PDA

Xem bản đầy đủ : Một Lá Thư Gửi Khắp - Ấn Quang Pháp Sư


NguonDao
20-06-2010, 21:48
Một Lá Thư Gửi Khắp là lá thư đầu tiên trong quyển thượng của bộ Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tục Biên; Người viết sẵn để khi có ai gửi thư hỏi đạo, Người sẽ gửi lại bằng bức thư viết sẵn này. Bởi thế, nội dung của thư gồm các lời chỉ dạy về các cách sống và cách tu học.

Nguồn Đạo đặc biệt xúc động khi Người hướng dẫn các Phụ nữ chuẩn bị sinh đẻ và trong lúc sinh đẻ: niệm to tiếng Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát để cầu sự gia hộ cho "mẹ tròn con vuông".

Trên các diễn đàn, chị gioidinhhue đã gửi lên rồi; nhưng vì chữ chị đánh là Tahoma nên khi ND tải xuống để in thì bị thay phông. ND xin đánh máy theo phông Time new roman để in và xin được gửi lên diễn đàn. ND mong sao nhờ lời hướng dẫn này mà các Phụ nữ vượt qua cơn khó khăn khi sinh nở. Và do vậy, mẹ và con đều có duyên lành với Tam Bảo.

NguonDao
20-06-2010, 21:51
MỘT LÁ THƯ GỬI KHẮP


(lời lẽ tuy vụng về chất phác, nhưng nghĩa vốn lấy từ kinh Phật. Nếu chịu hành theo, lợi lạc vô cùng. Năm Dân Quốc 21 – 1932)


Pháp môn Tịnh Độ, độ khắp ba căn, lợi - độn trọn thâu, chính là đại pháp để Đức Như Lai phổ độ hết thảy thượng thánh hạ phàm khiến cho họ liễu sinh tử ngay trong đời này. Đối với pháp này chẳng tin, chẳng tu, chẳng đáng buồn ư? Pháp môn này lấy ba pháp Tín - Nguyện - Hạnh làm tông 1. Tín là tin thế giới chúng ta đây là khổ, tin thế giới Cực Lạc là vui. Tin ta nghiệp lực phàm phu, quyết định chẳng thể cậy vào Tự Lực để đoạn Hoặc chứng Chân hòng liều sinh thoát tử. Tin A Di Đà Phật có đại thệ nguyện: nếu có chúng sinh niệm danh hiệu Phật, cầu sinh cõi Phật, người ấy lúc mạng chung, Phật ắt rủ lòng từ tiếp dẫn sinh về Tây Phương. Nguyện là nguyện mau thoát lìa thế giới khổ sở này, nguyện mau vãng sinh thế gưói Cực Lạc kia. Hạnh là chí thành khẩn thiết thường niệm Nam Mô A Di Đà Phật, thời thời khắc khắc chớ để tạm quên. Sáng tối đối trước Phật lễ bái, trì tụng, tuỳ theo bản thân rảnh rỗi hay bận bịu mà lập một khoá trình2. Ngoài ra, trong lúc đi - đứng - ngồi - nằm và làm những chuyện chẳng phải dùng đến tâm thì đều khéo niệm. Lúc ngủ nên thầm niệm, chẳng nên niệm ra tiếng. Chỉ nên niệm bốn chữ A Di Đà Phật để khỏi bị nhiều chữ khó niệm. Nếu áo mũ không chỉnh tề, hoặc đang lúc rửa ráy, đại tiểu tiện, hoặc đến chỗ không sạch sẽ đều nên niệm thầm. Niệm thầm có cùng một công đức như niệm ra tiếng, niệm ra tiếng không hợp lễ. Bất luận niẹm lớn tiếng hay niệm nhỏ tiếng, niệm Kim Cang (niệm có tiếng nhưng người bên cạnh không nghe được), niệm thầm trong tâm đều phải niệm cho rõ ràng rành rẽ trong tâm, miệng niệm cho rõ ràng rành rẽ, tai nghe cho rõ ràng rành rẽ. Như thế thì tâm chẳng rong ruổi theo bên ngoài, vọng tưởng dần dần dứt, Phật niệm dần dần thuần, công đức rất lớn !
