gioidinhhue
30-03-2010, 11:18
580. Thư trả lời cư sĩ Chương Đạo Sanh (thư thứ ba)
Đã lâu chưa gởi thư, chẳng biết gần đây ông tu trì ra sao. Tôi thường nghĩ đến ông. Nay gởi cho một bộ Văn Sao loại mới in. Bộ này so với bản in năm trước nhiều hơn một trăm trang. Tuy không có văn từ nào nêu tỏ lý tột cùng, nhưng lại có thể tiêu trừ từng điều nghi ngại của kẻ sơ cơ tu Tịnh nghiệp! Lại còn có một cuốn Thọ Khang Bảo Giám, hãy nên vì bọn thiếu niên mà lưu tâm đọc để trong tương lai khi ra khỏi nhà giam trở về nhà, sẽ có cái để làm gốc mà cứu vớt hết thảy thân thích, xóm giềng [khỏi phải chết vì sắc dục].
Tánh tình ông khá thông minh, mẫn tiệp. Thường có những kẻ thông minh, mẫn tiệp sử dụng tâm tư sai lầm, chẳng những vô ích mà còn gây hại nữa; quả thật là chướng ngại cho nghiên cứu, tu trì! Vào tháng Bảy, tôi qua đất Hỗ, đất Hàng, lẩn quẩn ở đấy hơn hai tháng. Có một chàng tuổi trẻ khá thông minh, nhưng những điều anh ta thưa hỏi đều là những thứ chẳng đáng nên để ý. Thật là nực cười, đáng thương quá!
1) Hỏi: Hết thảy hữu tình đều có Phật tánh, lớn - bé tuy khác, nhưng đều sợ chết như nhau. Phàm là người phóng sanh, trước hết hãy nên chú trọng đến những loài nhỏ bé thì sẽ chẳng trái nghịch với thuyết “[cùng có] Phật tánh, sợ chết giống như nhau”.
[Đáp]: Đã biết là giống nhau, cố nhiên nên tùy phần tùy sức tận lực cứu vớt, sao lại luận trước hay sau? Nếu vẫn giảng diễn thông suốt lý sự “Phật tánh giống như nhau, sợ chết chẳng khác” thì sẽ có lợi ích lớn lao. Cớ sao lại thiên chấp trước - sau?
2) [Hỏi]: Trong nước, trên không, những loài trùng bé tí vô lượng vô biên, theo một hơi thở của con người, chúng sẽ bị hút vào chẳng thể tính được số. [Như vậy thì] nghiệp báo trong tương lai sao có lúc kết thúc cho được? Cũng như nói đã biết con người và loài vật tuần hoàn thì xưa nay các bậc đại Nho thông hiểu Phật lý rất nhiều, sao chẳng chế định ra luật nhằm đoạn trừ chuyện sát sanh? Lại nói: “Hết thảy chúng sanh đều là cha mẹ trong quá khứ, là chư Phật trong vị lai, há nên giết hại, cũng chớ nên dâm dật”; nhưng trong hôn nhân chánh thức, biết đâu cũng là người thân trong đời trước?
[Đáp]: Ba câu hỏi ấy đều phô ra trí thông minh vặt vãnh, lầm lạc tưởng đó là những sự tướng có nghĩa lý hết sức tột cùng. Chẳng những vô ích mà còn gây hại! Vì sao? Do chớ nên vì chẳng thể không sát sanh những loài nhỏ tí liền muốn bỏ sạch chuyện phóng sanh những loài thô to! Ví như kẻ thích sạch sẽ, muốn chẳng dính bụi đất, nhưng xét kỹ bên trong thân thể: phân, tiểu, mủ, máu, ngoài thân là hờm (ghét), mồ hôi, tóc, lông, và muỗi, mòng, rận, rệp suốt ngày thường phóng uế trên thân ta. Do vậy nghĩ cái thân này trong - ngoài đều dơ bẩn, xấu xa, trọn chẳng khác gì nhà xí, bèn chẳng thèm sạch sẽ nữa, cứ suốt ngày vui thú trong nhà xí ư? Còn như anh ta nói những vị quan lại nổi danh xưa nay, sao chẳng đặt ra luật lệ cấm giết hại sanh mạng loài vật, vẫn là chẳng biết pháp thế gian lẫn pháp xuất thế gian có Quyền có Thật. Dẫu họ biết là thật, nhưng do lòng người chưa thể hoàn toàn quy y theo sự giáo hóa của đức Phật, cố nhiên chẳng dễ gì dựa theo Thật Lý để chế luật được!
