Đạo đại sư, đôi khi có những chỗ lời văn chưa thể hiện rõ ý nghĩa mầu nhiệm này cho nên ông tưởng là Ngài xả thân mà chết!

Ông từng thấy chuyện của Châu Tiến Sĩ trong Kim Cang Kinh Cảm Ứng[11] hay chưa? [Ông Châu] nghe bốn câu kệ của kinh Kim Cang sanh lòng hoan hỷ; chẳng lâu sau mộng thấy theo năm kẻ [tội nhân] nọ ngồi xe đến một nhà. Năm người đều uống canh, ông ta muốn uống, nhưng người dẫn ông ta đi (tức gã quỷ sứ áp giải tội nhân) không cho uống, liền tỉnh giấc. Trong tâm hết sức lạ lùng, tìm đến nhà ấy, họ nói có sáu con chó vừa mới sanh, một con chết ngay. Do vậy, ông ta chuyên trì kinh Kim Cang, đến năm tám mươi chín tuổi trèo lên cây nói kệ, rồi buông mình xuống, đứng yên qua đời. Người ấy trong đời này [đáng lẽ] biến thành chó, nhưng do mấy chục năm trì kinh Kim Cang nên vẫn có thể từ trên cao nhảy xuống qua đời như thế; huống hồ Thiện Đạo đại sư là bậc đại thánh nhân thần thông mầu nhiệm khôn lường ư? Ông tưởng là xả thân, đáng thương lắm thay! Điều này cũng là cùng một tri kiến với kẻ ngu, thấy Phật nhập Niết Bàn bèn bảo là “Phật chết”.

5) Ông vọng tưởng tột cùng, so với sóng cuộn trong biển cả còn sôi sục hơn rất nhiều. Chỉ nên tự lượng thân phận của chính mình để hành, nào sợ kẻ khác chê cười! Nếu ông trở về nhà ở Thành Đô, nên đem tâm tướng ấy khuyên cha ông là Hoàn Quân Ông hãy thong dong đôi chút để đôi bên đều được thành tựu. Nếu ông tinh thành niệm Phật thì quyến thuộc cũng sẽ có dịp chuyển biến. Ông nội ông là Hưng Toàn Ông còn để lại gia nghiệp, mà ông vẫn nói “khổ chẳng thể chịu đựng được!” Nếu ông vốn là gã nghèo cùng, chắc sẽ chẳng muốn làm người nữa ư? Nay ông cực lực muốn chống đỡ thể diện xuông, chính mình lại hoàn toàn khởi lên những vọng tưởng chẳng dựa theo đạo lý ấy. Vọng tưởng ấy có thể làm rạng mày nở mặt tổ tông, trọn hết phận con, báo đáp bà nội kế là Sài lão thái phu nhân, trọn hết trách nhiệm của một tín đồ Phật giáo hay không? Đã biết cảm kích ơn người dẫn dắt nhập đạo, sao chính mình lại làm những chuyện phụ bạc ơn của khắp mọi người thân lẫn ân Phật? Từ nay về sau, ông chỉ nên đọc Văn Sao, đừng gởi thư tới nữa. Tôi quả thật chẳng có tinh thần để thù tiếp những lời lẽ ma mị của ông!



516. Thư trả lời cư sĩ Ôn Quang Hy (thư thứ mười một)



Nhận được thư và khoản tiền gởi đến. Đọc thư ông, biết ông cảnh ngộ khốn cùng, biết ông chẳng giữ yên bổn phận. Ông tiền bạc không dư dả, há nên vẫn ương ngạnh giữ thể diện đối với Quang? Quân tử hành xử theo đúng địa vị, hễ nghèo cùng thì chẳng lấy tiền tài làm lễ; huống hồ đối với vị thầy chính mình đã coi như cha như mẹ ư? Do vậy biết ông một mực luôn mang thứ tình kiến này: “Do không chống giữ được thể diện, bèn muốn tìm cái chết!” Ông chẳng biết đã mang thứ tâm hạnh ấy, hễ chết rồi thì so với việc bị mất thể diện sẽ còn khó chịu đựng hơn vô lượng vô biên hằng hà sa lần!

Trước đây, ông từng nói Trùng Khánh Phật Học Xã khá chuộng Mật Tông, ông muốn lập một cơ sở khác chuyên tu Tịnh Độ. Đấy cũng là lời nói chẳng biết giữ yên bổn phận! Phàm tạo dựng cơ sở, điều thứ nhất là phải được mọi người tin phục. Điều thứ hai là phải có tiền để ứng ra. Tuy quyên mộ mọi người nhưng chính mình vẫn phải bỏ ra trước. Trong hai điều này, ông chẳng có được một điều nào! Há nên khởi lên những thứ suy tính vượt phận ấy ư? Trong nhà đã có cơm ăn, chẳng cần phải mong phát tài nứt đố đổ vách nữa! Đối với hai giới quân sự và chánh khách hiện thời, nếu ông chẳng quan tâm đến đầu mặt[12] trong đời sau thì cứ gia nhập cũng chẳng sao. Nếu vẫn lo đến đầu mặt đời sau thì đừng gia nhập sẽ là kế sách tối thượng thượng. Hãy nên bảo cặn kẽ với Đức Chánh Kê thị[13] buông xuống tập khí phú quý, kiêu căng, xa xỉ, hãy ăn mặc, trang sức như phụ nữ nông dân chốn làng quê, cùng với bà ta trở về gia đình ở Thành Đô, nghiêm túc giữ gìn sản nghiệp của tổ phụ. Đấy sẽ là biện pháp rốt ráo ổn thỏa, thích đáng nhất. Những điều khác trước đây tôi đã đều nói qua, nên không cần phải nhắc lại nữa!

http://www.niemphat.net/Luan/aqvstambien/aqvstambien14.htm