Người niệm Phật phải hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng (tức Thầy dạy ta và những vị có đạo đức), từ tâm không giết (nên ăn chay trường, hoặc ăn chay kỳ. Nếu chưa dứt được ăn mặn thì đừng đích thân giết), tu Thập Thiện nghiệp (tức là thân chẳng làm chuyện sát sinh, trộm cắp, tà dâm; miệng chẳng nói dối, thêu dệt, nói đôi chiều, nói lời ác; tâm chẳng khởi niệm tham dục, nóng giận, ngu si). Lại còn phải cha nhân từ, con hiếu thuận, anh nhường, em kính, chồng hoà, vợ thuận, chủ nhân từ, tớ trung thành, nghiêm túc tận hết bổn phận của chính mình. Chẳng cần biết người khác có trọn hết bổn phận đối với ta hay không, ta phải luôn trọn hết bổn phận ta. Nếu có thể đối với gia đình và xã hội trọn hết tình nghĩa, tận hết bổn phận thì gọi là “thiện nhân”. Thiện nhân niệm Phật cầu sinh Tây Phương chắc chắn khi lâm chung liền được vãng sinh bởi tâm hợp với Phật, nên cảm được Phật từ tiếp dẫn. Nếu tuy thường niệm Phật, nhưng tâm chẳng nương theo đạo, hoặc đối với cha mẹ, anh em, thê thiếp, con cái, bạn bè, xóm làng chẳng thể tận hết bổn phận thì tâm đã trái nghịch Phật, khó thể vãng sinh! Do tự tâm phát sinh chướng ngại, Phật cũng không có cách nào rủ lòng từ tiếp dẫn được!
Lại phải nên khuyên cha mẹ, anh em, chị em, thê thiếp, con cái, xóm làng, thân hữu đều cùng thường niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” và “Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát” (mỗi ngày nếu niệm một vạn câu Phật hiệu thì niệm năm trăm ngàn câu Quán Âm, nhiều hay ít chiếu theo đây mà gia giảm). Bởi chuyện này lợi ích rất lớn, nỡ nào để người sinh ra ta và quyến thuộc của ta cũng như thân hữu chẳng được hưởng lợi ích hay sao? Huống chi hiện tại đang là lúc cõi đời hoạn nạn lớn lao, tai hoạ xảy đến không cách gì đối phó được. Nếu thường niệm Phật và niệm Quán Âm, chắc chắn được Phật từ che chở, gặp dữ hoá lành. Dẫu không tai nạn cũng được nghiệp tiêu trí rạng, chướng tận, phúc tăng. Huống chi, khuyên người niệm Phật cầu sinh Tây Phương chính là thành tựu cho phàm phu thành Phât, công đức rất lớn! Dùng công đức này hồi hướng vãng sinh, ắt được mãn nguyện.
Phàm tụng kinh, trì chú, lễ bái, sám hối và cứu tai nạn, giúp kẻ nghèo, mọi thứ công đức từ thiện đều phải hồi hướng vãng sinh Tây Phương, chớ nên cầu phúc báu nhân – thiên trong đời sau. Hễ có tâm ấy sẽ chẳng có phần vãng sinh! Hễ sinh tử chưa giải quyết xong, phúc càng lớn ắt nghiệp càng nặng, Hễ sinh lần nữa khó khỏi đoạ trong ba đường ác: địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Nếu muốn lại được thân người, lại được gặp pháp môn Tịnh Độ liễu thoát ngay trong một đời, khó như lên trời! Phật dạy người niệm Phật cầu sinh Tây Phương là để con người liễu thoát sinh tử ngay trong đời này. Nếu cầu phúc báu nhân – thiên đời sau thì là trái nghịch lời Phật dạy, giống như đem một viên bảo châu vô giá trong khắp cõi đời đổi lấy một thẻ đường để ăn, chẳng đáng tiếc ư? Người ngu niệm Phật chẳng cầu sinh Tây Phương, cầu phúc báu nhân thiên đời sau cũng chẳng khác gì!