[Cũng giống như] do kính tiếc chữ mà thường nói đến giấy, bởi giấy là vật dùng để viết chữ. Tuy chữ có thể viết nơi các chỗ, trên các vật, nhưng rốt cuộc vẫn chẳng nhiều bằng giấy. Vì thế, thường nói “kính tiếc giấy chữ”! Chứ không phải là chữ được viết trên giấy thì tiếc nuối, còn nếu [chữ] không được viết trên giấy thì đều chẳng đáng tiếc! Chữ cố nhiên nên tiếc, nhưng ý nghĩa của chữ lại càng đáng tiếc nhất! Nếu con người chẳng nương theo đạo làm người để hành xử, tức là đã quên mất tám chữ “hiếu, đễ, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm, sỉ”. Con người mà quên mất đi tám chữ ấy có còn đáng gọi là “người” hay chăng? Hãy nên dốc sức vào đấy thì cái gốc lớn lao đã thành lập, dẫu chẳng thể dứt hết những chuyện làm bẩn [chữ viết] trên hết thảy các vật, nhưng [những chữ] bị làm bẩn đã hiếm hoi hẳn đi!
Quân tử xử sự theo đúng địa vị; phàm những gì sức mình không thể làm thấu thì đều chẳng nên viện cớ “do sức không thể làm được” để phá hoại! Biết sức mình chẳng thể làm được bèn đặc biệt dốc sức nơi những gì sức mình làm được thì chính là đại thiện. Kẻ do sức chẳng thể làm nổi bèn đả phá, bài xích những người có sức làm được, bảo họ đừng làm thì chính là đại ác! Kẻ thông minh phần nhiều có thứ tà kiến ấy. Thứ ngôn luận này Quang đã từng hay biết, tiếp xúc chẳng biết là bao nhiêu! Chỉ sợ con người chẳng khéo dụng tâm nên đến nỗi vướng tội lỗi!
Do tôi nghĩ: Không chừng ông vướng phải thứ tà kiến ấy, hoặc trong số những người cùng hàng [với ông] mang thứ tà kiến ấy, nếu Quang chẳng trừ khử sẵn, trong tương lai chắc sẽ đến nỗi tự lầm, lầm người. Vì thế, nói đại lược đầu mối với ông! Đối với những thứ ngôn luận tà kiến vừa được Quang chiết phục ấy, cố nhiên nếu chẳng bỏ công trọn mấy hôm sẽ chẳng thể viết đầy đủ hết được! “Đôn đốc luân thường, khác tận kỷ phận, chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành” (giữ vẹn luân thường, nghiêm túc trọn hết bổn phận, đừng làm các điều ác, vâng làm các điều lành), mười sáu chữ ấy là cái gốc để “sống sẽ dự vào bậc thánh hiền, mất về cõi Cực Lạc”. Nguyện học trò tôi kính cẩn vâng giữ, tận lực thực hiện thì may mắn lắm thay!
Lòng Thành đến cùng cực, đá vàng sẽ nứt! Hơn nữa, “thực ít hơn dối nhiều, khéo quá chẳng bằng vụng!” Khi ông Hoàng Hàm Chi giữ chức Đài Đạo ở Ninh Ba và Thiệu Hưng, phát tâm ăn chay trường, khuyên mẹ cũng nên ăn chay. Nhưng dọn thức ăn chay ra, cụ chỉ ăn cơm không. Hoàng Hàm Chi gởi thư hỏi tôi phải làm theo phương cách nào; Quang dạy ông ta thay mẹ chí thành sám hối để nghiệp tiêu thì cụ sẽ ăn chay được! Chưa đầy một tháng cụ liền ăn chay trường.
Con gái ông Thích Tắc Châu mười chín tuổi, hai mắt mất ánh sáng, đưa tay ngay trước mặt cũng chẳng thấy được, gởi thư đến báo. Khi ấy, ông ta ở tại Tam Thánh Đường trên núi [Phổ Đà], được tin liền vội về nhà, đưa con gái sang ni am ở Hàng Châu. Quang bảo ông ta viết thư cho con gái, khuyên cô ta chí thành niệm thánh hiệu Quán Âm. Chưa đầy một tháng, [cô ta] liền đích thân viết thư báo tin đã lành bệnh.
Một phụ nữ từ năm mười sáu tuổi bị bệnh khí đông[19], mỗi ngày ắt lên cơn hai ba lượt, lúc lên cơn, đau đớn gần muốn mất mạng, nay đã năm mươi sáu tuổi, đến xin quy y. Quang dạy bà ta chí thành niệm Quán Âm và cho một phương thuốc, tức toa cai thuốc phiện trong bộ Văn Sao, nhưng không thêm thuốc phiện. Bà ta liền sắc một liều, vừa mới uống lần đầu đã không còn đau nữa. Chữa trị đủ thầy lẫn thuốc suốt bốn mươi mốt năm mà không sao dứt được căn bệnh dai dẳng ấy, nay vừa uống thuốc một lần liền hoàn toàn bình phục! Nếu bà ta không chí thành niệm danh hiệu Bồ Tát há có gặp được phương thuốc này hay chăng?
Ba người này đều là dùng sức ít mà được hiệu quả lớn lao, là vì lòng Thành vậy! Ông than không có cách nào chữa lành căn bệnh dây dưa của mẹ, Quang trách ông sao không dùng niệm Phật để cầu cho mẹ tiêu được nghiệp? Ông liền viết là “đã lễ Phật biết bao lần, vẫn chẳng thấy hiệu nghiệm!” Do vậy tôi mới viết “thực ít, hơn dối nhiều”. Nếu ông thật sự chân thật lễ bái trì tụng như thế mà căn bệnh dây dưa của mẹ ông chẳng lành, Quang sẽ mù mắt, trời đất sẽ đổi ngôi, mặt trời, mặt trăng xoay ngược. Há có lẽ ấy hay chăng?
Quang sợ ông chưa thấu hiểu ý tột cùng của một chữ Thành, nên mới đặt pháp danh cho ông là Huệ Thành, [do chuyện này] liền biết lòng Thành của ông nằm trên ngọn bút chứ không phải ở trong tâm! Nếu ở nơi tâm, trọn chẳng đến nỗi tu trì như thế mà hoàn toàn chẳng được lợi ích gì! Ông muốn sống làm học trò của thánh hiền, mất đi sẽ vào cõi Cực Lạc thì cần phải hoàn toàn đem cái tâm tướng hư giả vứt ra ngoài biển khơi, nghiêm túc tu hành thật sự. Hễ nói được thì phải làm được, hễ làm không được bèn chẳng chịu nói. Được như thế thì tổ tông, cha mẹ của ông đều được rạng mày nở mặt lớn lao. Quang cũng nhờ vào công đức thật hành của ông mà tiêu trừ tội nghiệp. Nếu do Quang chẳng thể tận mắt thấy được, liền cứ tùy tiện nói dối, dẫu cho Quang tưởng là thật đi nữa, thì trời đất, quỷ thần, Phật, Bồ Tát cũng tưởng là thật hay sao? Ông đã có cái tâm ấy thì chính là bất hiếu vì đã dối cha mẹ, dối thầy, dối Phật! Đối với cha mẹ và thầy mà có thể thật sự dối trá được sao? [Chỉ là] ông tự dối mình đó thôi!
Do thấy ông còn hiểu lý, Quang mới nhiều lần cảnh tỉnh, răn nhắc! Nếu nghĩ Quang là sai, xin từ nay đừng nên thư từ qua lại nữa thì hơn! “Quân tử khả khi dĩ kỳ phương, nan võng dĩ phi kỳ đạo” (Có thể dùng lời lẽ hợp lý để lừa quân tử, chứ khó thể dùng lời phi lý để dối gạt được[20]). Chẳng phải là Quang ăn nói quá gắt gao, mà là vì ông ăn nói trước - sau không phù hợp, nhưng những chuyện ấy đâu phải là do ông ở trong nhà tù rồi sẽ không thể thực hiện được! Quang tuy vô đạo đức, nhưng đã sống trên đời sáu mươi tám năm, nên rất khó thể bị dối gạt bởi những chuyện chẳng hợp tình hợp lý! Xin hãy thống thiết sửa đổi. Nếu không, sẽ là tội nhân chung thân của cả Nho lẫn Thích đấy!