Người niệm Phật chẳng được lạm tu con đường tham cứu của nhà Thiền, bởi người tham cứu chẳng chú trọng nơi tín nguyện cầu sinh; dẫu có niệm Phật cũng chỉ chú trọng khán câu “Người niệm Phật là ai?” để cầu khai ngộ mà thôi! Nếu sinh Tây Phương thì không một ai chẳng khai ngộ! Nếu khai ngộ mà Hoặc nghiệp hết sạch thì có thể liễu sinh tử, nếu Hoặc nghiệp chưa hết sẽ chẳng thể cậy vào Tự Lực để liễu sinh tử. Lại do không có tín nguyện nên chẳng thể cậy vào Phật Lực để liễu sinh tử. Tự Lực lẫn Phật Lực cả hai đều không nhờ cậy được, muốn thoát luân hồi há có được chăng? Phải biết: Pháp Thân Bồ Tát lúc chưa thành Phật đều phải cậy vào oai lực của Phật, huống chi nghiệp lực phàm phu phí công bàn chuyện Tự Lực, chẳng cậy Phật Lực ư? Lời lẽ tuy cao diêu, nhưng hạnh thật hèn tệ. Phật Lực, Tự Lực lớn - nhỏ, nào phải chỉ khác biệt như trời với vực! Nguyện đồng nhân 3 đều hiểu nghĩa này.
Người niệm Phật chớ nên bắt chước kẻ ngu, làm những “Phật sự” như hoàn thọ sinh, gửi kho4, … bởi chuyện “hoàn thọ sinh” chẳng phát xuất từ kinh Phật, mà do người đời sau ngụy tạo. “Gửi kho” là nguyện chết đi làm quỷ, chuẩn bị sẵn tiền tiêu dùng trong quỷ đạo. Đã có tâm nguyện làm quỷ sẽ khó thể vãng sinh. Nếu chưa làm, hãy chớ có làm. Nếu trót đã làm hãy bẩm rõ cùng Phật: “Đệ tử tên là … chỉ cầu vãng sinh, tiền trước kia gửi kho nơi cõi âm, đều dùng chẩn tế cô hồn hết”. Thì mới chẳng gây chướng ngại cho việc vãng sinh. Phàm nhưng kinh như: Thọ sinh, Huyết Bồn, Thái Dương, Thái Âm, Nhãn Quang, Táo Vương, Thai Cốt, Phân Châu, Diệu Sa 5, … đều do những kẻ lầm lạc ngụy tạo, chớ nên niệm. Kẻ ngu chẳng biết niệm Kinh Đại Thừa (tức là các Kinh: A Di Đà, Vô Lượng Thọ, Quán Vô Lượng Thọ Phật, Tâm Kinh, Kim Cang, Dược Sư, Pháp Hoa, Lăng Nghiêm, Hoa Nghiêm, Phổ Hiền Hạnh Nguỵên Phẩm,…) ngả lòng tin theo các thứ nguỵ kinh nguỵ tạo mù quáng ấy, ắt phải làm những chuyện hoàn thọ sinh, phá địa ngục, phá huyết hồ mới an tâm được! Có người hiểu lý nói những kinh ấy là nguỵ tạo, cũng chẳng chịu tin. Phải biết: Làm Phật sự thì chỉ có niệm Phật là công đức lớn nhất. Nên dùng tiền làm chuyện hoàn thọ sinh, phá địa ngục, phá huyết hồ 6 để thỉnh vị Tăng có chính niệm niệm Phật thì lợi ích lớn lắm.
Người Niệm Phật nên ăn chay trường. Nếu như chưa thể thì nên giữ Lục Trai, hoặc Thập Trai (mùng 8, 14, 15, 23, 29, 30 là Lục trai. Thêm ngày mùng 1, 18, 24, 28 thì thành Thập Trai. Gặp tháng thiếu thì ăn lên trước đó 1 ngày. Lại còn tháng Giêng, tháng 5, tháng 9 là ba tháng chay, nên ăn chay trường, làm các công đức). Từ giảm dần đến vĩnh viễn dứt ăn mặn thì mời hợp lý. Tuy chưa dứt được ăn mặn, hãy nên mua thịt làm sẵn, đừng sát sinh trong nhà. Do trong nhà thường nguyện cát tường (tốt lành, may mắn), nếu hằng ngày sát sinh thì nhà ấy trở thành nơi giết chóc. Nơi giết chóc chính là chỗ oán quỷ tụ hội, chẳng tốt lành, điều này quan trọng lắm! Do vậy, phải kiêng sát sinh trong nhà.