http://www.niemphat.net/Luan/aqvstambien/aqvstambien15.htm
Đã lâu chưa gởi thư, chẳng biết gần đây ông tu trì ra sao. Tôi thường nghĩ đến ông. Nay gởi cho một bộ Văn Sao loại mới in. Bộ này so với bản in năm trước nhiều hơn một trăm trang. Tuy không có văn từ nào nêu tỏ lý tột cùng, nhưng lại có thể tiêu trừ từng điều nghi ngại của kẻ sơ cơ tu Tịnh nghiệp! Lại còn có một cuốn Thọ Khang Bảo Giám, hãy nên vì bọn thiếu niên mà lưu tâm đọc để trong tương lai khi ra khỏi nhà giam trở về nhà, sẽ có cái để làm gốc mà cứu vớt hết thảy thân thích, xóm giềng [khỏi phải chết vì sắc dục].
Tánh tình ông khá thông minh, mẫn tiệp. Thường có những kẻ thông minh, mẫn tiệp sử dụng tâm tư sai lầm, chẳng những vô ích mà còn gây hại nữa; quả thật là chướng ngại cho nghiên cứu, tu trì! Vào tháng Bảy, tôi qua đất Hỗ, đất Hàng, lẩn quẩn ở đấy hơn hai tháng. Có một chàng tuổi trẻ khá thông minh, nhưng những điều anh ta thưa hỏi đều là những thứ chẳng đáng nên để ý. Thật là nực cười, đáng thương quá!
1) Hỏi: Hết thảy hữu tình đều có Phật tánh, lớn - bé tuy khác, nhưng đều sợ chết như nhau. Phàm là người phóng sanh, trước hết hãy nên chú trọng đến những loài nhỏ bé thì sẽ chẳng trái nghịch với thuyết “[cùng có] Phật tánh, sợ chết giống như nhau”.
[Đáp]: Đã biết là giống nhau, cố nhiên nên tùy phần tùy sức tận lực cứu vớt, sao lại luận trước hay sau? Nếu vẫn giảng diễn thông suốt lý sự “Phật tánh giống như nhau, sợ chết chẳng khác” thì sẽ có lợi ích lớn lao. Cớ sao lại thiên chấp trước - sau?
2) [Hỏi]: Trong nước, trên không, những loài trùng bé tí vô lượng vô biên, theo một hơi thở của con người, chúng sẽ bị hút vào chẳng thể tính được số. [Như vậy thì] nghiệp báo trong tương lai sao có lúc kết thúc cho được? Cũng như nói đã biết con người và loài vật tuần hoàn thì xưa nay các bậc đại Nho thông hiểu Phật lý rất nhiều, sao chẳng chế định ra luật nhằm đoạn trừ chuyện sát sanh? Lại nói: “Hết thảy chúng sanh đều là cha mẹ trong quá khứ, là chư Phật trong vị lai, há nên giết hại, cũng chớ nên dâm dật”; nhưng trong hôn nhân chánh thức, biết đâu cũng là người thân trong đời trước?
[Đáp]: Ba câu hỏi ấy đều phô ra trí thông minh vặt vãnh, lầm lạc tưởng đó là những sự tướng có nghĩa lý hết sức tột cùng. Chẳng những vô ích mà còn gây hại! Vì sao? Do chớ nên vì chẳng thể không sát sanh những loài nhỏ tí liền muốn bỏ sạch chuyện phóng sanh những loài thô to! Ví như kẻ thích sạch sẽ, muốn chẳng dính bụi đất, nhưng xét kỹ bên trong thân thể: phân, tiểu, mủ, máu, ngoài thân là hờm (ghét), mồ hôi, tóc, lông, và muỗi, mòng, rận, rệp suốt ngày thường phóng uế trên thân ta. Do vậy nghĩ cái thân này trong - ngoài đều dơ bẩn, xấu xa, trọn chẳng khác gì nhà xí, bèn chẳng thèm sạch sẽ nữa, cứ suốt ngày vui thú trong nhà xí ư? Còn như anh ta nói những vị quan lại nổi danh xưa nay, sao chẳng đặt ra luật lệ cấm giết hại sanh mạng loài vật, vẫn là chẳng biết pháp thế gian lẫn pháp xuất thế gian có Quyền có Thật. Dẫu họ biết là thật, nhưng do lòng người chưa thể hoàn toàn quy y theo sự giáo hóa của đức Phật, cố nhiên chẳng dễ gì dựa theo Thật Lý để chế luật được!
[Cũng giống như] do kính tiếc chữ mà thường nói đến giấy, bởi giấy là vật dùng để viết chữ. Tuy chữ có thể viết nơi các chỗ, trên các vật, nhưng rốt cuộc vẫn chẳng nhiều bằng giấy. Vì thế, thường nói “kính tiếc giấy chữ”! Chứ không phải là chữ được viết trên giấy thì tiếc nuối, còn nếu [chữ] không được viết trên giấy thì đều chẳng đáng tiếc! Chữ cố nhiên nên tiếc, nhưng ý nghĩa của chữ lại càng đáng tiếc nhất! Nếu con người chẳng nương theo đạo làm người để hành xử, tức là đã quên mất tám chữ “hiếu, đễ, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm, sỉ”. Con người mà quên mất đi tám chữ ấy có còn đáng gọi là “người” hay chăng? Hãy nên dốc sức vào đấy thì cái gốc lớn lao đã thành lập, dẫu chẳng thể dứt hết những chuyện làm bẩn [chữ viết] trên hết thảy các vật, nhưng [những chữ] bị làm bẩn đã hiếm hoi hẳn đi!
Quân tử xử sự theo đúng địa vị; phàm những gì sức mình không thể làm thấu thì đều chẳng nên viện cớ “do sức không thể làm được” để phá hoại! Biết sức mình chẳng thể làm được bèn đặc biệt dốc sức nơi những gì sức mình làm được thì chính là đại thiện. Kẻ do sức chẳng thể làm nổi bèn đả phá, bài xích những người có sức làm được, bảo họ đừng làm thì chính là đại ác! Kẻ thông minh phần nhiều có thứ tà kiến ấy. Thứ ngôn luận này Quang đã từng hay biết, tiếp xúc chẳng biết là bao nhiêu! Chỉ sợ con người chẳng khéo dụng tâm nên đến nỗi vướng tội lỗi!
Do tôi nghĩ: Không chừng ông vướng phải thứ tà kiến ấy, hoặc trong số những người cùng hàng [với ông] mang thứ tà kiến ấy, nếu Quang chẳng trừ khử sẵn, trong tương lai chắc sẽ đến nỗi tự lầm, lầm người. Vì thế, nói đại lược đầu mối với ông! Đối với những thứ ngôn luận tà kiến vừa được Quang chiết phục ấy, cố nhiên nếu chẳng bỏ công trọn mấy hôm sẽ chẳng thể viết đầy đủ hết được! “Đôn đốc luân thường, khác tận kỷ phận, chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành” (giữ vẹn luân thường, nghiêm túc trọn hết bổn phận, đừng làm các điều ác, vâng làm các điều lành), mười sáu chữ ấy là cái gốc để “sống sẽ dự vào bậc thánh hiền, mất về cõi Cực Lạc”. Nguyện học trò tôi kính cẩn vâng giữ, tận lực thực hiện thì may mắn lắm thay!
Lòng Thành đến cùng cực, đá vàng sẽ nứt! Hơn nữa, “thực ít hơn dối nhiều, khéo quá chẳng bằng vụng!” Khi ông Hoàng Hàm Chi giữ chức Đài Đạo ở Ninh Ba và Thiệu Hưng, phát tâm ăn chay trường, khuyên mẹ cũng nên ăn chay. Nhưng dọn thức ăn chay ra, cụ chỉ ăn cơm không. Hoàng Hàm Chi gởi thư hỏi tôi phải làm theo phương cách nào; Quang dạy ông ta thay mẹ chí thành sám hối để nghiệp tiêu thì cụ sẽ ăn chay được! Chưa đầy một tháng cụ liền ăn chay trường.
Con gái ông Thích Tắc Châu mười chín tuổi, hai mắt mất ánh sáng, đưa tay ngay trước mặt cũng chẳng thấy được, gởi thư đến báo. Khi ấy, ông ta ở tại Tam Thánh Đường trên núi [Phổ Đà], được tin liền vội về nhà, đưa con gái sang ni am ở Hàng Châu. Quang bảo ông ta viết thư cho con gái, khuyên cô ta chí thành niệm thánh hiệu Quán Âm. Chưa đầy một tháng, [cô ta] liền đích thân viết thư báo tin đã lành bệnh.