Người niệm Phật nên khuyên cha mẹ niệm Phật cầu sinh Tây Phương, nhưng muốn cho cha mẹ lúc lâm chung quyết định vãng sinh Tây Phương mà không nói sắn cho quyết thuộc biết về việc trợ niệm lâm chung, và lợi - hại của việc phô trường mù quáng và khóc lóc sẽ chẳng thể được! Vì vậy, muốn cho cha mẹ khi lâm chung được hưởng sự lợi ích do quyến thuộc trợ niệm, chẳng bị cái hại phá hoại chính niệm, nhưng lúc thường ngày không nói cho họ biết sự lợi ích của việc niệm Phật, khiến cho ai nấy đều thường niệm, sẽ không thể được! Như thế chẳng những có ích cho cha mẹ và thật sự có ích cho những quyến thuộc hiện đời, con cháu đời sau. Lâm chung trợ niệm, bất luận già - trẻ đều nên như vậy, xem cuốn Sức Chung Tân Lương 7 sẽ tự biết.
Nữ nhân khi sinh nở thường đau đớn chẳng kham nổi, nếu mấy ngày chưa sinh rất có thể bị mất mạng. Lại có người sinh xong bị băng huyết, đủ mọi nỗi nguy hiểm, và con cái mắc chứng kinh phong chậm hay gắp, đủ mọi nỗi hiểm nguy. Nếu nhằm lúc sắp sinh, hãy chí thành khẩn thiết niệm ra tiếng rõ ràng “Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát”, chớ nên niệm thầm trong tâm, bởi niệm thầm sức nhỏ, nên cảm ứng cũng nhỏ. Lại do lúc ấy dùng sức đẩy con ra, nếu thầm niệm thì rất có thể do bế khí mà thành bệnh, Nếu chí thành khẩn thiết niệm chắc chắn chẳng bị: đau đớn, khó sinh, băng huyết sau khi sinh, đứa con mắc các chứng kinh phong, … Dẫu cho khó sinh đến tột bậc, người đã sắp chết, hãy nên dạy sản phụ ấy và những người chăm sóc chung quanh đều cùng niệm Quán Thế Âm ra tiếng, người nhà dẫu ở phòng khác cũng đều có thể niệm, chắc chắn công phu chưa đến một khắc liền được an nhiên sinh nở. Ngoại đạo chẳng hiểu lý, chấp chết vào một pháp cung kính, chẳng biết căn cứ vào sự để luận lý, đến nỗi những bà cụ niệm Phật coi sinh nở là chuyện đáng sợ, dẫu là con gái ruột, con dâu cũng chẳng dám nhìn đến, huống chi là dám dạy họ niệm Quán Âm ư? Phải biết Bồ Tát mang tâm cứu khổ, lúc sắp sinh tuy loã lồ, bất tịnh, nhưng là chuyện không thể nào tránh được, chứ không phải do cố ý luông tuồng, chẳng những niệm Quan Âm khi ấy không có tội lỗi gì, mà lại còn gieo được đại thiện căn cho cả mẹ lẫn con. Nghĩa này Đức Phật dạy trong kinh Dược Sư, chứ không phải ý kiến ức đoán của tôi, chẳng qua tôi chỉ đề xướng mà thôi! (Kinh Dược Sư nói về thệ nguyện công đức Phật Dược Sư, cho nên dạy niệm Phật Dược Sư. Nhưng danh hiệu Quán Âm ai nấy đều biết cho nên bất tất phải niệm Phật Dược Sư, cứ niệm Quán Âm cũng được).
Nữ nhân từ mười hai, mười ba tuổi cho đến bốn mươi tám, bốn mươi chín tuổi đều có kinh nguyệt. Có kẻ nói “trong lúc có kinh không được lễ bái, trì tụng!”, Lời ấy chẳng thông tình lý. Người có kinh ngắn ngày thì hai ba ngày là hết, có người kéo dài đến sáu bảy ngày mới hết. Người tu trì ắt phải niệm niệm không gián đoạn, lẽ đâu vì một tật nhỏ trời sinh ấy để rồi bỏ bê việc tu trì? Nay tôi nói: Trong lúc có kinh, chỉ nên lễ bái ít hơn ( nên ít lễ bái, chứ không phải là tuyệt đối chẳng được làm lễ), niệm Phật, tụng kinh đều theo như lệ thường. Nên thường thay vải dơ (băng vệ sinh). Nếu tay sờ vào vải dơ, hãy nên rửa sạch, chớ dùng tay đã chạm đồ dơ để lật kinh và thắp hương. Phật pháp thì pháp nào cũng viên thông, ngoại đạo chỉ chấp vào lý ngoài rìa. Người đời đa phần chỉ tin lời ngoại đạo, chẳng biết đến chính lé trong Phật pháp. Vì thế, khiến cho hết thảy đồng nhân chẳng thể được nhuần thấm lợi ích nơi pháp.
Quán Thế Âm Bồ Tát thệ nguyện rộng sâu, theo tiếng cứu khổ. Nếu gặp phải những hoạn nạn như đao binh, nước, lửa, đói kém, sâu rầy, châu chấu, ôn dịch, hạn hán, lụt lội, giặc cướp, oan gia, ác thú, rắn độc, ác quỷ, yêu mị, bệnh tật do oán nghiệp, tiểu nhân hãm hại, … mà có thể phát tâm sửa lỗi hướng thiện, tự lợi, lợi người, chí thành khẩn thiết niệm Quán Thế Âm, niệm niệm không gián đoạn, chắc chắn sẽ được Ngài từ bi che chở, chẳng bị nguy hiểm gì. Nếu vẫn giữ tấm lòng chẳng lành, dẫu có xưng niệm, chẳng qua chỉ tạm gieo căn lành cho vị lai, chẳng được cảm ứng trong hiện thời. Bởi lẽ Phật, Bồ tát đều là thành tựu thiện niệm cho người, trọn chẳng thành tựu ác niệm cho người. Nếu chẳng phát tâm sửa lỗi hướng thiện, lầm lạc muốn niệm danh hiệu Phật, Bồ Tát để mong thành ác sự cho mình thì quyết định không được cảm ứng, chớ có dấy lên cái tâm điên đảo ấy!
Niệm Phật khẩn yếu nhất là giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt lòng ta, giữ lòng thành, đừng làm các điều ác, vâng làm các điều thiện, giữ tấm lòng tốt, nói lời tốt lành, làm chuyện tốt đẹp. Có sức làm được thì tích cực làm, chẳng thể làm được thì cũng phải phát thiện tâm ấy, hoặc khuyên người có sức làm, hoặc thấy người khác làm bèn phát tâm hoan hỷ, thốt lời khan ngợi thì cũng là thuộc về công đức nơi tâm và miệng. Nếu chẳng thể tự làm được, thấy người khác làm bèn sinh ganh ghét, liền thành ra tâm hạnh tiểu nhân gian ác, chắc chắn bị tổn phúc, giảm thọ chẳng được kết quả tốt lành, hãy nên thống thiết răn dè. Chẳng được làm chuyện giả dối để được tiếng, buôn danh chuốc dự, tâm hạnh ấy quả thật bị thiên địa quỷ thần đều cùng ghét. Nếu có thì phải sửa đổi, nếu không thì càng thêm cố gắng.
Trong đời có kẻ nữ, chẳng hiểu chí lý (lý tột cùng), hoặc chẳng hiếu đối với cha mẹ chồng, lừa dối, khinh miệt chồng, nuông chiều con cái mù quáng, ngược đãi tôi tới, hoặc là mẹ kế ngược đãi con cái đời vợ trước, chẳng biết hiếu dưỡng cha me chồng, dạy con cái, rộng rãi với tôi tớ, nuôi dạy, chăm sóc con cái vợ trước, chẳng biết những điều ấy quả thật là vun bồi đạo thánh hiền trong thế gian, mà cũng là pháp vun bồi cái gốc trong nhà Phật. Đầy đủ công đức này, do tu tập Tịnh nghiệp chắc chắn danh dự ngày càng cao, phúc tăng, tuổi thọ lâu dài, lâm chung được Phật tiếp dẫn lên thẳng chín phẩm sen. Phải biết: có nhân chắc chắn có quả. Nếu mình gieo cái nhân hiếu kính từ ái, sẽ tự hưởng cái quả hiếu kính từ ái. Vì người chính là vì mình, hại người còn tệ hơn tự hại mình. Vì thế, phải tận hết chức phận của chính mình để mong Phật - trời cùng soi xét.