Một phụ nữ từ năm mười sáu tuổi bị bệnh khí đông[19], mỗi ngày ắt lên cơn hai ba lượt, lúc lên cơn, đau đớn gần muốn mất mạng, nay đã năm mươi sáu tuổi, đến xin quy y. Quang dạy bà ta chí thành niệm Quán Âm và cho một phương thuốc, tức toa cai thuốc phiện trong bộ Văn Sao, nhưng không thêm thuốc phiện. Bà ta liền sắc một liều, vừa mới uống lần đầu đã không còn đau nữa. Chữa trị đủ thầy lẫn thuốc suốt bốn mươi mốt năm mà không sao dứt được căn bệnh dai dẳng ấy, nay vừa uống thuốc một lần liền hoàn toàn bình phục! Nếu bà ta không chí thành niệm danh hiệu Bồ Tát há có gặp được phương thuốc này hay chăng?
Ba người này đều là dùng sức ít mà được hiệu quả lớn lao, là vì lòng Thành vậy! Ông than không có cách nào chữa lành căn bệnh dây dưa của mẹ, Quang trách ông sao không dùng niệm Phật để cầu cho mẹ tiêu được nghiệp? Ông liền viết là “đã lễ Phật biết bao lần, vẫn chẳng thấy hiệu nghiệm!” Do vậy tôi mới viết “thực ít, hơn dối nhiều”. Nếu ông thật sự chân thật lễ bái trì tụng như thế mà căn bệnh dây dưa của mẹ ông chẳng lành, Quang sẽ mù mắt, trời đất sẽ đổi ngôi, mặt trời, mặt trăng xoay ngược. Há có lẽ ấy hay chăng?
Quang sợ ông chưa thấu hiểu ý tột cùng của một chữ Thành, nên mới đặt pháp danh cho ông là Huệ Thành, [do chuyện này] liền biết lòng Thành của ông nằm trên ngọn bút chứ không phải ở trong tâm! Nếu ở nơi tâm, trọn chẳng đến nỗi tu trì như thế mà hoàn toàn chẳng được lợi ích gì! Ông muốn sống làm học trò của thánh hiền, mất đi sẽ vào cõi Cực Lạc thì cần phải hoàn toàn đem cái tâm tướng hư giả vứt ra ngoài biển khơi, nghiêm túc tu hành thật sự. Hễ nói được thì phải làm được, hễ làm không được bèn chẳng chịu nói. Được như thế thì tổ tông, cha mẹ của ông đều được rạng mày nở mặt lớn lao. Quang cũng nhờ vào công đức thật hành của ông mà tiêu trừ tội nghiệp. Nếu do Quang chẳng thể tận mắt thấy được, liền cứ tùy tiện nói dối, dẫu cho Quang tưởng là thật đi nữa, thì trời đất, quỷ thần, Phật, Bồ Tát cũng tưởng là thật hay sao? Ông đã có cái tâm ấy thì chính là bất hiếu vì đã dối cha mẹ, dối thầy, dối Phật! Đối với cha mẹ và thầy mà có thể thật sự dối trá được sao? [Chỉ là] ông tự dối mình đó thôi!
Do thấy ông còn hiểu lý, Quang mới nhiều lần cảnh tỉnh, răn nhắc! Nếu nghĩ Quang là sai, xin từ nay đừng nên thư từ qua lại nữa thì hơn! “Quân tử khả khi dĩ kỳ phương, nan võng dĩ phi kỳ đạo” (Có thể dùng lời lẽ hợp lý để lừa quân tử, chứ khó thể dùng lời phi lý để dối gạt được[20]). Chẳng phải là Quang ăn nói quá gắt gao, mà là vì ông ăn nói trước - sau không phù hợp, nhưng những chuyện ấy đâu phải là do ông ở trong nhà tù rồi sẽ không thể thực hiện được! Quang tuy vô đạo đức, nhưng đã sống trên đời sáu mươi tám năm, nên rất khó thể bị dối gạt bởi những chuyện chẳng hợp tình hợp lý! Xin hãy thống thiết sửa đổi. Nếu không, sẽ là tội nhân chung thân của cả Nho lẫn Thích đấy!
http://www.niemphat.net/Luan/aqvstambien/aqvstambien15.htm