Trẻ nhỏ từ lúc có sự hiểu biết, liền dạy cho chúng đạo hiếu, đễ, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm, sỉ, và những sự nhân quả ba đời, luân hồi lục đạo khiến cho chúng biết tâm của chín chúng nó trong từng hơi thở đều thông với tâm của trời, đất, quỷ thần, Phật, Bồ tát. Khởi lên một niệm bất chính, làm một chuyện bất chính đã sớm bị trời, đất, quỷ thần, Phật, Bồ tát thấy biết tường tận, như đối trước gương sáng đều hiện ra hình bóng xấu không thể trốn tránh được, ngõ hầu chúng nó biết kiêng sợ, gắng làm người lương thiện. Bất luận là ai, dẫu là tôi tớ, trẻ nhỏ, cũng chẳng được phép đánh chửi. Dạy chúng tôn kính bậc tôn trưởng, giữ phận người dưới. Phải chú trọng dạy chúng nó kính tiếc giấy có viết chữ, yêu tiếc ngũ cốc, y phục, đồ đạc, thương tiếc che chở trùng kiến, cấm ngăt ăn vặt để khỏi bị bệnh. Dạy được như thế thì phần đông chắc chắn trở thành người hiền thiện. Nếu lúc nhỏ để mặc theo thói quen, điều gì cũng chẳng giáo huấn, lớn lên không thành hạng tầm thường cũng thành phường trộm cướp. Lúc ấy có hối cũng chẳng có ích gì! Cổ nhân nói: “Giáo phụ sơ lai, Giáo nhi anh hài” (Dạy con từ thuở còn thơ. Dạy vợ từ thuở ban sơ mới về), bởi lẽ do huân tập sẽ trở thành bản tính nên phải cẩn thận ngay từ đầu. Thiên hạ yên hay loạn đều bắt nguồn từ đây; chớ nghĩ lão tăng nói chuyện viễn vông, không quan hệ, khẩn yếu chi!
Quang đã già rồi, tinh thần ngày càng suy yếu, không có sức trả lời thư gửi đến. Chỉ vì đường bưu điện thuận tiện khiến cho xa - gần nghe lầm hư danh, thường gửi thư đến hỏi mãi. Nếu nhất loạt chẳng phúc đáp, cũng cảm thấy phụ lòng người hỏi đến. Nếu phúc đáp từng thư một, thật chẳng có tinh thần làm như vậy. Vì thế, cho in bức thư dài này, phàm những gì liên quan đến chuyện tu trì và đạo lập thân, xử thế, thờ cha mẹ, dạy con, đều nói đại lược. Sau này có ai gửi thư đến, dùng thư này gửi lại. Nếu có một hai chuyện chi đặc biệt liền phê vào thư gửi đến mấy chữ để đôi bên thấu hiểu tình nhau, chẳng đến nỗi nhọc nhằn quá đáng. Nếu muốn thông hiểu sâu xa kinh giáo, xin hãy thỉnh giáo nơi những bậc pháp sư thông hiểu sâu xa dựng cao tràng pháp. Nên biết rằng: Người thông hiểu sâu xa kinh giáo, chưa chắc đã liễu sinh tử ngayt rong đời này. Nếu muốn liễu sinh tử ngay trong đời này, hãy nên chú trọng nơi tín nguyện niệm Phật cầu sinh Tây Phương.


Chú thích:
1. Tông: Tông ở đây là ý nghĩa chủ yếu của một bộ kinh, hay chủ trương, giáo nghĩa chính yếu được xiển dương bởi một bộ kinh. Hiểu theo nghĩa rộng, Tông là giáo nghĩa căn bản, chủ đạo của một pháp môn. Theo Thiên Thai Tông, Tông chính là nội dung nhất quán của một bộ kinh hay một pháp môn.
2. Khoá trình: Thời gian tu tập nhất định trong một ngày, thường dùng để chỉ một thời gian tụng kinh, niệm Phật hay toạ thiền.
3. Đồng nhân: Những người có cùng căn cơ với ta.
4. Đây là một quan điểm mê tín của người dân Trung Hoa thời xưa. Họ tin rằng khi sinh làm người, ai nấy đều bị thiếu nợ một khoản tiền dưới âm phủ, nếu không đốt tiền giấy van vái trả nợ dần dần sẽ bị tổn phúc giảm thọ, gặp nhiều tai nạn, ác mộng, ba hồn bảy vách bị suy bại neê chết yểu. Khoản tiền giấy vàng bạc đốt để trả nợ gọi là Hoàn Thọ Sinh. “Gửi kho” là đốt tiền giấy, vàng bạc, để tích trữ sắn dưới âm ty như một hình thức gửi tièn tiết kiệm để dùng sau khi chết !!!
5. Đây là các kinh nguỵ tạo.
6. Phá địa ngục, phá huyết hồ: Là những lễ lạc do tà sư Trung Hoa bày ra. Họ làm những mô hình địa ngục, hồ máu bằng giấu, rồi tăng chúng đọc kinh, vẽ bùa, chạy quanh đàn trang, hô hoán điều động quỷ thần, dùng tích trượng đục thủng địa ngục, hồ máu, cho rằng làm như thế sẽ cứu được vong linh ra khỏi địa ngục.
7. Sức Chung Tân Lương: Là một tác phẩm do ông Lý Viên Tịnh soạn với nội dung hướng dẫn cách thức chuẩn bị cho thời khắc lâm chung và phương pháp trợ niệm nhằm đảm bảo người tu Tịnh Nghiệp lúc lâm chung không bị phá hoại Chính niệm. Sách này gồm 4 phần:
- Sức Chung Chương Trình: Người tu Tịnh độ phải dặn dò gia đình, bạn bè cách xử trí như thế nào khi người ấu lâm chung, cách thực trợ niệm, an táng sao cho người chết giữ chính niệm.
- Sức Chung Ngôn Luận: Tập hợp những lời dạy về chuẩn bị lâm chung của các Cổ Đức.
- Dự Tri Lợi Hại: Những phân tích về lẽ lợi hại khi lâm chung như: không nên khóc lóc, sát sinh, khôg nên bày vẽ phô trương như buộc người chết ngồi xếp bằng, thay áo, tắm rửa, .. trong khi người sắp chết còn đang thở hắt ra.

(Giới Minh sao chép từ lá thư thứ 1 trong quyển thượng của bộ Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tục Biên)

Quảng Định
24-06-2010, 10:18
6. Phá địa ngục, phá huyết hồ: Là những lễ lạc do tà sư Trung Hoa bày ra. Họ làm những mô hình địa ngục, hồ máu bằng giấu, rồi tăng chúng đọc kinh, vẽ bùa, chạy quanh đàn trang, hô hoán điều động quỷ thần, dùng tích trượng đục thủng địa ngục, hồ máu, cho rằng làm như thế sẽ cứu được vong linh ra khỏi địa ngục.

***cám ơn N.Đ đúng nh­ư vậy bạn ạ '' cái gọi là Phá cửa Địa Ngục '' hoàn toàn là mê tín nặng hay còn gọi là '' cuồng tín '' chúng sanh ở cõi ta bà này mà cứ thi nhau làm ác hoành hành bạo ngược khi..chết đi rồi ,mà chỉ tốn có ít tiền mời thầy về lập đàn '' phá cửa địa ngục '' là '' ok '' ư..nếu được như vậy chúng ta và hết thảy mọi người khỏi tốn công tu hành nữa...mà Đức Địa Tạng Vương..nên giảy nghệ ..phải không...
Chúng ta là người tu hành nên phải biết dùng '' nhãn '' và '' quán xét '' không nên mê tín..cuồng tín rồi đi lạc đường